1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN HÀ THU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TƯ DUY CỦA TRẺ EM
TỪ 3 ĐẾN 6 TUỔI LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tâm lý học
Hà Nội-2012
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
4.3. Phạm vi nghiên cứu 5
5. Giả thuyết nghiên cứu 5
6. Phương pháp nghiên cứu 5
6.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu 5
6.2. Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt động 5
6.3. Phương pháp quan sát 5
6.4. Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi 6
6.5. Phương pháp phỏng vấn sâu 6
6.6. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học 6
CHƯƠNG I 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7
1.1.1. Một số hướng tiếp cận vấn đề tư duy trong tâm lý học 7
109
1.1.1.1. Tiếp cận hành vi 7
1.1.1.2. Tiếp cận hình thái (Gestalt) 7
1.1.1.3. Tiếp cận phát sinh nhận thức 8
1.1.1.4. Tiếp cận hoạt động 9
1.1.2.Những nghiên cứu về đặc điểm tư duy của trẻ em ở nước ngoài…
11
113.Những nghiên cứu về đặc điểm tư duy của trẻ em ở Việt Nam 20
1.2. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 23
1.2.1. Khái niệm tư duy 23
1.2.2. Tư duy của trẻ mẫu giáo 24
1.2.3. Đặc điểm tư duy của trẻ tuổi mẫu giáo 27
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy của trẻ em
mẫu giáo 38
1.2.4.1. Di truyền 38
1.2.4.2. Giáo dục 39
78
3.4. Mối quan hệ giữa cách dạy của cha mẹ với kết quả các bài tập tư
duy của trẻ 87
3.6. Phân tích một số chân dung tâm lý 93
111
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
1. Kết luận 98
1.1. Về lí luận 98
1.2. Về thực tiễn 98
2. Kiến nghị 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC………………………………………………………………….116
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngay từ những ngày đầu lập nước, Bác Hồ đã dành sự quan tâm đặc biệt
cho các cháu thiếu niên, nhi đồng vì đó chính là tương lai của đất nước. Trong
lá thư gửi học sinh nhân ngày khai trường năm 1945, Bác viết: “…Non sông
Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang
sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một
phần lớn ở công học tập của các cháu…”. Bác cũng đã căn dặn toàn thể nhân
dân ta: “Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người”.
Đối với đất nước Việt Nam ngày nay, trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu
hóa, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đó có vai trò vô cùng quan trọng. Những
người chủ tương lai của đất nước chính là trẻ em của chúng ta hôm nay.
Trong quá trình phát triển của trẻ em, giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi đóng một
vai trò quan trọng. Đối với trẻ em ở giai đoạn đầu tiên của cuộc đời (0 đến 6
tuổi), các hiện tượng tâm lý luôn cần được quan tâm phát triển vì nó là cơ sở
điểm tư duy của trẻ em từ 3 đến 6 tuổi.
3.2. Thực tiễn
- Tìm hiểu thực trạng đặc điểm tư duy của trẻ em từ 3 đến 6 tuổi và các
yếu tố ảnh hưởng.
- Đề xuất những kiến nghị giúp cha mẹ và các cô dạy trẻ có phương
pháp phát triển tư duy cho trẻ tốt hơn.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm một số loại hình tư duy của trẻ mẫu giáo từ 3 đến 6 tuổi (tư
duy trực quan - hành động, tư duy trực quan - hình tượng).
4.2. Khách thể nghiên cứu
5
90 trẻ em từ 3 đến 6 tuổi trong đó: 30 em 3 - 4 tuổi; 30 em 4 - 5 tuổi; 30
em 5 - 6 tuổi; 90 cha mẹ của những trẻ tham gia nghiên cứu; 6 cô giáo mầm
non của các em.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Mức độ phát triển các loại tư duy (tư duy trực quan - hành
động, tư duy trực quan - hình tượng) của trẻ mẫu giáo từ 3 đến 6 tuổi và
một số yếu tố ảnh hưởng.
- Địa điểm: trường mầm non công lập Hoa Sữa, quận Đống Đa và trường
mẫu giáo tư thục Khánh Ly, quận Đống Đa, Hà Nội.
- Thời gian: từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Nhìn chung, tư duy của trẻ em các trường mầm non phát triển phù hợp với
lứa tuổi. Tuy nhiên, mức độ phát triển các loại tư duy ở một số trẻ còn thấp.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do người lớn chưa
biết cách và chưa quan tâm phát triển tư duy của trẻ một cách khoa học.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng hệ thống các phương pháp
7
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Một số hướng tiếp cận vấn đề tư duy trong tâm lý học
1.1.1.1. Tiếp cận hành vi
Các nhà tâm lý học hành vi đề cao vai trò của kích thích bên ngoài
trong việc tạo ra các phản ứng. Hành vi trí tuệ ở cả người và động vật là các
phản ứng có hiệu quả mà chủ thể học được nhằm đáp lại các kích thích từ môi
trường bên ngoài. Vì vậy, nghiên cứu và điều khiển việc hình thành hành vi
trí tuệ cho cả người và động vật được quy về việc nghiên cứu tạo ra môi
trường kích thích cho phép hình thành các phản ứng mong muốn, tức là quá
trình “điều kiện hóa hành vi”. Vấn đề học tập và kỹ xảo đạt được là trung tâm
của tâm lý học hành vi. Theo các nhà tâm lý học hành vi, tư duy giống như kỹ
xảo, nó được hình thành theo cơ chế phản xạ và luyện tập.
1.1.1.2. Tiếp cận hình thái (Gestalt)
Gestlat có nghĩa là cấu trúc, tổ chức, hình thể hay hình thái. Trong tâm
lý học, hướng tiếp cận hình thái của trường phái Berlin xuất hiện vào thập
niên đầu của thế kỷ XX mà đại biểu là các nhà tâm lý học Đức nổi tiếng W.
Kohlor (1887 - 1970), K. Koffka (1886 – 1941), M. Wertheimer (1880 –
Trong suốt hơn nửa thế kỷ, J.Piaget (1896 – 1980) và các cộng sự đã
kiên trì hướng tiếp cận có ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển của tâm lý
học thế kỷ XX: tiếp cận phát sinh nhận thức, phát triển trí tuệ trẻ em. Học
thuyết của J.Piaget về sự phát triển trí tuệ của trẻ có hai nội dung gắn bó với
nhau: học thuyết về cấu trúc, chức năng và sự phát sinh (Tâm lý học phát
sinh) và học thuyết về các giai đoạn phát triển trí tuệ ở trẻ em (Tâm lý học lứa
tuổi).
9
Lý luận phát triển của Piaget hàm chứa một lý luận học tập tiềm ẩn dù
vẫn mang màu sắc sinh học. Nói khác đi, tính phát sinh không tách rời khỏi
lịch sử là như vậy. Do tính khoa học và giá trị thực tiễn to lớn của lý thuyết
phát sinh trí tuệ nên chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn ở phần sau.
1.1.1.4. Tiếp cận hoạt động
Tiếp cận hoạt động là cuộc cách mạng thực sự trong tâm lý học nói
chung và trong nghiên cứu sự hình thành và phát triển tư duy cá nhân nói
riêng. Đại biểu của hướng tiếp cận này là nhà tâm lý học kiệt xuất
L.X.Vưgôtxki và các nhà tâm lý học khác như: A.N.Leônchiev,
X.L.Rubinstein Hướng tiếp cận hoạt động có cùng mục tiêu với các hướng
tiếp cận hành vi, hình thái và phát sinh là xây dựng nền tâm lý học khách
quan. Nhưng nếu cách tiếp cận hành vi chỉ nghiên cứu hành vi và loại bỏ ý
thức của chủ thể thì cách tiếp cận hoạt động ngay từ đầu đã đưa ý thức trở
thành đối tượng nghiên cứu của mình. Tất nhiên, việc nghiên cứu này không
thể diễn ra theo cách thức của tâm lý học nội quan mà phải theo phương pháp
khách quan. Đó thực sự là vấn đề nan giải. Hướng tiếp cận hoạt động đã khắc
phục tình trạng này bằng cách khai thác triệt để thành tựu của triết học duy
vật biện chứng và lịch sử, lấy triết học làm nền tảng phương pháp luận cho
việc nghiên cứu tâm lý con người. Luận điểm cơ bản là: con người là ra chính
bản thân mình bằng lao động và hoạt động xã hội. Toàn bộ đời sống tâm lý, ý
thức của con người là sự phản ánh thực tiễn đời sống vật chất của nó. Tâm lý,
trẻ em với thế giới đồ vật bao giờ cũng phải trực tiếp hoặc gián tiếp
thông qua người lớn, lấy người lớn làm trung gian. Có thể nói trí tuệ
của trẻ em là sản phẩm của hoạt động và sự hợp tác của nó với người
lớn.
11
- Chức năng của dạy học là phát triển nên dạy học phải đi trước sự phát
triển. Tức là dạy học không hướng vào trình độ phát triển hiện thời mà
phải tác động vào vùng phát triển gần nhất trong trí tuệ học sinh [10].
Hướng tiếp cận hoạt động nhìn chung có hướng nhấn mạnh tới khía cạnh
lĩnh hội với tư cách là sự tái tạo những kinh nghiệm của xã hội, chuyển biến
chúng thành của riêng cá nhân. Vì vậy, cần xác định đúng giới hạn của việc
tái tạo, sự lặp lại để trách coi nhẹ yếu tố sáng tạo trong hoạt động trí tuệ của
trẻ em.
1.1.2. Những nghiên cứu về đặc điểm tư duy của trẻ em ở nước ngoài
Trong tâm lý học, trẻ em luôn là đối tượng trung tâm để nghiên cứu các
vấn đề đặc trưng về tâm lý học. Hoạt động tư duy là một trong những vấn đề
đó. Vậy tư duy của trẻ em nảy sinh, hình thành và phát triển ra sao? Các công
trình nghiên cứu về tư duy trẻ em của các nhà khoa học trên thế giới đã có
nhiều câu trả lời khác nhau.
Jean Piaget (1896 – 1980), là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Thụy Sĩ.
Những thành tựu nghiên cứu về sự phát sinh, phát triển trí tuệ của trẻ em mà
ông phát hiện ra là một trong những đóng góp lớn nhất cho sự phát triển tâm
lý học thế kỷ XX. Mối quan tâm lớn nhất của Piaget là cấu trúc trí tuệ và quá
trình phát sinh phát triển trí tuệ của trẻ em như thế nào? Theo ông, trí tuệ của
cá nhân phát triển từ thấp đến cao được tuân theo trật tự chặt chẽ. Đây không
phải là trật tự thời gian mà là trật tự kế tiếp, mọi cá nhân phát triển bình
thường đều phải tuân theo trật tự đó. Đồng thời quá trình phát triển này theo
hai quy luật: tăng trưởng liên tục, từng tí một và phát triển nhảy vọt. Chính sự
nhảy vọt cho ta khái niệm giai đoạn. Piaget cho rằng mỗi lứa tuổi có đặc trưng
ghép các góc trước tiên. Người bố chỉ vào màu hồng của mảnh ở góc và đề
nghị: “Chúng ta cùng tìm mảnh có màu giống thế này nữa nhé”. Khi Hoa lúng
13
túng, không biết tiếp tục thế nào, bố bé đặt 2 mảnh cạnh nhau để bé nhận ra
chúng, khi Hoa làm được, bố khen ngợi, động viên bé. Khi Hoa từng bước
nắm được cách chơi, bố bé đứng lên và để bé tự chơi một mình [9].
GS.TS. Phạm Minh Hạc đã nói J.Piaget và L.X.Vưgôtxki là hai trụ cột
chính, hai người có nhiều đóng góp trên lĩnh vực tâm lý học phát triển – một
trong những thành tựu lớn nhất của tâm lý học thế kỷ 20 [12].
L.X.Vưgôtxki nhận xét: “Các công trình nghiên cứu của Piaget là cả một
thời đại trong sự phát triển học thuyết ngôn ngữ và tư duy trẻ em, học thuyết
về logic và cách nhìn thế giới của trẻ em”. Công lao của nhà tâm lý học, giáo
dục học J.Piaget còn được nhắc đến nhiều trong thế kỷ 21.
Ngoài ra chúng ta còn phải kể đến các tác giả nổi tiếng khác:
Henri Wallon (1879 – 1962), nhà tâm lý học Pháp đã phân tích sâu sắc
mối quan hệ giữa tư duy, hành động và điều kiện xung quanh, thể hiện rõ nhất
là ở trẻ nhỏ. Ông nghiên cứu quá trình chuyển hóa hành động bên ngoài thành
hành động bên trong và bản chất xã hội vốn có từ đầu trong tư duy của trẻ em.
Từ đó H.Wallon đánh giá cao vai trò của dạy học và sự luyện tập, phân tích
sự thay đổi về nội dung và phương pháp tư duy của trẻ em dưới ảnh hưởng
của dạy học và luyện tập.
J.S.Bruner, nhà tâm lý học Mỹ chuyên nghiên cứu về tâm lý học trẻ em và
các quá trình nhận thức đã phân tích các mức độ khác nhau của hoạt động
nhận thức, từ tri giác đến tư duy khái niệm. Ở trẻ nhỏ, sản phẩm của quá trình
tư duy chính là các biểu tượng, hình ảnh nhưng ở các mức độ khác nhau. Sự
phát triển của các biểu tượng là một trong những chỉ số của sự phát triển trí
tuệ nói chung và sự phát triển tư duy nói riêng.
P.Osterrieth, nhà tâm lý học Đức cho rằng, từ 3 đến 6 tuổi trẻ có thể suy
nghĩ về những cái nó đang cảm thấy. Bản chất tư duy ở độ tuổi này là “Tư
15
trường tốt, được khuyến khích, động viên và giáo dục đúng phương pháp. Với
bộ công cụ sơ đồ tư duy hay còn gọi là sơ đồ trí não, Buzan hướng dẫn chúng
ta học phương pháp học, học cách xử lý thông tin, và học tư duy có phương
pháp để rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy, từ đó khai phá năng lực tiềm
ẩn vô cùng to lớn của bộ não tạo nên sự đột phá trong học tập và công tác.
Như vậy, hành trình khám phá trí thông minh đã phát triển từ trí thông
minh thiên bẩm - cái bên trong, đến khả năng học từ môi trường bên ngoài
của nó. Và chiếc cầu nối chính là học và đào tạo đúng phương pháp.
Giáo sư tâm lý Howard Gardner của trường đại học Havard công bố thuyết
“trí thông minh đa đạng” (1987). Theo đó, trí thông minh của con người có
tám dạng như sau:
a. Trí thông minh ngôn ngữ
b. Trí thông minh logic – toán học
c. Trí thông minh về không gian
d. Trí thông minh về khả năng vận động thân thể.
e. Trí thông minh âm nhạc
f. Trí thông minh tương tác, giao tiếp với người khác
g. Trí thông minh nội tâm
h. Trí thông minh trong lĩnh vực tự nhiên
Từng loại trí thông minh trên sẽ phát huy tốt với các chương trình đào
tạo, huấn luyện tư duy phù hợp.
Một nhà khoa học khác, giáo sư Edward de Bono là bác sĩ và là nhà
tâm lý, tập trung vào tìm kiếm các phương pháp phát triển tư duy. Được mệnh
danh là cha đẻ của “Ngẫm về Tư duy” (Thinking on thinking), ông tạo ra
công cụ dẫn đường cho việc cải tiến doanh nghiệp, lãnh đạo chiến lược, sáng
tạo cá nhân và giải quyết vấn đề. Thông thái trong cả hai lĩnh vực y học và
tâm lý học, ông thiết kế những công cụ và phương pháp tư duy đơn giản, hiệu
16
hiện tượng tâm lý nào cũng được hình thành thông qua các giai đoạn như
Galperin mô tả. Nhưng đối với các hành động trí tuệ ở trẻ em lứa tuổi nhỏ (2
– 7 tuổi) nói chung và trẻ mẫu giáo (3 – 6 tuổi) nói riêng thì lý thuyết này vẫn
giữ nguyên giá trị của nó.Ý nghĩa của học thuyết Galperin là thao tác hóa cụ
thể quá trình hình thành hành động trí tuệ đến mức có thể thực nghiệm. Từ
những năm 50, nhất là những năm 60 trở đi, những công trình nghiên cứu
thực nghiệm theo tư tưởng cơ bản “chuyển vào trong” đã làm rõ thêm những
vấn đề lý luận và hình thành dần phương pháp giáo dục mới, đặc biệt trong
lĩnh vực phát triển trí tuệ của trẻ em [8].
Cần nói thêm rằng, từ lâu các nhà tâm lý học cũng đã tìm đến mối liên hệ
giữa hai hình thái hoạt động bên ngoài và bên trong. Cho đến những năm 20
của thế kỷ XX, Watson đã đưa ra giả thuyết về sự chuyển hóa của quá trình
bên ngoài thành quá trình bên trong: nói to – nói thầm – nói không có tiếng.
Cũng vào thời kỳ này J.Piaget tìm ra cơ chế chuyển từ giai đoạn “sờ mó, mầy
mò” thành “ý nghĩ”, nhờ đó cho phép thấy được vai trò của hành động trong
quá trình hình thành tư duy mà ông cho rằng chủ yếu là quá trình chuyển vào
trong. Sau đó ít lâu, J.Bruner cũng có tư tưởng tương tự. Quá trình “nội tâm
hóa” diễn ra theo 5 mức độ mà P.Ia Galperin đã đưa ra, nhưng ở trẻ đầu tuổi
mẫu giáo chỉ dừng ở quá trình định hướng và hành động vật chất [8].
A.V. Daparôgiet khẳng định tư duy của trẻ em mẫu giáo mang tính chất
hình tượng và cụ thể. Ông đã nhận xét về các bước hình thành thao tác trí tuệ
của trẻ mẫu giáo: “Lứa tuổi mẫu giáo không thể, không cần thiết phải thúc
đẩy quá trình nhận thức đạt đến giai đoạn cao nhất của quá trình “nhập tâm”,
làm sao sự nhập tâm đến từ từ vào “lời nói thầm” – tức là giai đoạn thao tác
với các hình ảnh và lan dần đến các thao tác trí tuệ bên trong.” [8].
Dựa vào quan điểm cơ bản về hoạt động trong tâm lý học Xô Viết,
L.A.Venger và các cộng sự của ông đã nghiên cứu quá trình phát triển trí tuệ
18
của trẻ lứa tuổi tiền học đường. Trong luận án tiến sỹ khoa học về chẩn đoán
từ những phép thử bên ngoài sang những “phép thử” thầm bên trong.
Điều này đòi hỏi trẻ phải có những kinh nghiệm, tri thức mới. Sự thu
thập thêm nhiều kinh nghiệm của trẻ, việc nhận thức thêm những thuộc
tính của sự vật tạo nên sự phong phú của các biểu tượng khái quát.
Những cái đó tạo ra hình thức tư duy mới, tư duy trực quan – hình
tượng.
- Tư duy ngôn ngữ - logic: các nhà Tâm lý học Xô Viết, bắt đầu từ P.P.
Blônxki đã chứng minh rằng, tính chất hình tượng cụ thể trong tư duy
của trẻ mẫu giáo tuyệt nhiên không loại trừ một số hình thức phán đoán
và kết luận vốn có ở trẻ 3 – 4 tuổi. Trẻ 5 tuổi đã có khả năng tách dấu
hiệu có ý nghĩa nhất đối với nó trong chức năng đối tượng. Chỉ đến tuổi
mẫu giáo lớn, trẻ mới học được cách tách biệt dấu hiệu bản chất của đối
tượng. Ở trẻ mẫu giáo cũng đã có các hình thức tư duy như phán đoán,
suy lý…Các em đoán trước được những sự việc sẽ xảy ra. Trẻ 3-5 tuổi
đã có khả năng suy lí quy nạp và diễn dịch. Tuy nhiên, trẻ còn thiếu
những tri thức cần thiết để thiết lập mối quan hệ bản chất có thực giữa
các điều kiện hay các mặt của một hiện tượng. Đồng thời, trẻ chưa có
khả năng tư duy liên tục, có hệ thống và logic.
Chúng tôi đưa ra các nghiên cứu về sự phát triển trí tuệ, tư duy của trẻ mẫu
giáo ở nước ngoài nhằm lấy đó làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu của
mình, đặc biệt là lý thuyết hoạt động và những công trình nghiên cứu về trí
tuệ trẻ em của J.Piaget.
20
1.1.3. Những nghiên cứu về đặc điểm tư duy của trẻ em ở Việt Nam
Vấn đề năng lực tư duy được nghiên cứu không chỉ ở trẻ mẫu giáo, mà
còn được tiến hành trên trẻ em các lứa tuổi lớn hơn, đặc biệt là ở trẻ em lứa
đến các công trình nghiên cứu tư duy trẻ em mẫu giáo.
Có thể nói, ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu riêng về
tư duy trẻ em mẫu giáo. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về trí tuệ trẻ em
của Hồ Ngọc Đại, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Khắc
Viện…đã đạt được nhiều kết quả đáng trân trọng. Thành tựu nghiên cứu về sự
phát triển trí tuệ trẻ em đầu tuổi học của Hồ Ngọc Đại đã chỉ ra chiến lược về
giáo dục trí tuệ. Cùng với đồng nghiệp của mình là Nguyễn Kế Hào và các
cộng sự ở Trung tâm Công nghệ giáo dục, ông đã thực hiện một số công trình
thực nghiệm dài hạn về chiến lược giáo dục mới với tư tưởng cơ bản là: người
lớn tổ chức trẻ em hoạt động để chiếm lĩnh nền văn hóa loài người [5].
Công trình nghiên cứu về trí thông minh của Phạm Hoàng Gia cho rằng
trí thông minh ở trẻ em, một sản phẩm tư duy được đặc trưng bởi tính chủ
động, linh hoạt, sáng tạo trong nhận thức và hành vi. Vậy cốt lõi của trí thông
minh chính là tư duy. Quá trình phát triển tư duy cũng chính là con đường
lĩnh hội khái niệm, là tiền tố tạo nên trí thông minh. Việc hình thành trí thông
minh ở trẻ em là con đường vững chắc nhất để chiếm lĩnh khái niệm khoa
học. Ở trẻ mẫu giáo, trí thông minh thể hiện trong thao tác với đồ vật. Đó là
kỹ năng, kỹ xảo thuần thục, óc quan sát, trí nhớ logic, sự thể hiện ngôn ngữ. Ở
trẻ em, trí thông minh và năng khiếu phải được bộc lộ và phát triển trong hoạt
động của chính bản thân đứa trẻ [8].
Cũng xuất phát từ quan điểm cơ bản của lý thuyết hoạt động, trong lĩnh
vực tư duy của trẻ mẫu giáo, Nguyễn Ánh Tuyết đã có công trình nghiên cứu