Đặc điểm của truyện ngắn Thâm Tâm - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG Đ
Đ


C

Đ
I
I


M


N
NT
T
H
H
Â
Â
M
MT
T
Â
Â
M
M

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM



Đ
Đ


C

Đ
I
I


M
MC
C


A
AT
T
R


T
T
Â
Â
M
M

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 60.22.34
Người hướng dân khoa học : GS.TS. Lê Văn Lân
Hà Nội – 2010

3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu 57
3.2.1 Ngôn ngữ trần thuật 57 2
3.2.1.1 Ngôn ngữ độc thoại. 58
3.2.1.2 Ngôn ngữ đối thoại 62
3.2.2 Giọng điệu 65
3.2.2.1 Giọng điệu trữ tình 65
3.2.2.2 Giọng trào lộng. 72
PHẦN KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

đời lẫn văn nghiệp. Tập thơ riêng của ông mãi tới năm 1988 mới đƣợc in ra.
Khi tôi cầm tập thơ này ở trên Thƣ viện Quốc gia, tôi thật sự ngạc nhiên và
vô cùng xúc động. Thâm Tâm tài hoa, cuộc đời ngắn ngủi thơ chỉ đƣợc nhà 4
sƣu tầm tuyển chọn lại có chừng ấy bài, trang bìa bảo quản còn dày hơn cả
nội dung tập thơ. Thơ ông đƣợc giới nghiên cứu đánh giá nhiều còn văn
xuôi, đặc biệt là truyện ngắn thì ngƣợc lại, có cũng chỉ là vài lời nhận xét
khiêm tốn tản mạn trên các báo, tạp chí. Do đó, có thể coi luận văn này mở
đƣờng cho những công trình tiếp theo cho những ai yêu mến tác giả của
Tống biệt hành nổi tiếng.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Chúng tôi nghiên cứu chủ yếu 38 truyện ngắn của Thâm Tâm đƣợc
đăng tải trên tờ Tiểu thuyết thứ Bảy từ năm 1941 đến năm 1944. Trong thời
gian sau đó Thâm Tâm đi kháng chiến ông sáng tác không nhiều vì dồn toàn
tâm toàn lực vào công việc làm báo phục vụ kháng chiến. Cho nên chúng tôi
chỉ nghiên cứu phần tác phẩm đƣợc in ấn rõ ràng 38 truyện ngắn của Thâm
Tâm đƣợc Văn Giá và Thanh Hƣơng sƣu tầm, in thành tập Thâm Tâm truyện
ngắn [7] là tài liệu chính cho chúng tôi khảo sát.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Để triển khai đề tài này chúng tôi sử dụng kết hợp các phƣơng pháp
nghiên cứu sau:
Phương pháp lịch sử- xã hội: là cách gọi dành cho một phƣơng pháp
có cơ sở là hoàn cảnh, điều kiện xã hội và tiến trình phát triển lịch sử của
chính bản than văn học. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu thƣờng kết hợp
việc nghiên cứu hoàn cảnh xã hội với việc nghiên cứu than thế tiểu sử, con
ngƣời, sự nghiệp của nhà văn để tìm hiểu tác phẩm. Phƣơng pháp này có ƣu
điểm cơ bản là đặt hiện tƣợng văn học vào bối cảnh của xã hội để nghiên
cứu. Bằng cách này hiện tƣợng văn học sẽ đƣợc nhìn nhận trong những mối

có thể rút ra từ các phƣơng pháp khác. Do những con số thống kê khách
quan của nó ngƣời ta dễ có cơ sở để nói lên tính chính xác của phƣơng pháp
này. 6
Trên đây là một số phƣơng pháp cơ bản đƣợc chúng tôi sử dụng để
nghiên cứu đề tài này và để đạt đƣợc hiệu quả trong quá trình triển khai
chúng tôi sẽ kết hợp với một số phƣơng pháp nghiên cứu văn học khác nữa.
6.Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chƣơng:
Chƣơng 1: Cuộc đời và sự nghiệp
Chƣơng 2: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Thâm Tâm
Chƣơng 3: Phƣơng thức biểu hiện trong truyện ngắn Thâm Tâm


huyện là vựa lúa của tỉnh Hải Dƣơng nhƣ Tứ Kì, Gia Lộc, Ninh Giang,
Thanh Miện nhân dân đói kém phải bỏ nhà tha phƣơng đi ăn xin. Các tỉnh
lân cận nhƣ Thái Bình, Hƣng Yên ngƣời chết nhƣ ngả dạ. Năm 1938, Thâm 8
Tâm cùng gia đình chuyển lên Hà Nội kiếm sống, ở số 7 Đội Cung- tức phố
Thái Phiên bây giờ. Vợ của Thâm Tâm là công nhân của hãng dệt Phúc Lai,
bà quê gốc ở Thanh Hóa. Thâm Tâm đi làm suốt ngày, đêm về lại thức
khuya để viết lách, vẽ tranh. Gia cảnh của Thâm Tâm rất cơ hàn, túng quẫn.
Gia đình gồm cha mẹ già, hai chị cùng bốn đứa em còn nhỏ và vợ, có đến cả
chục miệng ăn và ngần ấy ngƣời dồn ép sống trong căn nhà thuê rộng
khoảng 20m
2
. Thâm Tâm nhận đóng sách ở nhà in Mai Lĩnh rồi mang nhận
thêm mang về cho cả gia đình làm, còn Thâm Tâm thì đi vẽ tranh minh họa
cho các báo, vẽ tranh bờ hồ đi bán ở các trại lính Tây, làm thơ, viết truyện,
viết kịch, tạp văn… gửi đăng báo vừa để sinh nhai vừa thỏa cái mộng văn
chƣơng hằng ấp ủ. Do chơi thân với Trần Huyền Trân và Phạm Quang Hòa
nên ba ngƣời rủ nhau ra làm báo Bắc Hà. Phạm Quang Hòa chỉ có năm mƣơi
đồng bạc bỏ ra còn bài vở thì chủ yếu là do Thâm Tâm và Huyền Trân chịu
trách nhiệm. Nhƣng chỉ đƣợc ba, bốn số thì hết tiền. Thu tiền báo ở các sạp
báo về cũng không đủ trả tiền giấy, tiền in nên đành phải đóng cửa tòa soạn
lại. Nhƣng máu nghề nghiệp và mƣu sinh không cho họ nản chí dừng lại. Có
thể nói là Thâm Tâm viết cật lực, không kén chọn lắm về đề tài, thể loại, nơi
in… Trong cuộc đời mình, Thâm Tâm đã chứng kiến những cảnh xót xa, đau
lòng: một cháu bé thoi thóp đang nhay bầu sữa mẹ mà mẹ đã chết cứng, chị
phụ nữ gầy tong teo đang xé xác một con chuột chết đƣa lên miệng, những
ngƣời chỉ còn da bọc xƣơng gầy đen, xám ngoét gục ngã ven đƣờng rồi chỉ
vài tiếng sau cũng thành thây ma bị xe bò đƣa ra hố chon ngƣời tập thể. Và

Du. Thơ của xóm này giàu hình ảnh các tráng sĩ lên đƣờng thời Chiến Quốc
Xuân Thu.Về nghệ thuật thì ta thấy rất rõ hơi thơ cổ phong toát lên từ thơ
của các nhà thơ này. Họ thích làm thơ ở thể hành- một thể thơ khá phổ biến
trong thơ Đƣờng. Nguyễn Bính nghiêng về thể loại thơ độc vận trong một số
bài thơ dài. Huyền Trân và Thâm Tâm sành về thể thất ngôn và lục bát. Chữ 10
nghĩa trong thơ nằm ở cả hai vùng sáng và mờ ngữ nghĩa, thiên về phía từ
trong thơ nôm cổ hoặc từ Hán- Việt nhƣng đã đƣợc Việt hóa nhuần nhuyễn.
Họ có cùng điểm chung là xuất thân từ thành phần dân nghèo trong xã hội cũ
mà xã hội lại dành cho những thành phần ấy một thân phận buồn tủi, u ám,
mờ mịt. Họ sống tù túng, ngột ngạt nên khao khát một khung trời khác, chƣa
đến đƣợc khung trời ấy họ tỏ ra bức bối, đập phá nhƣng vẫn không chịu lùi
bƣớc. Họ lại cùng một trình độ xấp xỉ nhƣ nhau, học nhiều chữ Hán, thơ
nôm cổ và ảnh hƣởng của văn học phƣơng tây thì hầu nhƣ không có. Họ vì
nghèo không đƣợc đến trƣờng lớp học nhiều nhƣng không vì thế mà tài năng
thiên bầm của họ bị tàn lụi.
Nói đến Thâm Tâm trƣớc Cách mạng những ai yêu mến ông cho tới
ngày nay cũng không thể nào quên một sự kiện gắn với ông, sự kiện ấy đã
tốn biết bao giấy mực tranh cãi, mấy chữ cái T.T.Kh đi đôi với Thâm Tâm đã
trở thành một hồ sơ văn học, một nghi án trong văn chƣơng. Nhân tiện đây,
chúng tôi cũng xin điểm lại sự kiện này.
Khoảng tháng 9 năm 1937, tờ Tiểu thuyết thứ Bảy đăng truyện ngắn
Hoa ti gôn của Nguyễn Thanh Châu. Thời gian ngắn sau, tòa soạn nhận đƣợc
một bài thơ tựa đề Bài thơ thứ nhất, sau đó nhận thêm bài Hai sắc hoa Ti
gôn nữa. Tác giả của hai bài thơ này kí tên là T.T.Kh mà không hề ghi rõ họ
tên cũng nhƣ địa chỉ liên lạc. Tiểu thuyết thứ Bảy có đề nghị tác giả cho biết
địa chỉ để gửi báo biếu thì nhà văn Thanh Châu nhận đƣợc một bức thƣ ngắn
với nội dung không muốn công khai tên tuổi làm gì vì cuộc đời riêng éo le

Tôi yêu gió lạnh lúc tàn canh,
Yêu trăng lạnh lẽo rơi trên áo,
Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành
Và một ngày kia tôi phải yêu
Cả chồng tôi nữa, lúc đi theo 12
Những cô áo đỏ sang nhà khác!
-Gió hỡi, làm sao lạnh rất nhiều?
(Bài thơ thứ nhất)
Những ngƣời tự nhận mình là ngƣời yêu của T.T.Kh đã làm những bài
thơ để đáp lại nàng: Thâm Tâm có bài Các anh, Mầu máu Ti gôn; Nguyễn
Bính có bài Cô gái vườn Thanh, Dòng dư lệ. T.T.Kh có gửi bài thơ Đao áo
cho chồng đến cho một ngƣời thì không biết thế nào bài thơ ấy lại đƣợc in
trên tờ báo Đàn bà. Sau đó T.T.Kh gửi đến tòa soạn bài thơ Bài thơ cuối
cùng có nội dung trách móc, oán hận rồi từ đó nhân vật T.T.Kh không còn
gửi gì đến tòa soạn nữa cũng nhƣ có phản ứng gì khi trên văn đàn xảy ra
cuộc tranh luận T.T.Kh- nàng là ai?
Nhƣ đã nói, cuộc tranh luận này đã tốn biết bao giấy mực, và chúng
tôi xin tổng kết lại những nhân vật có liên quan, họ nổi tiếng và có độ tin cậy
bởi họ là những ngƣời nổi tiếng, có địa chỉ và chức danh rõ ràng: nhà văn
Thanh Châu- ngƣời cùng thời với Thâm Tâm viết bài cho Tiểu thuyết thứ
Bảy cho rằng thơ của T.T.Kh khác hẳn phong cách thơ của Thâm Tâm và
cho rằng không cần tìm hiểu cô ấy là ai chỉ nên biết rằng một phụ nữ vào
thời điểm ấy làm thơ là đáng trọng. Một ngƣời đã cố tình quên đi, đào sâu
chôn chặt mối tình đau xót, bất hạnh nhất của mình mà có những bài thơ nhƣ
thế chỉ dám bộc lộ một lần khi đọc một truyện ngắn cùng cảnh ngộ gợi ra thì
hẳn không giống kẻ kém tài đức chỉ mong có nổi một bài thơ tình đƣợc đăng
lên báo, vì danh hay vì lợi. Nhà thơ Trần Huyền Trân và Nguyễn Bính là

là ta hãy nên để cho cái tên T.T.Kh đƣợc ở yên trong lòng bạn đọc xƣa nay
vốn hâm mộ ngƣời thơ.
Cách mạng là ngày hội của quần chúng, Cách mạng đã làm thay đổi
hầu nhƣ tất cả công dân của nƣớc Việt Nam và Thâm Tâm gia nhập Cách
mạng một cách tình nguyện và tự nhiên. 14
Năm 1947, Thâm Tâm gia nhập quân đội và ông làm thƣ kí cho tòa
soạn báo Vệ quốc dân. Nhà văn Vũ Cao trƣớc khi gặp Thâm Tâm có đọc thơ
Thâm Tâm lại hình dung Thâm Tâm là một ngƣời hơi ngang tàng một chút,
hơi chán chƣờng và hơi say một chút nhƣng khi gặp thì lại hoàn toàn khác.
Đó là một Thâm Tâm đen xạm, ngƣời gày gò nhƣ Nam Cao mà lại còn bé
hơn Nam Cao. Thâm Tâm làm việc rất nghiêm túc, cần cù, tỉ mỉ và làm đủ
mọi việc cho tờ báo: viết bài, trình bày, kẻ chữ, cắt xén… đặc biệt là Thâm
Tâm không hút thuốc, không nghiện trà, không uống rƣợu mà nếu có chỉ là
một chút lúc anh em vui. Thâm tâm cƣời rất ít, cƣời rất khẽ và nét mặt lạnh
lùng đến khắc khổ. Các đồng nghiệp quí trọng một con ngƣời say mê lí
tƣởng, nói ít làm nhiều, sôi nổi nhiệt tình trong công tác. Nhà văn Vũ Cao
nghĩ rằng sao một con ngƣời nhƣ thế lại viết đƣợc những câu thơ mà Vũ
Bằng cho rằng Thâm Tâm là một nhà phù thủy hô sóng vào lòng và gọi
hoàng hôn lên mắt. “Vậy cái tiếng sóng màu hoàng hôn ấy nó nằm ở chỗ nào
trong con ngƣời ấy? Và có phải đó chính là cái bí ẩn của tài năng nghệ thuật
mà ngƣời ta hay nói đến từ xƣa? Thực tế bề ngoài Thâm Tâm không có một
chút gì gọi là tài hoa và phóng khoáng nhƣ tôi thấy trong thơ anh…” [21,
tr102].
Năm 1950, trong chiến dịch biên giới, Thâm Tâm bệnh nặng rồi mất ở
Cao Bằng.
1.2 Sự nghiệp văn chƣơng.
Thâm Tâm trong đời sống văn học trƣớc năm 1945 đƣợc biết tới nhƣ

Đây cảnh cũ đâu người xưa
Tình cũ năm qua để hững hờ
Hoa dẫu mỉm cười nhưng có ý
Phảng buồn mặt phấn nét tương tư.
Giận thời gian, tiếc ngây thơ 16
Lòng xuân tình cảm bây giờ gửi ai?
Trinh quên mộng cũ đi rồi
Cảnh sinh xa vắng ngậm ngùi ly tao
Gặp Trinh trong bóng xuân đào
Đang khi quãng gió dạt dào chim ca
Má hồng, hồng đượm hương hoa
Rung rinh đọng giọt phấn nhòa sương rơi
Hoa xuân thắm, nụ xuân tươi
Quyện hoa hơn hớn, lòng ơi mộng lòng
Trinh tay nâng giấc cánh hồng
Với vần thơ hái mơ mòng tôi yêu…
Cũng chẳng ai biết sau bài thơ này Thâm Tâm còn lấy bút danh Trăm
Năm nữa không và ngƣời con gái tên Trinh đƣợc nhắc tới là ai. Bài thơ chƣa
thoát ra khỏi luồng tƣ duy lãng mạn của Thâm Tâm đã ƣơm mầm và nẩy
chồi từ mấy năm trƣớc đó đƣợc bắt gặp trong vở kịch ngắn Sương tháng
Tám. Vở kịch kể chuyện trong một đêm trăng sáng, cô vũ nữ đi làm về bắt
gặp ngƣời nghệ sĩ trƣớc kia đã thuê cô làm ngƣời mẫu nên cô trèo qua cửa
sổ, bƣớc vào và ghé đến bên ngƣời nghệ sĩ, thả lời yêu đƣơng. Song nghệ sĩ
mải mê ngắm một bức tƣợng khác tên “Ngƣời khắc khổ”. Cô vũ nữ cứ sán
đến đòi nghệ sĩ cho ở lại qua đêm. Cô kể cho nghệ sĩ nghe nỗi khổ tâm vì bị
ngƣời cha ruồng bỏ do cô dại dột trở thành cô gái hƣ từ ngày cô mƣời sáu
tuổi. Nghệ sĩ dƣờng nhƣ xúc động vì mối quan hệ giữa anh và cô vũ nữ trƣớc

Chim muốn bay, cũng giữ chẳng được nào,
Tình đã chết, có mong gì sống lại.
và can đảm chấp nhận sự ra đi ấy tuy trong lòng vô cùng đau khổ, luyến tiếc,
tỏ ra cao thƣợng:
Anh không trách chi em điều ngang trái, 18
Anh không buồn số kiếp quá mong manh!
Có gì đâu khi bướm muốn xa cành
Anh cứ tiếc cái gì xưa đã chết.
nên nhà thơ trải nỗi lòng bằng cách mƣợn những dòng thơ để giãi bày tâm
trạng:
Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết,
Anh càng buồn, càng muốn kết thành thơ;
Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ,
Đây bài thơ chót kính dâng lên tặng bạn.
Đau buồn vì tình tan vỡ, lại nhận đƣợc kỉ vật là cánh hoa dáng tim vỡ
đã tàn phai gửi trả lại mình, nhà thơ chỉ biết kêu lên:
Anh biết làm sao được hở trời!
Dứt tình không nỡ, nhớ không thôi!
Thôi em hãy giữ cành hoa úa,
Kỷ niệm ngàn năm một cuộc đời!
Khác với những bài thơ tình nhƣ Gửi T.T.Kh, Màu máu ti gôn, Dang
dở, Hoa gạo… khóc than cho những câu chuyện tình yêu thì từ bài Tống biệt
hành nhà thơ nhƣ trút đi cái vỏ ủy mị, thay vào đó là giọng điệu rắn rỏi,
cƣơng quyết của chí làm trai ra đi vì việc lớn.
Hiện thực cuộc sống thời Thâm Tâm sống qua sáng tác của các nhà
văn, nhà thơ cùng thời đƣợc phản ánh rất phong phú và sinh động, một thế
hệ sau nhƣ chúng tôi ví dụ chƣa đọc hay học qua lịch sử nhƣng đọc qua

Khi những lòng đau ngã xuống giường
(Hoa gạo)
Cũng cái nhìn ấy lan tỏa ra khi Thâm Tâm vẽ lại những cảnh đời khác,
cảnh đời của những “đời trai trong góa bụa… thắt lạnh bên lòng nỗi hận
thƣơng”, của những thầy khóa khom lƣng viết kiếm chút tiền sống qua 20
những ngày tết, của những “lão buồn đi bán cành hƣơng thắm” hoa thì đỏ mà
áo thì bạc mờ, của những cô gái bán trinh một giờ, “vợ ngƣời cơ nhỡ bán con
thơ”, “những trai cùng đƣờng bán thân cao trọng”… Có lúc Thâm Tâm
mƣợn cả chuyện xây vạn lý trƣờng thành ở Trung Quốc để nói lên nỗi căm
giận của mình khi chứng kiến hiện thực cuộc sống ở quê hƣơng mà nhà thơ
muốn tố cáo. Đó là cảnh “nghìn muôn vợ trẻ nhớ trai phu”, “trăm thân già
héo trong chiều xế, lặng kiếm hồn con xuất ải dài”, những chinh phụ mớm
cơm cho con, nuôi cha già “nhịn đói chờ lƣơng kẻ thú phu”, những sơn thôn
hết cả trai vì bị bắt đi đắp vạn lí trƣờng thành tất cả đã bỏ thân chết ở ngoài
biên một triệu lần.
Nhƣ đa phần các thi nhân cùng thời, Thâm Tâm có nỗi buồn riêng. Vì
lẽ đó thơ Thâm Tâm buồn nhƣ chính cái cuộc đời lẩn quẩn quanh bát cơm,
mảnh áo và trốn vào đâu cũng không thoát khỏi cái cảnh đói kém chạy bữa
cùng gia đình. Trong thơ Thâm Tâm thƣờng xuất hiện những cảnh đời đen
bạc, những tâm trạng đau buồn, u uất. Những tâm trạng mệt mỏi, bức bối thể
hiện qua các từ ngữ nhƣ: trái tim đau, lòng đau, đau vạn thuở, hoa úa, hoa
tàn, tro tàn, canh tàn, khuya tàn, dấu vết tàn, rƣợu say, chiều xế, cảnh ác tà,
hận thƣơng, kiếp thƣơng sinh, lệ thầm, lệ sót, màu tang, trời tang, tang tóc,
sầu chất ngất, sầu thời gian, bóng sầu, sầu biết mấy, non tím, nắng tà, đầu
bạc, thân già héo, mặt u trầm, mặt vàng, màu xƣơng, huyết lệ, mồ mả, bài vị,
bát nhang, cỏ vàng, cơm cúng, lòng đơn, se lòng, góa bụa lận đận, long
đong, đắng cay, khắc khoải… Thâm Tâm thể hiện nỗi buồn qua nhiều sắc

đƣợc nhà thơ đi về đâu, hƣớng nào.
Để thể hiện tinh thần quyết tâm ra đi, Thâm Tâm chọn thể hành, một
thể thơ cổ Trung Quốc mà nhiều nhà thơ cổ điển phƣơng Đông hay dùng.
Ngoài các bài nhƣ Tống biệt hành, Vọng nhân hành, Can trường hành là
những bài biểu thi trực tiếp cái khí thế ra đi thi những bài nhƣ Các anh, 22
Chào Hương sơn, Ngược gió, Lưu biệt… cũng có những hình ảnh, cảm xúc,
suy nghĩ về sự ra đi.
Nhà thờ ra đi không chỉ để bày tỏ chí khí của mình mà còn biểu lộ
khát vọng thoát khỏi những cảnh đời tù hãm, bạc bẽo của thế thái nhân tình.
Đọc thơ Thâm Tâm chúng ta thấy ẩn sau nỗi đau cuộc đời là một tâm hồn
thống thiết, rắn rỏi, dứt khoát mà không nhẫn tâm, cay đắng xót xa nhƣng
không hề bi lụy:

Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.
(Tống biệt hành)
Thơ Thâm Tâm có khoảng mƣời tám bài thì có đến mƣời ba bài trực
tiếp nói về sự ra đi. Đây thực sự là một con số ấn tƣợng. Sự ra đi, sự hành, sự
biến. sự vận động, đổi thay… với mức độ đậm đặc đã nói lên một đặc trƣng
của thơ Thâm Tâm.
Đọc thơ Thâm Tâm, chúng ta cảm đƣợc cái phong vị cổ xƣa phảng
phất và nét cách tân hiện đại về âm điệu, nhịp điệu trong khuôn khổ của câu
thơ bảy chữ. Thâm Tâm vận dụng thuần thục thể thơ Đƣờng nhƣng trong

thắng lợi và trở thành con ngƣời khắc hẳn một Thâm Tâm trầm lặng ít nói
ngày thƣờng.
Thâm Tâm tham gia làm bích chƣơng, vẽ áp phích. Tài năng hội họa
của Thâm Tâm đƣợc sử dụng nhiều hơn là làm thơ ca ngợi thắng lợi Cách
mạng thành công, ca ngợi quần chúng nhân dân anh hùng. Tờ Tiên phong số

Trích đoạn Điểm nhìn trần thuật chủ quan Sự di chuyển điểm nhìn Ngôn ngữ và giọng điệu Ngôn ngữ độc thoại Ngôn ngữ đối thoại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status