Nghiên cứu đặc điểm tư duy của trẻ em
từ 3 đến 6 tuổi
Trần Hà Thu
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Tâm lý học
Chuyên ngành: Tâm lý học ; Mã số: 60 31 80
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trương Thị Khánh Hà
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Xây dựng các khái niệm cơ bản liên quan như: tư duy, đặc điểm tư duy, đặc
điểm tư duy của trẻ em từ 3 đến 6 tuổi. Tìm hiểu thực trạng đặc điểm tư duy của trẻ em từ
3 đến 6 tuổi và các yếu tố ảnh hưởng. Đề xuất những kiến nghị giúp cha mẹ và các cô
dạy trẻ có phương pháp phát triển tư duy cho trẻ tốt hơn.
Keywords. Tâm lý học; Tư duy; Tâm lý học trẻ em
Content.
MỞ ĐẦU Trong quá trình phát triển của trẻ em, giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi đóng một vai trò quan
trọng. Đối với trẻ em ở giai đoạn đầu tiên của cuộc đời (0 đến 6 tuổi), các hiện tượng tâm
lý luôn cần được quan tâm phát triển vì nó là cơ sở ban đầu cho sự hình thành và phát
triển các hiện tượng tâm lý ở những giai đoạn lứa tuổi tiếp theo. Điều gì là khởi đầu thì sẽ
là nền tảng hết sức quan trọng cho tương lai. Khoa học cũng đã khẳng định rằng: những
cơ cấu và cơ chế quan trọng nhất của tâm trí con người được hình thành trong 5, 6 năm
đầu của cuộc đời. Với ý nghĩa quan trọng như vậy của giai đoạn lứa tuổi 0 đến 6 tuổi,
chúng ta cần quan tâm thích đáng hơn nữa tới trẻ em lứa tuổi này. Tạo điều kiện cho trẻ
mầm non phát triển chính là góp phần đặt nền móng vững chắc cho công cuộc “trồng
người” của toàn xã hội.
90 trẻ em từ 3 đến 6 tuổi trong đó: 30 em 3 - 4 tuổi; 30 em 4 - 5 tuổi; 30 em 5 - 6 tuổi;
90 cha mẹ của những trẻ tham gia nghiên cứu; 6 cô giáo mầm non của các em.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Mức độ phát triển các loại tư duy (tư duy trực quan - hành động, tư duy
trực quan - hình tượng) của trẻ mẫu giáo từ 3 đến 6 tuổi và một số yếu tố ảnh
hưởng.
- Địa điểm: trường mầm non công lập Hoa Sữa, quận Đống Đa và trường mẫu giáo
tư thục Khánh Ly, quận Đống Đa, Hà Nội.
- Thời gian: từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Nhìn chung, tư duy của trẻ em các trường mầm non phát triển phù hợp với lứa tuổi.
Tuy nhiên, mức độ phát triển các loại tư duy ở một số trẻ còn thấp. Một trong những
nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do người lớn chưa biết cách và chưa quan tâm
phát triển tư duy của trẻ một cách khoa học.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu
sau:
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
5.2. Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt động
5.3. Phương pháp quan sát
5.4. Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
5.5. Phương pháp phỏng vấn sâu
5.6. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Một số hƣớng tiếp cận vấn đề tƣ duy trong tâm lý học
1.1.1.1. Tiếp cận hành vi
thực chất đó là việc chuyển những hành động định hướng bên ngoài thành những
hành động định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm. Mặc dù tư duy của trẻ mẫu
giáo bước sang một giai đoạn phát triển mới, nhưng đó mới chỉ là một bước nhảy từ
bờ bên này (là tư duy ở bình diện bên ngoài, tư duy trực quan - hành động) sang bờ
bên kia (là tư duy trực quan – hình tượng). Đây mới chỉ là điểm khởi đầu của loại
hình tư duy mới. Loại hình tư duy này còn được hoàn thiện và phát triển suốt giai
đoạn tuổi mẫu giáo và là tiền đề quan trọng cho tư duy ngôn ngữ phát triển [35].
1.2.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển tƣ duy của trẻ em từ 3 đến 6 tuổi
1.2.4.1. Di truyền
1.2.4.2. Giáo dục
1.2.4.3. Tính tích cực hoạt động của trẻ
Chƣơng 2
TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vài nét về quá trình tổ chức thực hiện và khách thể nghiên cứu:
2.1.1. Tiến trình thực hiện
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 12
năm 2011
2.1.2. Vài nét về khách thể nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi điều tra trên khách thể chính là trẻ em từ 3
đến 6 tuổi bao gồm:
- 45 em ở trường mẫu giáo tư thục Khánh Ly, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội bao
gồm 03 lớp: mẫu giáo bé, mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn. Mỗi lớp 15 em.
- 45 em ở trường mẫu giáo công lập Hoa Sữa, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội bao
gồm 03 lớp: mẫu giáo bé, mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn. Mỗi lớp 15 em.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
trẻ: “Cái que nào dài hơn?”. Trẻ trả lời: “Hai que bằng nhau ạ”. Sau đó di chuyển một cái
que lên phía trên rồi hỏi trẻ: “Bây giờ thì que nào dài hơn?” 2.2.2.2. Phân tích kết quả thực hiện các bài tập tư duy trực quan – hành động
Chúng tôi đã sử dụng 03 bài tập tư duy trực quan – hành động sau để tìm hiểu về mức
độ phát triển loại tư duy này ở trẻ mẫu giáo (Dẫn theo tài liệu của Marsinkovxkaia T.Đ.,
Chẩn đoán sự phát triển tâm lý trẻ em, NXB Linka – Press, Matxcơva, 1998).
- Bài 1: Cho các em xem 2 hình vẽ sau. Một hình có các đoạn thẳng nối các hình tam
giác với nhau. Một hình không có các đoạn thẳng đó. Các em hãy quan sát hình vẽ
bên tay trái – hình có các đoạn thẳng và sau đó vẽ lại y hệt các đoạn thẳng đó sang
hình bên tay phải. Thời gian làm bài là 2 phút.
13 - 20 đoạn ngắn hoặc dài quá đường kẻ mẫu:
- Bài 3: Trong bức hình này, ở phía dưới có các hình vuông đã được kẻ và tô mầu rất
đẹp còn những hình ở phía trên thì không có gì. Các em hãy quan sát các hình đã
được tô mầu sau đó vẽ và tô màu cho các hình ở trên giống y hệt những hình ở phía
dưới. Thời gian làm bài là 5 phút.
=> Cách tính kết quả:
+ 3 điểm khi: vẽ và tô màu hoàn chỉnh 5 – 6 hình, không tô chờm ra ngoài quá
1mm.
+ 2 điểm khi: vẽ được 2 – 4 hình, có thể tô không kín hết hình, nhiều khoảng
trắng, không tô chờm ra ngoài quá 2mm.
+ 1 điểm khi: không vẽ và tô được 1 hình, tô chờm ra ngoài 3mm
2.2.2.3. Phân tích kết quả thực hiện các bài tập tư duy trực quan – hình tượng
Chúng tôi sử dụng 4 nhóm bài tư duy trực quan – hình tượng sau: phân loại, tương tự,
sắp xếp và khái quát hóa. Mỗi nhóm bài gồm 3 bài. Thời gian làm mỗi bài là 1 phút.
Cách đánh giá kết quả các bài tập tư duy trực quan – hình tượng được chia làm 3 mức
sau:
+ Trả lời đúng và giải thích đúng: 3 điểm
+ Trả lời đúng nhưng giải thích sai hoặc không giải thích được: 2 điểm
+ Trả lời sai: 1 điểm
a. Nhóm bài tập phân loại: Có 6 bức hình, trong đó có 1 bức tranh có đặc
điểm/chủ đề khác với những bức tranh còn lại. Các em hãy chỉ ra bức tranh
đó và giải thích bức tranh đó khác ở điểm nào.
- Bài tập phân loại 1: - Bài tập phân loại 2: - Bài tập phân loại 3 - Hình 3
8 hình cho sẵn:
c. Nhóm bài sắp xếp theo trình tự đúng: mỗi bài gồm có 3 hoặc 4 bức tranh
miêu tả các hành động của một sự kiện nào đó. Các em hãy sắp xếp lại các
bức tranh theo trình tự đúng.
Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu thực trạng nhận thực, sự quan
tâm và phương pháp phát triển tư duy cho trẻ em của các bậc phụ huynh. (phụ lục đính
kèm).
Chúng tôi đưa ra câu hỏi 3 mức độ và cách mã hóa chúng như sau:
- Thường xuyên: 3 điểm
Thỉnh thoảng: 2 điểm
Không bao giờ: 1 điểm
- Cần thiết: 3 điểm
Khá cần thiết: 2 điểm
Không cần thiết: 1 điểm
- Không đúng: 3 điểm
Đúng một phần: 2 điểm
Đúng: 1 điểm
Thứ tự ưu tiên cao nhất là 3, sau đó là 2 và 1. Trên cơ sở đó, chúng tôi chia ra các
mức độ sau :
- Mức 1: ĐTB từ 1 đến 1,66: nhận thức và vận dụng ở mức thấp
- Mức 2: ĐTB từ 1,67 đến 2,33: nhận thức và vận dụng ở mức khá
- Mức 3: ĐTB từ 2,34 đến 3: nhận thức và vận dụng ở mức cao
2.2.5. Phương pháp phỏng vấn sâu
2.2.6. Phương pháp thống kê toán học
CHƢƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Khả năng bảo toàn và xếp hạng của trẻ mẫu giáo
Từ kết quả giải các bài tập của Piaget, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
- 100% trẻ em tham gia làm bài tập chưa nắm được nguyên tắc bảo toàn khối lượng, số
lượng, độ dài. Các em trả lời một cách cảm tính, dựa vào các đặc điểm bên ngoài của sự
vật hiện tượng: chiều cao của mực nước, bề rộng của khối đất sét, độ dài của dãy hạt…
Trong tư duy của các em chưa hình thành rõ thao tác đảo ngược (đảo ngược hành động
đã diễn ra trong đầu óc để sự vật, hiện tượng trở lại vị trí ban đầu).
- 13,3% trẻ mẫu giáo nhỡ và 26,7% trẻ mẫu giáo lớn có khả năng xếp đúng thứ tự các
Chúng tôi đã đưa ra câu hỏi tìm hiểu phần nào về cách dạy dỗ con của các bậc
phụ huynh. Nhìn chung, các bậc cha mẹ có hiểu biết về cách ứng xử, dạy bảo con cái,
trong đó hành động được cha mẹ thực hiện thường xuyên nhất là cho trẻ ăn uống đủ chất;
tiếp đó là giải đáp các câu hỏi của trẻ. Những hành vi sau được cha mẹ thực hiện ở mức
độ ngang nhau, đó là: cho trẻ chơi các trò chơi xếp hình, lắp ghép, hướng dẫn trẻ đạp xe
đạp, chơi đá bóng, khen ngợi khi trẻ làm đúng, hướng dẫn khi trẻ làm sai.
Hành vi ít được cha me thực hiện thường xuyên nhất là tạo không gian an toàn cho
trẻ thỏa thích chạy nhảy, nô đùa. Tiếp đó là hướng dẫn trẻ làm những công việc nhà vừa
sức và cho trẻ ra ngoài đi chơi ở nhiều nơi.
3.3.2. Mối quan hệ giữa hành vi giáo dục của cha mẹ và kết quả thực hiện các bài
tập tƣ duy của trẻ
Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan giữa kết quả bài tập và cách dạy
dỗ của cha mẹ. Những trẻ điểm cao đa phần đều được cha mẹ thường xuyên quan tâm,
hướng dẫn các cách thức để phát triển năng lực vận động, tư duy và ngôn ngữ. Ngược lại,
ở nhóm trẻ kém, đa số phụ huynh thỉnh thoảng mới trao đổi, trò chuyện với trẻ, tổ chức
các hoạt động vận động cho trẻ, thậm chí là chưa bao giờ tổ chức.
Tóm lại, một lần nữa khẳng định rằng con đường chủ đạo để trẻ em có thể phát
triển nhận thức nói chung và tư duy nói riêng chính là con đường giáo dục. Cách thức,
mức độ thực hiện các hành vi giáo dục của cha mẹ chắc chắn có ảnh hưởng không nhỏ
đến đặc điểm tư duy của trẻ. Cụ thể trong nghiên cứu này, chúng tôi thấy cha mẹ chưa
chú ý phát triển khả năng vận động và thao tác với đồ vật ở trẻ, chưa hiểu rõ đây là cơ sở
cho sự phát triển tư duy của trẻ.
3.4. Phân tích một số chân dung tâm lý
Nguyễn Khánh L. – sinh ngày 02/09/2005, là trẻ mẫu giáo lớn có kết quả làm bài
xếp loại cao (ĐTB = 3).
Nguyễn Lê Việt A – sinh ngày 12/09/2005, là trẻ mẫu giáo lớn có kết quả làm bài
xếp loại thấp (ĐTB = 1).
Trần Ngọc D – sinh ngày 02/05/2006, là trẻ mẫu giáo nhỡ có kết quả làm bài xếp
loại cao (ĐTB = 3).
Tống Thành C– sinh ngày 18/07/2006, là trẻ mẫu giáo nhỡ có kết quả làm bài xếp
chuyện, trò chuyện, vui đùa với trẻ, chỉ và giải thích cho trẻ những sự vật, hiện
tượng trong cuộc sống, cho trẻ ra ngoài đi chơi nhiều nơi để khám phá môi trường
xung quanh…
Như vậy, kết quả nghiên cứu có phần khác với giả thuyết ban đầu đưa ra.
Giả thuyết cho rằng đa số tư duy của trẻ mẫu giáo phát triển phù hợp với lứa tuổi,
chỉ có một số trẻ còn chậm phát triển. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho thấy sự
phát triển tư duy của trẻ chưa hoàn toàn phù hợp với độ tuổi. Đáng lẽ ở lứa tuổi
này, các em phải phát triển tốt khả năng tư duy trực quan – hành động, tuy nhiên
trình độ tư duy này của các em chỉ ở mức thấp. Điều này cần được các bậc cha mẹ
và các cô giáo quan tâm. Vì tư duy trực quan hành động là cơ sở cho sự phát triển
bền vững các loại tư duy phức tạp hơn sau này.
2. Kiến nghị
Với gia đình
- Cha mẹ cần tích cực, chủ động tìm hiểu những kiến thức, kỹ năng giáo dục nâng
cao trình độ tư duy của trẻ.
- Cha mẹ cần chủ động trong việc giáo dục rèn luyện tư duy cho trẻ, không nên chỉ
trông chờ vào sự giáo dục của nhà trường.
- Thường xuyên cho trẻ hành động trực tiếp với những đồ chơi, đồ vật an toàn khác
nhau như: đồ chơi xếp hình, lắp ghép, đồ chơi tạo hình: (vẽ, nặn, cắt, dán)…,
hướng dẫn trẻ cách sử dụng những đồ dùng đơn giản trong gia đình.
- Thường xuyên cho trẻ tham gia vận động: chơi trò chơi vận động như đá bóng, đi
xe đạp, ném bóng….khuyến khích trẻ chạy nhảy, vui đùa hợp lý, hướng dẫn trẻ
làm một số việc nhà vừa sức với mình.
- Thường xuyên hướng dẫn trẻ xem những tranh ảnh sinh động, phù hợp, tích cực
kể chuyện, đọc sách cho trẻ nghe. Cha mẹ nên dành nhiều thời gian để vui chơi,
trò chuyện, đưa trẻ đi chơi, giải đáp các câu hỏi, thắc mắc của trẻ.
Với nhà trƣờng
- Xây dựng nội dung và phương pháp dạy học phù hợp.
- Giáo viên trong nhà trường đều phải là những người có kiến thức, kỹ năng trong
giáo dục mầm non.
14. Lê Thị Hân (1996), Về lý thuyết thao tác của J. Piaget, Tạp chí Tâm lý học, số
2/1996, Hà Nội
15. Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng. Tâm lý học lứa tuổi và
tâm lý học sư phạm (2001), Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội.
16. Jean Piaget, Barbel Inhelder, Vĩnh Bang (2000), Tâm lý học trẻ em và ứng dụng
Tâm lý học Piaget vào trường học, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội.
17. Jean Piaget (1998), Tâm lý học trí khôn, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
18. Jean Piaget (1990), Tâm lý học và giáo dục học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
19. Trần Trung Kiên (2005), Tìm hiểu khả năng vận dụng các thao tác tư duy trong quá
trình giải các bài tập hóa học của học sinh lớp 11 trường THPT Phạm Hồng Thái, Hà
Tây, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội.
20. Leonchiev.A.N (1989), Hoạt động, ý thức, nhân cách, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
21. Lômôv B.P (2000), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận trong tâm lý học,
Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội.
22. L.X.Vưgôtxki (1997), Tuyển tập tâm lý học, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội.
23. Trần Thành Nam (2005), Về nguyên tắc L.X.Vưgốtxki trong học thuyết các giai
đoạn phát triển trí tuệ trẻ em của Jean Piaget, Tạp chí Tâm lý học, số 9/2005, Hà
Nội.
24. Vũ Thị Nho (2003), Tâm lý học phát triển, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội.
25. Nhóm Văn Việt Book (2005), 101 cách bồi dưỡng trí tuệ cho trẻ, Nxb Phụ nữ, Hà
Nội.
26. Hoàng Phê (1998), Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng.
27. Huỳnh Văn Sơn (2002), Bàn về việc chọn lựa trắc nghiệm trí tuệ cho trẻ mẫu giáo 5
– 6 tuổi, Tạp chí Tâm lý học, số 1/2002, Hà Nội.
28. Lý Hải Tân (2009), Phát triển tư duy cho trẻ, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.
29. Đào Thanh Tâm (chủ biên), Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vong (2004),
Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
30. Hồ Bá Thâm (1994), Bàn về năng lực tư duy, Tạp chí Triết học, số 2/1994, Hà Nội.
31. Nguyễn Bích Thủy, Nguyễn Anh Thư (2007), Giáo trình Tâm lý học trẻ em lứa tuổi
mầm non: từ lọt lòng đến 6 tuổi, Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội.
www.tamlyhoc.net
www.diendankienthuc.net
www.tailieu.vn