Luận văn thạc sĩ đặc điểm tục ngữ tiếng mường - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ LIÊN HƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM TỤC NGỮ TIẾNG MƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ LIÊN HƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM TỤC NGỮ TIẾNG MƯỜNG

Ngành: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 8 22 90 20

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép
của ai. Các kết quả khảo sát và miêu tả nêu trong luận văn là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

phú về số lượng, nội dung, chủ đề và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tục ngữ
là những sáng tác có giá trị bền vững với thời gian. Tục ngữ phản ánh nhận thức của
con người về thế giới quan, nhân sinh quan một cách đa dạng. Vì vậy, nghiên cứu
về tục ngữ là nghiên cứu những cái hay, cái đẹp, những dấu ấn bản sắc dân tộc ẩn
chứa trong lớp ngôn từ giản dị mà súc tích. Đồng thời nghiên cứu về tục ngữ cũng
góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
1.2. Đất nước ta có 54 dân tộc với ngôn ngữ, điều kiện sống, trình độ hiểu biết,
phong tục tập quán... có nhiều điểm giống và khác nhau tạo nên sự đa dạng mà
thống nhất của nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa
như hiện nay thì việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc luôn là một vấn đề được Đảng
và Nhà nước quan tâm hàng đầu. Muốn vậy, các nghiên cứu phải đi sâu tìm hiểu
một cách nghiêm túc về đặc trưng ngôn ngữ, văn hóa của từng dân tộc trên đất nước
mình, làm rõ tầm quan trọng và làm nổi bật những giá trị mang tính đặc tồn của
từng nền văn hóa. Từ đó sẽ có những chính sách bảo tồn cụ thể, phù hợp hiệu quả.
Văn hóa dân tộc Mường cũng không thể là ngoại lệ. Trong quá trình nghiên cứu,
chúng tôi nhận thấy tục ngữ Mường là kho văn hóa dân gian của người Mường, ở
đó thể hiện năng lực nhận thức của mình về thế giới tự nhiên và con người. Hơn
nữa, theo những gì chúng tôi sưu tầm và tìm hiểu thì hiện nay, khối liệu tục ngữ
Mường đã được lưu thành sách dưới dạng phiên âm tiếng Mường, văn bản này vừa
có giá trị văn hóa, văn học, vừa có giá trị ngôn ngữ. Tục ngữ của dân tộc Mường đã
thể hiện những nét văn hóa và văn hóa ngôn ngữ rất riêng biệt, độc đáo đáng bảo
tồn, gìn giữ.
1.3. Tục ngữ có thể coi là bộ bách khoa toàn thư về mọi mặt của đời sống xã
hội, là bộ phận quan trọng cấu thành nên nền văn hoá mỗi dân tộc. Vì thế, tục ngữ
trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, đặc biệt là các
ngành khoa học xã hội như: văn hoá, dân tộc học, lịch sử, văn học, ngôn ngữ học...
Cho đến nay, việc nghiên cứu tục ngữ đã đạt được nhiều thành tựu lớn, nhưng

1


của thế kỷ XX, có nhiều sách về tục ngữ được biên soạn, xuất bản, nhưng các công


trình về tục ngữ ở giai đoạn này chủ yếu dừng lại ở việc thu thập, biên soạn, hoặc
chú giải tục ngữ, có giá trị lớn về phương diện bảo tồn phong tục, tập quán, giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc Việt. Đến năm 1975, lịch sử sang trang đã tạo cú hích cho
sự phát triển nở rộ của các ngành khoa học tự nhiên và xã hội. Nhiều công trình
nghiên cứu về tục ngữ ra đời. Các nghiên cứu đã tiếp cận đến phương diện cấu trúc
và ngữ nghĩa của tục ngữ. Nhìn chung, các nghiên cứu về tục ngữ được tiếp cận
theo các đường hướng sau đây:
(i) Nghiên cứu tục ngữ dưới góc độ xã hội học, nhận thức học: Theo tác giả
Chu Xuân Diên (trong công trình “Tục ngữ Việt Nam” (1975), các nghiên cứu và
khai thác tục ngữ về mặt xã hội học được tiếp cận theo hai hướng: Thứ nhất, các
nghiên cứu tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa và nội dung khái quát của các câu tục ngữ
và thứ hai, tục ngữ được dùng như một tài liệu bổ trợ, loại tài liệu xã hội học trong
việc nghiên cứu những đối tượng thuộc nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau
như: khoa học lịch sử, dân tộc học, tâm lý học, đạo đức học, lịch sử tư tưởng.
(ii) Nghiên cứu tục ngữ dưới góc độ ngôn ngữ học: các nghiên cứu tập trung
tìm hiểu tục ngữ trên hai bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Ở bình diện ngữ pháp, các nghiên cứu tiếp cận dạng cú pháp của tục ngữ với
các đường hướng lí thuyết khác nhau, cụ thể: (a). Theo quan điểm ngữ pháp chức
năng hệ thống: các nghiên cứu tiếp cận tục ngữ theo mô hình đề - thuyết (Nguyễn
Đức Dương, “Tìm về linh hồn tiếng Việt”), tác giả đã phân tích cấu trúc cú pháp tục
ngữ theo biểu đồ hình cây của Cao Xuân Hạo. Tác giả Hoàng Diệu Minh trong luận
án tiến sĩ “So sánh cấu trúc – chức năng của thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt” đã
dùng cách phân tích câu dựa vào dấu hiệu hình thức và các tác từ “thì, là, mà” để
phân loại tục ngữ theo kiểu câu đơn và câu ghép, giúp người đọc nhận rõ mối quan
hệ tất yếu giữa ba bình diện: Kết học, Nghĩa học và Dụng học trong tục ngữ; (b).
Tiếp cận cú pháp tục ngữ từ góc độ cấu trúc lô gic- ngữ nghĩa: được gợi mở bởi
Nguyễn Đức Dân trong "Logic và tiếng Việt" và "Vài nhận xét về đặc điểm cú pháp

tăng tổng số lượng câu tục ngữ sưu tầm được là 643 câu. Đặc biệt hơn, ở cuốn sách
này mỗi một câu tục ngữ ngoài dịch sang tiếng Việt, tác giả Bùi Thiện còn có giải
thích ý nghĩa nội dung của từng câu tục ngữ.
Cũng nghiên cứu tục ngữ Mường dưới góc độ xã hội học còn có cuốn "Tục
ngữ, dân ca, ca dao Việt nam" của tác giả Vũ Ngọc Phan, cuốn "Văn học dân gian
Việt Nam" của Đinh Gia Khánh (viết chung), mỗi cuốn đều chỉ dẫn một một vài câu


tục ngữ Mường trong hệ thống tục ngữ của các dân tộc thiểu số khác. Cuốn "Tổng
tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam" tập 1 được Viện khoa học xã
hội Việt Nam, Viện nghiên cứu văn hóa, Nxb Khoa học xã hội tổ chức biên soạn và
xuất bản. Ở cuốn này các tác giả chỉ chuyên về sưu tầm và biên soạn tục ngữ các
dân tộc thiểu số Việt Nam. Trong đó, tục ngữ Mường với số lượng câu tục ngữ lớn
nhất: 683 câu.
Qua quá trình khảo cứu, chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu kể trên
là các công trình khai thác tục ngữ về mặt xã hội học được tiếp cận theo hướng:
nghiên cứu tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa và nội dung khái quát của các câu tục ngữ.
Việc làm này của có giá trị rất lớn về phương diện bảo tồn tài sản văn hóa Mường nói
riêng góp phần vào việc bảo tồn nền văn hóa đa màu sắc của đất nước nói chung.
Xét ở góc độ nghiên cứu văn hóa, tác giả Bùi Chỉ (2001) trong "Văn hóa dân
gian Mường Hòa Bình" cũng đã có phần "Một số tục ngữ, dân ca trong văn hóa ẩm
thực dân gian". Tuy nhiên, tác giả chỉ sưu tầm những câu tục ngữ liên quan đến văn
hóa ẩm thực Mường. Số lượng những câu tục ngữ về vấn đề này không nhiều. Việc
sưu tập diễn giải các câu tục ngữ chỉ mang tính minh họa và làm rõ cho nét văn hóa
ẩm thực đặc sắc riêng biệt mang tính truyền thống của người Mường Hòa Bình.
Cuốn sách không nghiên cứu tục ngữ Mường ở phương diện ngôn ngữ. Trên báo
Hòa Bình điên tử ngày 18/4/2011 có bài "Những sáng tác văn vần dân gian", bài
viết có sưu tầm một số rất ít các câu tục ngữ về kinh nghiệm sản xuất của người
Mường trong tương quan với các sáng tác ca dao, truyện thơ của người Mường,
nhằm mục đích làm rõ tính phong phú và giàu có của kho văn học dân gian Mường.

thấy các nhà khoa học đã tập trung thống kê, tìm hiểu về kho tàng tục ngữ Mường.
Sản phẩm khoa học của vấn đề này không còn là ít song cũng chưa nhiều, việc
nghiên cứu còn thiên nhiều ở mức độ sưu tầm, hoặc giải nghĩa của các câu tục ngữ
Mường chứ chưa đi vào nghiên cứu sâu các vấn đề liên quan đến nội dung và hình
thức nghệ thuật của tục ngữ Mường. Các công trình nghiên cứu tục ngữ Mường trên
bình diện ngôn ngữ còn rất ít, thậm chí là sơ sài. Đặc biệt các vấn đề về cấu trúc và
ngữ nghĩa của tục ngữ Mường thì vẫn chưa được chú ý một cách thích đáng. Tuy
nhiên, các công trình đi trước đã tạo tiền đề lí thuyết và thực tiễn cơ bản giúp chúng


tôi có thêm nhiều hiểu biết, gợi mở quan trọng để lựa chọn và nghiên cứu đề tài
"Đặc điểm tục ngữ tiếng Mường".
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tục ngữ Mường thể hiện rõ nét nhất những tri thức về thế giới khách quan,
kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của người Mường. Nghiên cứu "Đặc điểm
tục ngữ tiếng Mường" nhằm hướng tới các mục đích sau:
- Làm sáng tỏ đặc trưng văn hoá, ngôn ngữ độc đáo của dân tộc Mường.
- Góp phần vào việc bảo tồn và gìn giữ, phát huy vốn văn hoá ngôn ngữ của
dân tộc Mường, đặt trong bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Dựa trên những kiến thức lí luận về tục ngữ, chúng tôi sẽ phân tích tục ngữ
Mường trên phương diện cấu trúc và ngữ nghĩa.
- Khảo sát, thống kê, phân tích và phân loại các câu tục ngữ Mường, chỉ rõ
những đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của tục ngữ Mường.
- Đối chiếu phần dịch nghĩa tiếng Việt với nghĩa trong ngôn ngữ Mường của
các câu tục ngữ đã sưu tầm, tổng hợp được để đạt tới cách hiểu nghĩa của các đơn vị
tục ngữ một cách sát thực nhất.
- Phân loại, phân tích tục ngữ Mường ở phương diện cấu trúc và ngữ nghĩa đề tìm
ra những đóng góp của tục ngữ Mường cho di sản văn hóa, văn học dân tộc nói chung.

xử lí 629 câu tục ngữ Mường trong các công trình nghiên cứu và sưu tập ngoài đời
sống của người Mường sống ở Hòa Bình.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
6.1. Về mặt lí luận

Đây là luận văn tập trung nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa trong
tục ngữ Mường. Trên phương diện phân tích các đặc điểm về hình thức như: độ
ngắn, dài, nhịp, vần, hài thanh, kiểu câu... để từ đó tìm hiểu dễ dàng các đặc điểm
nội dung của tục ngữ Mường như: tính đơn nghĩa, tính đa nghĩa và các cách thức
tạo ra nó, phân tích một số hình ảnh biểu trưng tiêu biểu của tục ngữ Mường để thấy
đặc điểm tiêu biểu về mặt nội dung của tục ngữ dân tộc này. Như vậy, luận văn sẽ
bổ sung thêm cho việc nghiên cứu tục ngữ Mường ở bình diện cấu trúc và ngữ
nghĩa, nghĩa là luận văn sẽ có những đóng góp mới về tư liệu nghiên cứu tục ngữ


Mường xét từ phương diện ngôn ngữ học. Điều đó làm nên sự phong phú, đa dạng
hơn cho các công trình nghiên cứu về tục ngữ Mường.
6.2. Về mặt thực tiễn
- Luận văn có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh,
những người có nhu cầu tìm hiểu về tục ngữ Mường và văn hoá Mường. Đặc biệt là
trong xu hướng giáo dục hiện nay có đề cập tới tính cấp thiết của giáo dục văn hóa
địa phương trong trường học.
- Luận văn sẽ góp phần thúc đẩy việc sưu tầm và nghiên cứu tục ngữ của dân
tộc Mường trong kho tục ngữ chung của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
có cấu trúc gồm 03 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí thuyết
- Chương 2. Đặc điểm cấu trúc của tục ngữ Mường
- Chương 3. Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ Mường

phong tục tập quán, những ứng xử đạo đức tinh thần, những dấu ấn của từng thời
đại được lưu lại trong mỗi sáng tác tục ngữ... thậm chí trong tục ngữ còn có cả kiến
thức thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên (địa lý, thiên văn, khí tượng…).


Như vậy, có thể xem tục ngữ là tài sản vô giá của văn hóa dân gian. Tuy
nhiên, việc nghiên cứu về vẻ đẹp tục ngữ lại không hề đơn giản, quá trình nghiên
cứu tục ngữ phải thực sự có ý nghĩa như một hành động bảo tồn tài sản vô giá của
dân tộc
1.2. Khái quát về tục ngữ
1.2.1. Khái niệm tục ngữ
Tục ngữ là sáng tác dân gian thu hút giới nghiên cứu khoa học thuộc nhiều lĩnh
vực. Chính vì vậy mà từ trước đến nay, ở Việt Nam có rất nhiều định nghĩa về tục ngữ.
Trong “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” (1965), tác giả Vũ Ngọc Phan đã
định nghĩa: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một
kinh nghiệm, một lý luận, một công lý, có khi là một sự phê phán” [57, tr. 39].
Hoàng Tiến Tựu (1998) trong “Văn học dân gian Việt Nam” định nghĩa: “Tục
ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những
nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức những câu nói
ngắn gọn, giản dị, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền” [77, tr. 109].
Đinh Gia Khánh (1998) (chủ biên) trong “Văn học dân gian Việt Nam” có
định nghĩa: “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân
lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ” [39, tr. 244].
Tác giả Nguyễn Lân (1989) trong công trình “Từ điển thành ngữ và tục ngữ
Việt Nam” quan niệm rằng: “Tục ngữ là những câu hoàn chỉnh, có ý nghĩa trọn vẹn,
nói lên một nhận xét về tâm lý, một lời phê phán khen hay chê, hoặc một câu
khuyên nhủ, hoặc một kinh nghiệm về nhận thức tự nhiên hay xã hội” [40, tr. 5].
Cù Đình Tú (1973) trong bài viết “Góp ý kiến về phân biệt tục ngữ với thành
ngữ” đã cho rằng: “Tục ngữ cũng giống như các sáng tạo khác của dân gian... đều
là các thông báo... Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện

phú của tục ngữ Việt Nam là kết quả của nhiều công trình khai thác. Vẻ đẹp của tục
ngữ không bộc lộ một cách dễ thấy mà phải qua sự cắt nghĩa, phân tích của nhiều
người, nhiều thế hệ mới bộc lộ được nhiều khía cạnh ẩn náu bên trong. Trong quá
trình nghiên cứu, để phục vụ mục tiêu nghiên cứu của mình, chúng tôi không chỉ
căn cứ vào các khái niệm mà còn căn cứ vào các đặc điểm về hình thức và nội dung
của tục ngữ.


1.2.2. Một số đặc trưng có liên quan đến cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa
của tục ngữ
1.2.2.1. Tính ngắn gọn
Hiểu một cách đơn giản, tục ngữ là những nhận xét, phán đoán, suy luận của
con người về các hiện tượng của tự nhiên và xã hội, đúc rút thành những kinh
nghiệm lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ vùng này qua vùng khác. Con
đường lưu truyền chính của tục ngữ là truyền miệng, vì vậy tục ngữ phải đạt yêu
cầu đầu tiên là ngắn gọn, dễ nhớ. Đây là đặc điểm nổi bật của tục ngữ, cũng là điều
kiện cho thấy sự sáng tạo độc đáo của dân gian. Hoàng Tiến Tựu đã nói: “Trong tục
ngữ có những hệ từ và từ liên kết (thì, là, mà, nhưng, bởi, vì vậy, do đó, song lẽ, tuy
thế...) thường bị bỏ đi và nhiều khi cả những thành phần cơ bản của câu (như chủ
ngữ, vị ngữ,...) cũng bị tỉnh lược. Các câu tục ngữ ngắn nhất chỉ có 3 tiếng và dài
nhất là 24 tiếng. Câu càng gọn chắc với số tiếng càng ít thì nội dung càng hàm súc,
ý càng nhiều. Tuy nhiên dù ngắn gọn nhưng tục ngữ vẫn phải đảm bảo một cấu trúc
chặt chẽ và một nội dung hoàn chỉnh.
1.2.2.2. Tính đối xứng
Hình thức cú pháp của tục ngữ thường rất phức tạp, đa dạng. Có hai kiểu câu
đối xứng trong tục ngữ là câu đối xứng đơn và câu đối xứng kép.
- Câu đối xứng đơn: là câu đảm bảo được hai đặc điểm sau: Về mặt logic: nội
dung của mỗi câu tục ngữ là một phán đoán. Về mặt cú pháp: mỗi câu là một câu
đơn mà mỗi thành phần câu tương đương với một vế. Thí dụ: trong tục ngữ Việt có
"Miếng Trầu là đầu câu chuyện". Tục ngữ Mường có “Khảng khẩu là mẩu con

(nội dung) của một câu tục ngữ có liên quan mật thiết với nhau.
Trong một câu tục ngữ có thể có nhiều loại nhịp đan xen với nhau nhưng
phần lớn các câu tục ngữ nhịp trùng với ranh giới giữa các vế có số lượng tiếng
bằng nhau, đối nhau. Ví dụ: “Rau nào,/ sâu ấy”, “Ở bầu thì tròn,/ ở ống thì dài”,...
Cần lưu ý rằng, nhịp dù linh hoạt đến đâu cũng phải ăn nhập với ý vì nó là một
trong những hình thức thể hiện ý của tục ngữ.
Trong một câu tục ngữ, nhịp và vần luôn gắn bó với nhau để tạo nên tính
nhạc, sự hài hòa, sinh động, cân đối cho câu tục ngữ. Nhịp và vần còn làm cho tục
ngữ dễ ăn sâu vào trí nhớ con người. Trong tục ngữ, vần và nhịp diễn ra rất tự nhiên
nhưng đồng thời cũng là phần liên kết logic giữa các vế. Nhịp và vần cũng góp phần


làm cho tục ngữ mặc dù là câu nói dùng hằng ngày nhưng vẫn mang đầy đủ những
đặc điểm của sáng tạo nghệ thuật ngôn từ.
1.2.2.4. Tính hình tượng
Tục ngữ rất giàu hình tượng. Tục ngữ không đơn thuần chỉ là những hình
thức nhận thức duy lý mà còn là những hình thức đánh giá thẩm mỹ về các hiện
tượng tự nhiên, xã hội. Hình tượng trong tục ngữ được tạo ra bằng nhiều biện pháp
nghệ thuật khác nhau như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, chơi chữ, cường điệu...
So sánh (tỉ dụ): là phương thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình tượng
dựa trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có những dấu hiệu tương đồng làm nổi bật
đặc điểm, đặc tính của hiện tượng này qua đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng kia.
Trên thực tế, những câu tục ngữ dùng thủ pháp so sánh rất nhiều: “Một mặt người
hơn mười mặt của”, “Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa”,
“Một miếng giữa làng bằng một sáng xó bếp”...
Ẩn dụ (so sánh ngầm): đây là biện pháp nghệ thuật phổ biến trong tục ngữ.
Biện pháp này sử dụng phương pháp tu từ dựa trên cơ sở đồng nhất hai hiện tượng
tương tự nhẳm thể hiện cái này qua cái kia mà bản thân cái được nói tới thì giấu đi
một cách kín đáo. Lối nói này là lối nói không trực tiếp, lối nói có ẩn ý. Nhờ lối nói
như vậy mà tục ngữ gợi nhiều liên tưởng phong phú khi con người xác định ý nghĩa

nhiên, thời tiết, những kinh nghiệm lao động,...
* Nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng
Nghĩa bóng là nghĩa được hiểu gián tiếp thông qua nghĩa đen dựa trên cớ sở
của nghĩa đen gắn với thực tế sử dụng. Nghĩa là câu tục ngữ, ngoài nội dung nói về
ý nghĩa của chính hiện tượng mà nó miêu tả, lại còn có nhiều hàm ý rộng hơn, khái
quát hơn do việc mở rộng ý nghĩa của sự vật và hiện tượng cá biệt ấy vào sự vật,
hiện tượng khác. Ví dụ “Vỏ quít dày móng tay nhọn”, bên cạnh nghĩa đen, nó còn
có sự mở rộng nghĩa là: kẻ gian đã có người xảo quyệt trị, người dữ sẽ gặp kẻ hung
tợn dạy cho. Đây chính là nghĩa bóng nghĩa biểu trưng của câu của câu tục ngữ.
Như vậy, khi nghĩa đen chuyển thành nghĩa bóng cũng tức là tục ngữ từ việc phản
ánh những hiện tượng tự nhiên, kinh nghiệm lao động đã mở rộng phạm vi phản
ánh về con người và xã hội. Và đây là điều mà người sử dụng tục ngữ muốn hướng
tới. Điều kiện để nghĩa đen trở thành nghĩa bóng là khi người sử dụng tục ngữ liên


hệ, đối chiếu, tìm thấy sự tương đồng giữa điều mà tục ngữ phản ánh với các hiện
tượng đời sống.
Nghĩa biểu trưng của tục ngữ là toàn bộ ý nghĩa, những ý niệm khái quát từ
hình ảnh hoặc sự vật, sự việc cụ thể được miêu tả, được nói tới trong tục ngữ. Nội
dung của tục ngữ là sự thống nhất của hai ý nghĩa, trong đó nghĩa đen là nền tảng, là
cơ sở để suy ra nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng, còn nghĩa bóng vừa là nội dung vừa là
mục đích của sự biểu trưng.
1.2.3. Ranh giới tục ngữ và các đơn vị lân cận
1.2.3.1. Phân biệt tục ngữ với thành ngữ
Trên thực tế, việc xác định ranh giới giữa tục ngữ với thành ngữ còn có nhiều
ý kiến khác nhau. Trước đây không ít nhà nghiên cứu nêu khái niệm về thành ngữ,
tục ngữ một cách chung chung như Phạm Quang Sán, Nguyễn Văn Tố, Trương
Đông San v.v... ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ thường bị nhập nhòe, không rõ
ràng. Xét theo thời gian xưa nay thì thấy không phải tác giả nào cũng đồng nhất
thành ngữ với tục ngữ. Đầu tiên phải kể đến nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm,

cấu hai trung tâm, có thể chêm xen các yếu tố khác vào như các hư từ, còn thành
ngữ có kết cấu một trung tâm và không thể chêm xen các yếu tố nào khác vào như
tục ngữ.
Nguyễn Đức Dân trong bài báo "Ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ" lại dựa
vào tiêu chí ngữ nghĩa để phân biệt thành ngữ với tục ngữ. Tác giả cho rằng:
"Thành ngữ phản ánh các khái niệm, hiện tượng, còn tục ngữ phản ánh các quan
niệm, những suy nghĩ, những tri thức và cách tư duy của một dân tộc về các hiện
tượng, các quy luật tự nhiên và xã hội" [11, tr.1]. Từ sự khác nhau đó đã dẫn tới sự
khác nhau cơ bản trong sự hình thành nghĩa: "Nghĩa của thành ngữ được hình thành
qua sự biểu trưng nghĩa của cụm từ. Nghĩa của tục ngữ được hình thành qua sự biểu
trưng nghĩa của một câu và qua sự biểu trưng các quan hệ, còn các thành ngữ không
có thuộc tính này" [11, tr. 5]. Như vậy, quan niệm về tục ngữ dựa vào mặt ngữ nghĩa
của tác giả Nguyễn Đức Dân đã góp phần hoàn chỉnh thêm cách nhìn tục ngữ trên
lập trường của các nhà ngôn ngữ học.
Hoàng Văn Hành (2004) trong cuốn "Thành ngữ học tiếng Việt" đã đưa ra
một tiêu chí nữa về sự khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ, ông cho rằng: "Thành
ngữ là những tổ hợp từ đặc biệt, biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy, còn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status