Luận văn thạc sĩ đặc điểm của truyện ngắn thâm tâm - Pdf 44

Đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học Xã HộI Và NHâN VĂN
------------

Nguyễn thị hồng nhung

đặc điểm của truyện ngắn
thâm tâm

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành văn học việt nam
Mã số : 60.22.34

Ng-ời h-ớng dân khoa học : GS.TS. Lê Văn Lân

Hà Nội 2010

1


PHẦN MỞ ĐẦU ..............................................................................................3
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài ........................................................................3
2.Lịch sử vấn đề nghiên cứu. ...........................................................................3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. ...............................................................4
4. Phƣơng pháp nghiên cứu..............................................................................4
6.Cấu trúc của luận văn. ...................................................................................6
PHẦN NỘI DUNG ..........................................................................................7
Chƣơng 1: CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP ........................................................7
1.1 Cuộc đời. ....................................................................................................7
1.2 Sự nghiệp văn chƣơng............................................................................. 14
Chƣơng 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮNTHÂM TÂM.
....................................................................................................................... 26

Đưa người ta không đưa qua sóng
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
(Tống biệt hành)
Những câu thơ đầy hình ảnh và nhạc điệu ấy đã vang lên trong tâm trí
độc giả đến nay tròn sáu mƣơi năm rồi. Bạn đọc vẫn còn nhớ mãi đến tác giả
của những vần thơ ấy, một ngƣời tài hoa mà phận mỏng. Những sáng tác của
Thâm Tâm mà đến nay ngƣời ta sƣu tầm đƣợc có khi không nhiều bằng số
giấy mực mà ngƣời ta chi ra trong cuộc tranh cãi xung quanh câu chuyện về
T.T.Kh. Cho đến nay, Thâm Tâm đƣợc độc giả biết đến là một nhà thơ mà ít
ai biết rằng ông còn sáng tác cả tiểu thuyết, kịch và truyện ngắn. Số lƣợng
truyện ngắn của Thâm Tâm đƣợc đăng tải khá đều đặn trên tờ Tiểu thuyết thứ
Bảy từ năm 1941 đến năm 1944. Đi sâu nghiên cứu mảnh đất mà ít ngƣời
khám phá này để mang đến một hình ảnh Thâm Tâm toàn diện cho độc giả
hình dung là một lí do chủ yếu để chúng tôi thực hiện đề tài này.
Bên cạnh việc khái quát lại về cuộc đời của Thâm Tâm, sự nghiệp văn
chƣơng của ông, chúng tôi đi sâu nghiên cứu cụ thể vài đặc điểm về mặt nội
dung và hình thức của truyện ngắn Thâm Tâm.
2.Lịch sử vấn đề nghiên cứu.

3


Thâm Tâm ra đi ở tuổi 33, một số phận long đong, lận đận cả về cuộc
đời lẫn văn nghiệp. Tập thơ riêng của ông mãi tới năm 1988 mới đƣợc in ra.
Khi tôi cầm tập thơ này ở trên Thƣ viện Quốc gia, tôi thật sự ngạc nhiên và vô
cùng xúc động. Thâm Tâm tài hoa, cuộc đời ngắn ngủi thơ chỉ đƣợc nhà sƣu
tầm tuyển chọn lại có chừng ấy bài, trang bìa bảo quản còn dày hơn cả nội
dung tập thơ. Thơ ông đƣợc giới nghiên cứu đánh giá nhiều còn văn xuôi, đặc

Phương pháp so sánh: Từ cuộc sống thƣờng nhật, phƣơng pháp so sánh
đƣợc đƣa vào nghiên cứu khoa học và đã nhanh chóng trở thành một phƣơng
pháp hữu hiệu. Cần phân biệt giữa so sánh văn học và văn học so sánh. So
sánh văn học là một phƣơng pháp diễn đạt, một phƣơng pháp ngữ nghĩa đƣợc
dùng trong văn học. Còn văn học so sánh là một bộ môn văn học sử nằm giữa
văn học sử dân tộc và văn học sử thế giới. Trong nghiên cứu văn học, ta có
thể so sánh một hiện tƣợng văn học với các hiện tƣợng cùng loại nhƣng cũng
có thể so sánh với các hiện tƣợng đối lập để làm nổi bật bản chất của hiện
tƣợng đƣợc đem ra so sánh. Việc so sánh giúp ta xác định đƣợc vị trí của hiện
tƣợng trong một hệ thống và đánh giá đƣợc ý nghĩa của nó trong hệ thống đó.
Phương pháp hình thức: là phƣơng pháp phân tích các khía cạnh hình
thức của tác phẩm văn học để rút ra ý nghĩa thẩm mĩ của nó. Trong luận văn
chúng tôi sẽ nghiên cứu nghệ thuật tự sự của truyện ngắn Thâm Tâm. Để đạt
đƣợc hiệu quả khách quan, việc nghiên cứu hình thức phải đƣợc đặt trong một
hệ thống chỉnh thể của toàn bộ tác phẩm chứ không đƣợc coi trọng hình thức.
Phương pháp thống kê: phƣơng pháp này đƣợc vay mƣợn từ một
ngành khoa học chuyên biệt của toán học. Áp dụng vào nghiên cứu văn học,
thống kê học đã cung cấp cho chúng ta một phƣơng pháp khá hữu ích. Trong
nhiều công trình, phƣơng pháp thống kê đã đƣợc áp dụng nhƣ là một phƣơng
pháp phụ trợ rất có hiệu quả để làm tăng sức thuyết phục cho những kết luận
có thể rút ra từ các phƣơng pháp khác. Do những con số thống kê khách quan
của nó ngƣời ta dễ có cơ sở để nói lên tính chính xác của phƣơng pháp này.

5


Trên đây là một số phƣơng pháp cơ bản đƣợc chúng tôi sử dụng để
nghiên cứu đề tài này và để đạt đƣợc hiệu quả trong quá trình triển khai chúng
tôi sẽ kết hợp với một số phƣơng pháp nghiên cứu văn học khác nữa.
6.Cấu trúc của luận văn.

lấy sợi phục vụ cho ngành quân trang, quân dụng của chúng. Chúng lại đem
thóc lúa ở Nam kì đốt chạy thành than để chạy máy. Những huyện là vựa lúa
của tỉnh Hải Dƣơng nhƣ Tứ Kì, Gia Lộc, Ninh Giang, Thanh Miện nhân dân
đói kém phải bỏ nhà tha phƣơng đi ăn xin. Các tỉnh lân cận nhƣ Thái Bình,
Hƣng Yên ngƣời chết nhƣ ngả dạ. Năm 1938, Thâm Tâm cùng gia đình

7


chuyển lên Hà Nội kiếm sống, ở số 7 Đội Cung- tức phố Thái Phiên bây giờ.
Vợ của Thâm Tâm là công nhân của hãng dệt Phúc Lai, bà quê gốc ở Thanh
Hóa. Thâm Tâm đi làm suốt ngày, đêm về lại thức khuya để viết lách, vẽ
tranh. Gia cảnh của Thâm Tâm rất cơ hàn, túng quẫn. Gia đình gồm cha mẹ
già, hai chị cùng bốn đứa em còn nhỏ và vợ, có đến cả chục miệng ăn và ngần
ấy ngƣời dồn ép sống trong căn nhà thuê rộng khoảng 20m2 . Thâm Tâm nhận
đóng sách ở nhà in Mai Lĩnh rồi mang nhận thêm mang về cho cả gia đình
làm, còn Thâm Tâm thì đi vẽ tranh minh họa cho các báo, vẽ tranh bờ hồ đi
bán ở các trại lính Tây, làm thơ, viết truyện, viết kịch, tạp văn… gửi đăng báo
vừa để sinh nhai vừa thỏa cái mộng văn chƣơng hằng ấp ủ. Do chơi thân với
Trần Huyền Trân và Phạm Quang Hòa nên ba ngƣời rủ nhau ra làm báo Bắc
Hà. Phạm Quang Hòa chỉ có năm mƣơi đồng bạc bỏ ra còn bài vở thì chủ yếu
là do Thâm Tâm và Huyền Trân chịu trách nhiệm. Nhƣng chỉ đƣợc ba, bốn số
thì hết tiền. Thu tiền báo ở các sạp báo về cũng không đủ trả tiền giấy, tiền in
nên đành phải đóng cửa tòa soạn lại. Nhƣng máu nghề nghiệp và mƣu sinh
không cho họ nản chí dừng lại. Có thể nói là Thâm Tâm viết cật lực, không
kén chọn lắm về đề tài, thể loại, nơi in… Trong cuộc đời mình, Thâm Tâm đã
chứng kiến những cảnh xót xa, đau lòng: một cháu bé thoi thóp đang nhay
bầu sữa mẹ mà mẹ đã chết cứng, chị phụ nữ gầy tong teo đang xé xác một con
chuột chết đƣa lên miệng, những ngƣời chỉ còn da bọc xƣơng gầy đen, xám
ngoét gục ngã ven đƣờng rồi chỉ vài tiếng sau cũng thành thây ma bị xe bò

thực của Đỗ Phủ, Nguyễn Du nhƣng lại có cái hào sảng của Lục Du. Thơ của
xóm này giàu hình ảnh các tráng sĩ lên đƣờng thời Chiến Quốc Xuân Thu.Về
nghệ thuật thì ta thấy rất rõ hơi thơ cổ phong toát lên từ thơ của các nhà thơ
này. Họ thích làm thơ ở thể hành- một thể thơ khá phổ biến trong thơ Đƣờng.
Nguyễn Bính nghiêng về thể loại thơ độc vận trong một số bài thơ dài. Huyền
Trân và Thâm Tâm sành về thể thất ngôn và lục bát. Chữ nghĩa trong thơ nằm
ở cả hai vùng sáng và mờ ngữ nghĩa, thiên về phía từ trong thơ nôm cổ hoặc

9


từ Hán- Việt nhƣng đã đƣợc Việt hóa nhuần nhuyễn. Họ có cùng điểm chung
là xuất thân từ thành phần dân nghèo trong xã hội cũ mà xã hội lại dành cho
những thành phần ấy một thân phận buồn tủi, u ám, mờ mịt. Họ sống tù túng,
ngột ngạt nên khao khát một khung trời khác, chƣa đến đƣợc khung trời ấy họ
tỏ ra bức bối, đập phá nhƣng vẫn không chịu lùi bƣớc. Họ lại cùng một trình
độ xấp xỉ nhƣ nhau, học nhiều chữ Hán, thơ nôm cổ và ảnh hƣởng của văn
học phƣơng tây thì hầu nhƣ không có. Họ vì nghèo không đƣợc đến trƣờng
lớp học nhiều nhƣng không vì thế mà tài năng thiên bầm của họ bị tàn lụi.
Nói đến Thâm Tâm trƣớc Cách mạng những ai yêu mến ông cho tới
ngày nay cũng không thể nào quên một sự kiện gắn với ông, sự kiện ấy đã tốn
biết bao giấy mực tranh cãi, mấy chữ cái T.T.Kh đi đôi với Thâm Tâm đã trở
thành một hồ sơ văn học, một nghi án trong văn chƣơng. Nhân tiện đây,
chúng tôi cũng xin điểm lại sự kiện này.
Khoảng tháng 9 năm 1937, tờ Tiểu thuyết thứ Bảy đăng truyện ngắn
Hoa ti gôn của Nguyễn Thanh Châu. Thời gian ngắn sau, tòa soạn nhận đƣợc
một bài thơ tựa đề Bài thơ thứ nhất, sau đó nhận thêm bài Hai sắc hoa Ti gôn
nữa. Tác giả của hai bài thơ này kí tên là T.T.Kh mà không hề ghi rõ họ tên
cũng nhƣ địa chỉ liên lạc. Tiểu thuyết thứ Bảy có đề nghị tác giả cho biết địa
chỉ để gửi báo biếu thì nhà văn Thanh Châu nhận đƣợc một bức thƣ ngắn với

Ở lại vườn Thanh có một mình,
Tôi yêu gió lạnh lúc tàn canh,
Yêu trăng lạnh lẽo rơi trên áo,
Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành
Và một ngày kia tôi phải yêu
Cả chồng tôi nữa, lúc đi theo
Những cô áo đỏ sang nhà khác!
-Gió hỡi, làm sao lạnh rất nhiều?

11


(Bài thơ thứ nhất)
Những ngƣời tự nhận mình là ngƣời yêu của T.T.Kh đã làm những bài
thơ để đáp lại nàng: Thâm Tâm có bài Các anh, Mầu máu Ti gôn; Nguyễn
Bính có bài Cô gái vườn Thanh, Dòng dư lệ. T.T.Kh có gửi bài thơ Đao áo
cho chồng đến cho một ngƣời thì không biết thế nào bài thơ ấy lại đƣợc in
trên tờ báo Đàn bà. Sau đó T.T.Kh gửi đến tòa soạn bài thơ Bài thơ cuối cùng
có nội dung trách móc, oán hận rồi từ đó nhân vật T.T.Kh không còn gửi gì
đến tòa soạn nữa cũng nhƣ có phản ứng gì khi trên văn đàn xảy ra cuộc tranh
luận T.T.Kh- nàng là ai?
Nhƣ đã nói, cuộc tranh luận này đã tốn biết bao giấy mực, và chúng tôi
xin tổng kết lại những nhân vật có liên quan, họ nổi tiếng và có độ tin cậy bởi
họ là những ngƣời nổi tiếng, có địa chỉ và chức danh rõ ràng: nhà văn Thanh
Châu- ngƣời cùng thời với Thâm Tâm viết bài cho Tiểu thuyết thứ Bảy cho
rằng thơ của T.T.Kh khác hẳn phong cách thơ của Thâm Tâm và cho rằng
không cần tìm hiểu cô ấy là ai chỉ nên biết rằng một phụ nữ vào thời điểm ấy
làm thơ là đáng trọng. Một ngƣời đã cố tình quên đi, đào sâu chôn chặt mối
tình đau xót, bất hạnh nhất của mình mà có những bài thơ nhƣ thế chỉ dám
bộc lộ một lần khi đọc một truyện ngắn cùng cảnh ngộ gợi ra thì hẳn không

trong cuộc lại luôn phủ định và khuyên rằng đừng nên truy cứu nữa. Bạn đọc
những ai yêu mến Thâm Tâm hãy có những phán đoán thú vị của riêng mình,
lời khuyên của các ông Thanh Châu, Phạm Quang Hòa, Mã Giang Lân là ta
hãy nên để cho cái tên T.T.Kh đƣợc ở yên trong lòng bạn đọc xƣa nay vốn
hâm mộ ngƣời thơ.
Cách mạng là ngày hội của quần chúng, Cách mạng đã làm thay đổi
hầu nhƣ tất cả công dân của nƣớc Việt Nam và Thâm Tâm gia nhập Cách
mạng một cách tình nguyện và tự nhiên.
Năm 1947, Thâm Tâm gia nhập quân đội và ông làm thƣ kí cho tòa
soạn báo Vệ quốc dân. Nhà văn Vũ Cao trƣớc khi gặp Thâm Tâm có đọc thơ

13


Thâm Tâm lại hình dung Thâm Tâm là một ngƣời hơi ngang tàng một chút,
hơi chán chƣờng và hơi say một chút nhƣng khi gặp thì lại hoàn toàn khác.
Đó là một Thâm Tâm đen xạm, ngƣời gày gò nhƣ Nam Cao mà lại còn bé hơn
Nam Cao. Thâm Tâm làm việc rất nghiêm túc, cần cù, tỉ mỉ và làm đủ mọi
việc cho tờ báo: viết bài, trình bày, kẻ chữ, cắt xén… đặc biệt là Thâm Tâm
không hút thuốc, không nghiện trà, không uống rƣợu mà nếu có chỉ là một
chút lúc anh em vui. Thâm tâm cƣời rất ít, cƣời rất khẽ và nét mặt lạnh lùng
đến khắc khổ. Các đồng nghiệp quí trọng một con ngƣời say mê lí tƣởng, nói
ít làm nhiều, sôi nổi nhiệt tình trong công tác. Nhà văn Vũ Cao nghĩ rằng sao
một con ngƣời nhƣ thế lại viết đƣợc những câu thơ mà Vũ Bằng cho rằng
Thâm Tâm là một nhà phù thủy hô sóng vào lòng và gọi hoàng hôn lên mắt.
“Vậy cái tiếng sóng màu hoàng hôn ấy nó nằm ở chỗ nào trong con ngƣời ấy?
Và có phải đó chính là cái bí ẩn của tài năng nghệ thuật mà ngƣời ta hay nói
đến từ xƣa? Thực tế bề ngoài Thâm Tâm không có một chút gì gọi là tài hoa
và phóng khoáng nhƣ tôi thấy trong thơ anh…” [21, tr102].
Năm 1950, trong chiến dịch biên giới, Thâm Tâm bệnh nặng rồi mất ở

Thâm Tâm và ông không thể ngờ một ngƣời có vóc dáng thƣ sinh, nhỏ bé lại
có thể viết đƣợc những dòng thơ tài hoa ấy. Theo lời kể của bà Oanh- chị gái
nhà thơ thì “khi viết bài thơ này cậu ấy viết trên chiếc bàn mọt ở phố Thái
Phiên ngày nay”
Đây cảnh cũ đâu người xưa
Tình cũ năm qua để hững hờ
Hoa dẫu mỉm cười nhưng có ý
Phảng buồn mặt phấn nét tương tư.
Giận thời gian, tiếc ngây thơ
Lòng xuân tình cảm bây giờ gửi ai?
Trinh quên mộng cũ đi rồi
Cảnh sinh xa vắng ngậm ngùi ly tao

15


Gặp Trinh trong bóng xuân đào
Đang khi quãng gió dạt dào chim ca
Má hồng, hồng đượm hương hoa
Rung rinh đọng giọt phấn nhòa sương rơi
Hoa xuân thắm, nụ xuân tươi
Quyện hoa hơn hớn, lòng ơi mộng lòng
Trinh tay nâng giấc cánh hồng
Với vần thơ hái mơ mòng tôi yêu…
Cũng chẳng ai biết sau bài thơ này Thâm Tâm còn lấy bút danh Trăm
Năm nữa không và ngƣời con gái tên Trinh đƣợc nhắc tới là ai. Bài thơ chƣa
thoát ra khỏi luồng tƣ duy lãng mạn của Thâm Tâm đã ƣơm mầm và nẩy chồi
từ mấy năm trƣớc đó đƣợc bắt gặp trong vở kịch ngắn Sương tháng Tám. Vở
kịch kể chuyện trong một đêm trăng sáng, cô vũ nữ đi làm về bắt gặp ngƣời
nghệ sĩ trƣớc kia đã thuê cô làm ngƣời mẫu nên cô trèo qua cửa sổ, bƣớc vào

Em cùng anh sánh gót dưới bóng dừa,
Một đêm trăng sáng trên đường đá đỏ.
sự thật buộc nhà thơ phải chấp nhận sự tan vỡ không thể cứu vãn đƣợc mối
tình:
Em nói những gì? Anh còn nhớ rõ,
Nhưng làm sao?Ai hiểu tại làm sao?
Chim muốn bay, cũng giữ chẳng được nào,
Tình đã chết, có mong gì sống lại.
và can đảm chấp nhận sự ra đi ấy tuy trong lòng vô cùng đau khổ, luyến tiếc,
tỏ ra cao thƣợng:
Anh không trách chi em điều ngang trái,
Anh không buồn số kiếp quá mong manh!
Có gì đâu khi bướm muốn xa cành
Anh cứ tiếc cái gì xưa đã chết.

17


nên nhà thơ trải nỗi lòng bằng cách mƣợn những dòng thơ để giãi bày tâm
trạng:
Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết,
Anh càng buồn, càng muốn kết thành thơ;
Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ,
Đây bài thơ chót kính dâng lên tặng bạn.
Đau buồn vì tình tan vỡ, lại nhận đƣợc kỉ vật là cánh hoa dáng tim vỡ
đã tàn phai gửi trả lại mình, nhà thơ chỉ biết kêu lên:
Anh biết làm sao được hở trời!
Dứt tình không nỡ, nhớ không thôi!
Thôi em hãy giữ cành hoa úa,
Kỷ niệm ngàn năm một cuộc đời!

(Hoa gạo)
Chứng kiến những cảnh ấy, nhà thơ xót xa khi đụng vào cảnh thê thảm
của những kiếp ngƣời. Giọng thơ run lên, tức tƣởi bởi thán từ và hình ảnh liên
tƣởng ghê rợn:
Ngó giọt hoa kia ngã xuống đường
Chao ơi! Tôi sợ ở nhà thương
Bao nhiêu miệng thổ bao nhiêu huyết
Khi những lòng đau ngã xuống giường
(Hoa gạo)
Cũng cái nhìn ấy lan tỏa ra khi Thâm Tâm vẽ lại những cảnh đời khác,
cảnh đời của những “đời trai trong góa bụa… thắt lạnh bên lòng nỗi hận
thƣơng”, của những thầy khóa khom lƣng viết kiếm chút tiền sống qua những
ngày tết, của những “lão buồn đi bán cành hƣơng thắm” hoa thì đỏ mà áo thì
bạc mờ, của những cô gái bán trinh một giờ, “vợ ngƣời cơ nhỡ bán con thơ”,
“những trai cùng đƣờng bán thân cao trọng”… Có lúc Thâm Tâm mƣợn cả

19


chuyện xây vạn lý trƣờng thành ở Trung Quốc để nói lên nỗi căm giận của
mình khi chứng kiến hiện thực cuộc sống ở quê hƣơng mà nhà thơ muốn tố
cáo. Đó là cảnh “nghìn muôn vợ trẻ nhớ trai phu”, “trăm thân già héo trong
chiều xế, lặng kiếm hồn con xuất ải dài”, những chinh phụ mớm cơm cho con,
nuôi cha già “nhịn đói chờ lƣơng kẻ thú phu”, những sơn thôn hết cả trai vì bị
bắt đi đắp vạn lí trƣờng thành.. tất cả đã bỏ thân chết ở ngoài biên một triệu
lần.
Nhƣ đa phần các thi nhân cùng thời, Thâm Tâm có nỗi buồn riêng. Vì
lẽ đó thơ Thâm Tâm buồn nhƣ chính cái cuộc đời lẩn quẩn quanh bát cơm,
mảnh áo và trốn vào đâu cũng không thoát khỏi cái cảnh đói kém chạy bữa
cùng gia đình. Trong thơ Thâm Tâm thƣờng xuất hiện những cảnh đời đen

Vì đời ta buồn như thế đấy
(Can trường hành)
Trong làng thơ Việt Nam trƣớc năm 1945 chúng ta thấy để trốn khỏi
nỗi buồn Vũ Hoàng Chƣơng đã trốn vào miếu nguyệt, vƣờn hoang, gác xép,
ngõ hẹp; còn Hàn Mặc Tử thì chốn vào sự cứu rỗi nơi tôn giáo. Còn Thâm
Tâm thì nhất quyết ra đi: thơ Thâm Tâm nói nhiều đến sự ra đi, chia tay, lên
đƣờng. Đi đâu? Đi để làm gì? Thâm Tâm không nói trắng ra, song sống giữa
thời đại ấy chúng ta có thể hiểu đƣợc tâm trạng của nhà thơ và phán đoán
đƣợc nhà thơ đi về đâu, hƣớng nào.
Để thể hiện tinh thần quyết tâm ra đi, Thâm Tâm chọn thể hành, một
thể thơ cổ Trung Quốc mà nhiều nhà thơ cổ điển phƣơng Đông hay dùng.
Ngoài các bài nhƣ Tống biệt hành, Vọng nhân hành, Can trường hành là
những bài biểu thi trực tiếp cái khí thế ra đi thi những bài nhƣ Các anh, Chào
Hương sơn, Ngược gió, Lưu biệt… cũng có những hình ảnh, cảm xúc, suy
nghĩ về sự ra đi.

21


Nhà thờ ra đi không chỉ để bày tỏ chí khí của mình mà còn biểu lộ khát
vọng thoát khỏi những cảnh đời tù hãm, bạc bẽo của thế thái nhân tình. Đọc
thơ Thâm Tâm chúng ta thấy ẩn sau nỗi đau cuộc đời là một tâm hồn thống
thiết, rắn rỏi, dứt khoát mà không nhẫn tâm, cay đắng xót xa nhƣng không hề
bi lụy:
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong
... Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.

đắc chí, chỉ biết đi là đi, chia biệt, mong nhớ, mang đậm cái khí thế trƣợng
phu nhƣ tráng sĩ Kinh Kha thời cổ, hào hùng thì ít, u hoài thì nhiều mà lại
sống một cuộc đời nghèo khổ, u uất tù túng nhƣ vậy. Giống nhƣ bao ngƣời
bạn cùng thế hệ Thâm Tâm đã chào đón Cách mạng thật tự nhiện, nhƣ một
ngày hội giải phóng con ngƣời. Những ngày chuẩn bị cho Cách mạng khởi
nghĩa rồi những ngày sau đó, nhà Thâm Tâm là nơi qua lại của rất nhiều đồng
chí. Thâm Tâm cùng bạn bè bị thu hút vào các hoạt động khởi nghĩa, mít tinh,
diễu hành. Thâm Tâm có mặt trong những ngƣời đi treo cờ ở nhà hát lớn,
chống chính phủ Trần Trọng Kim. Thâm Tâm vui mừng hò reo thắng lợi và
trở thành con ngƣời khắc hẳn một Thâm Tâm trầm lặng ít nói ngày thƣờng.
Thâm Tâm tham gia làm bích chƣơng, vẽ áp phích. Tài năng hội họa
của Thâm Tâm đƣợc sử dụng nhiều hơn là làm thơ ca ngợi thắng lợi Cách
mạng thành công, ca ngợi quần chúng nhân dân anh hùng. Tờ Tiên phong số
đầu tiên, bìa chính có hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng trùm kín cả trang báo là tác
phẩm của Thâm Tâm. Theo một số bạn bè, vở kịch Tháng Tám có diễn ở nhà
hát lớn.

23


Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, gia đình Thâm Tâm tản cƣ về quê còn
Thâm Tâm cùng đồng đội lên chiến khu Việt Bắc. Lúc ấy Thâm Tâm chƣa
đầy ba mƣơi tuổi nhƣng lại là một ngƣời rất chin chắn, chững chạc cả trong
đời sống lẫn công việc.
Ở tòa soạn báo Vệ quốc quân, đồng chí Trần Độ làm chủ bút, tòa soạn
còn có thêm Thôi Hữu, Trần Đăng, Từ Bích Hoàng, Vũ Cao, Trúc Kỳ, họa sĩ
Mai Văn Hiến và Dƣơng Bích Liên, Thâm Tâm phải làm rất nhiều công việc
từ việc trình bày, minh họa, vẽ tranh châm biếm, tranh đả kích, viết tin và
trông coi in ấn. Thời ấy, báo này rất coi trọng mục điểmm bích báo đơn vị.
Mục này do Tân Sắc, Trần Đăng, Từ Bích Hoàng phụ trách nhƣng Thâm Tâm

Thâm Tâm chƣa nhận ra thơ Thâm Tâm riêng biệt. Một thế hệ các nhà văn,
nhà thơ đi theo kháng chiến nhƣ Thâm Tâm nhƣng họ bắt nhịp thay đổi nhanh
hơn và thật sự xuất sắc nhƣ Nam Cao, Xuân Diệu, Chế Lan Viên…
Trong hội nghị Văn nghệ Quân đội lần thứ nhất tổ chức vào tháng năm
1949, Thâm Tâm đã đọc báo cáo: Văn thơ bộ đội, một báo cáo vẽ ra khá đầy
đủ bộ mặt hoạt động của văn học quân đội trong những năm đầu của cuộc
kháng chiến.. Tƣờng thuật về các tham luận trong hội nghị Văn nghệ quân đội
lần thứ nhất, nhà văn Nguyễn Huy Tƣởng viết: Câu chuyện rất dài của Thâm
Tâm về văn thơ bộ đội vạch ra một sự thật: loại thơ anh hùng của cán bộ,
những hình ảnh tƣởng tƣợng, lời văn mĩ miều của các văn nghệ sĩ công tác
trong bộ đội không đƣợc đội viên hoan nghênh. Trái lại, họ thích những bài
thơ tập hợp với đời sống của họ, những bài thơ ở bộ đội mà có, những sáng
tác này trở lại ảnh hƣởng bộ đội rất mạnh. Trong Hội nghị này, Thâm Tâm
đƣợc bầu vào Ban Văn nghệ Trung ƣơng thuộc phòng Tuyên truyền gồm bảy
ngƣời là Chính Hữu, Nguyễn Xuân Khoát, Thế Lữ, Phạm Văn Khoa, Mai
Văn Hiến. Sau hội nghị Thâm Tâm trở lại với công việc bận rộn của tờ báo.
Chuyến công tác vào Tây bắc cuối năm 1949 Thâm Tâm ghi chép lại đƣợc vài
trang. Thâm Tâm phải cố gắng lắm mới giải phóng khỏi công việc để đi chiến

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status