LUẬN văn THẠC sĩ quan điểm của v i lênin về bình đẳng dân tộc và sự vận dụng của đảng cộng sản việt nam ở nước ta hiện nay - Pdf 52

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1: QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ BÌNH ĐẲNG

3

DÂN TỘC
1.1. Cơ sở khoa học quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc
1.2. Nội dung quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc
Chương 2: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG

11
11
25

QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ BÌNH ĐẲNG
DÂN TỘC - KẾT QUẢ VÀ ĐỊNH HƯỚNG VẬN
DỤNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. Sự vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng

48

dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới từ năm 1986 đến nay
2.2. Những yếu tố tác động và định hướng vận dụng quan điểm

48

của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam hiện nay


tài sản vô giá để các đảng cộng sản và phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế vận dụng trong giải quyết vấn đề dân tộc. Ngày nay, dù thế giới đã có sự
phát triển vượt bậc trên mọi phương diện, song vấn đề dân tộc luôn là vấn đề
nóng bỏng đang bị bọn cơ hội chính trị, kinh tế thế giới lợi dụng chia rẽ, gây
mất đoàn kết giữa các dân tộc trong một quốc gia và giữa các quốc gia trên
thế giới với nhau.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng ta luôn vận dụng trung thành, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào
2


hoạch định, thực thi đường lối cách mạng và đã đem lại nhiều thành tựu to lớn.
Trong đó, quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc đã trở thành cơ sở
khoa học để Đảng, Nhà nước ta vận dụng giải quyết đúng đắn những vấn đề
dân tộc, góp phần tập hợp lực lượng tạo thành sức mạnh to lớn trong sự nghiệp
đấu tranh cách mạng cũng như quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa. Ngày nay, chúng ta vững bước trên con đường đổi mới, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng cường hội nhập quốc tế.
Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực tiền ẩn
nhiều nguy cơ, khó lường nhất là khu vực biển Đông. Trong nước tình trạng
tiêu cực, tham nhũng diễn ra phổ biến chậm được khắc phục, sự suy thoái
phẩm chất chính trị, đạo đức của một bộ phận cán bộ đảng viên do tác
động của mặt trái nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã
làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội
chủ nghĩa. Đặc biệt, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch lợi
dụng hạn chế yếu kém trong giải quyết một số vụ việc liên quan đến vấn
đề dân tộc để kích động hằn thù dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc,
chia rẽ mối quan hệ giữa dân tộc Việt Nam với các nước trong khu vực và
trên thế giới…Thực tiễn đó đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu sâu
sắc hơn quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc, một mặt khẳng

Trịnh Quốc Tuấn (chủ biên) (1996), Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện
nay - Vấn đề và giải pháp, Nxb CTQG, Hà Nội. Trên cơ sở trình bày những
quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
bình đẳng dân tộc, các tác giả đã phân tích thực trạng tình hình các dân tộc ở
nước ta, sự phát triển không đồng đều, tình trạng chênh lệch trên nhiều lĩnh
vực giữa các dân tộc; tìm hiểu nguyên nhân của sự chênh lệch đó và nêu ra
các phương hướng, giải pháp để góp phần từng bước khắc phục sự phát triển
không đều giữa các dân tộc, tiến tới thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân
tộc ở nước ta, trong đó có đề cập đến bình đẳng về văn hóa.
Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa (chủ biên) (1998), Phát triển kinh tế xã hội các vùng dân tộc và mền núi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, Nxb CTQG, Hà Nội. Cuốn sách đã phân tích thực trạng, những khó
khăn, bất cập trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc và
miền núi và đưa ra các giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội các địa bàn
đã nêu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
4


Nguyễn Quốc Phẩm, Trịnh Quốc Tuấn (1999), Mấy vấn đề lý luận và
thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội. Các
tác giả đã đưa ra một số khái niệm liên quan đến dân tộc, quan hệ dân tộc và
vấn đề dân tộc trên cơ sở đó trình bày thực tiễn vấn đề dân tộc và chính sách
dân tộc ở Việt Nam. Trong đó đã đề cập đến quan hệ dân tộc về văn hóa. Đồng
thời, các tác giả còn đề cập đến một số nội dung như: quản lý xã hội, nội dung
công tác cán bộ, đào tạo cán bộ trong chính sách dân tộc hiện nay ở nước ta.
Phan Hữu Dật (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan
đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội. Cuốn sách đã tập trung
làm rõ những khái niệm cơ bản của dân tộc học như: cách gọi tên tộc người, tiêu
chí xác định thành phần tộc người, văn hóa tộc người, đồng thời cũng đánh giá
mối quan hệ dân tộc ở nước ta hiện nay trên các lĩnh vực kinh tế - chính trị, văn
hóa - xã hội, dự báo xu hướng của mối quan hệ này và gợi mở một số phương

quốc gia đa tộc người, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, đã trình bày một cách
hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
công bằng, bình đẳng xã hội từ góc độ dân tộc, quan hệ dân tộc. Trên cơ sở
đó, tác giả nhìn nhận về những vấn đề dân tộc và sự phát triển của các quốc
gia dân tộc trong bối cảnh và xu thế hiện nay của thế giới nói chung, về tăng
cường hợp tác giữa các tộc người ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi Việt Nam
nói riêng. Từ đó tác giả đã phân tích các nội dung, điều kiện, biện pháp và nêu
lên một số kiến nghị để góp phần thực hiện công bằng, bình đẳng giữa các tộc
người ở các vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay.
Các công trình nghiên cứu chuyên khảo về quan điểm, chính sách dân
tộc của Đảng, Nhà nước ta
Nguyễn Quốc Phẩm (2005), Nhận thức của Đảng ta về vấn đề dân tộc,
chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới, bài viết trong tập sách “Nhìn lại quá
trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986-2005”, Nxb CTQG, Hà Nội, tập
2, tr.265-281. Tác giả đã làm rõ sự phát triển nhận thức của Đảng trong thời
kỳ đổi mới về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc.
Phan Xuân Sơn, Lưu Văn Quảng (chủ biên) (2005), Những vấn đề cơ
bản của chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay, Nxb Lý luận Chính trị, Hà
Nội. Cuốn sách đã trình bày quan niệm về dân tộc, vùng dân tộc, chính sách
dân tộc của Đảng, Nhà nước qua các giai đoạn cách mạng. Đồng thời cuốn
6


sách cũng chỉ ra thực trạng việc thực hiện chính sách dân tộc trong những
năm qua để đưa ra một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt
chính sách dân tộc trong những năm tới.
Thực hiện chính sách dân tộc, vấn đề và giải pháp. (Kỷ yếu hội thảo
của Tạp chí Cộng sản - Ủy ban Dân tộc, Hà Nội, 2004). Các bài viết đều tập
trung vào việc làm rõ những vấn đề như: quan điểm, chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc;

Làm rõ quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc và sự vận dụng
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; từ đó, đề xuất định
hướng một số nội dung vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân
tộc ở nước ta trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở khoa học hình thành và nội dung quan điểm của
V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc.
- Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực hiện bình đẳng
dân tộc ở nước ta trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay và định hướng
vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc và sự vận dụng của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân
tộc thông qua các tác phẩm và hoạt động của Ông; sự vận dụng quan điểm
V.I.Lênin về về bình đẳng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới từ năm 1986 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử tư tưởng và phương
pháp liên ngành của các môn khoa học xã hội và nhân văn như: Phương pháp
8


lịch sử - lôgic; phương pháp nghiên cứu tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa xã

dân tộc theo nghĩa tộc người (ethnic, ethnie) và dân tộc theo nghĩa quốc gia
dân tộc (Nation - state).
Trong Đại từ điển tiếng Việt khái niệm “dân tộc” lại được hiểu theo ba
nghĩa: (1) Dân tộc là cộng đồng người ổn định hình thành trong quá trình lịch
sử của xã hội, có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống kinh tế và tâm lý; (2)
Dân tộc là một tộc người (DTTS); (3) Dân tộc là một cộng đồng người ổn
định làm thành nhân dân một nước, một quốc gia gắn bó với nhau trong
truyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi. [83, tr.538].
Trong Từ điển Bách Khoa Việt Nam thì khái niệm “dân tộc” được hiểu
theo hai nghĩa là:
1. Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội
được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu
do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng
đồng mang tính tộc người (ethnic) của bộ phận tộc người. Một cộng đồng dân
tộc thường bao gồm nhiều cộng đồng người, với nhiều ngôn ngữ, yếu tố văn
hóa thậm chí nhiều chủng tộc khác nhau. Ngày nay, do không gian xã hội
được mở rộng mang tính toàn cầu, do phương tiện đi lại, mỗi cộng đồng dân
tộc lại có thêm nhiều bộ phận của các cộng đồng tộc người tham gia, nên tình
trạng dân tộc đa tộc người là phổ biến.
2. Dân tộc (ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người,
thí dụ dân tộc Tày, dân tộc Bana, v.v.. Cộng đồng có thể là chủ thể hay thiểu
10


số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau
được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý
thức tự giác tộc người [21, tr.655].
Theo nghĩa thứ nhất, dân tộc là khái niệm được dùng để chỉ một cộng
đồng tộc người (ethnic, ethnie) có chung ngôn ngữ, lịch sử - nguồn gốc, đời
sống văn hóa và ý thức tự giác dân tộc. Ví dụ: dân tộc Kinh, dân tộc Mông,

Hiện nay, BĐDT thường được quan niệm: là quyền lợi của mọi dân tộc
không phân biệt lớn hay nhỏ, đa số hay thiểu số, trình độ văn hoá cao hay
thấp, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo… trên tất cả các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội, ngôn ngữ.
Bình đẳng giữa các dân tộc không chỉ là một nguyên tắc căn bản trong
quan hệ dân tộc mà đây là một quyền lợi cơ bản và tiên quyết của mỗi dân
tộc. Các dân tộc dù lớn hay nhỏ, dân số nhiều hay ít, có trình độ phát triển cao
hay thấp đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, không có đặc quyền đặc lợi
về kinh tế, chính trị, văn hóa, ngôn ngữ cho bất cứ dân tộc nào.
Trong quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc, mọi quốc gia đều bình đẳng
trong quan hệ quốc tế. Hiện nay, quyền BĐDT là cơ sở pháp lý chung để giải
quyết các quan hệ dân tộc trên thế giới, trong khu vực hay trong một quốc gia.
Nó đã được ghi nhận trong công pháp quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia.
Trong một quốc gia đa dân tộc, BĐDT vừa là quyền, vừa là một trong
những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các dân tộc và giải quyết quan hệ
giữa các dân tộc, đảm bảo cho sự đoàn kết dân tộc và phát triển bền vững của
cả quốc gia dân tộc. Bình đẳng dân tộc chính là bảo đảm các quyền cơ bản
của mỗi con người và mỗi dân tộc, trong đó có quyền sống, quyền tự do,
quyền mưu cầu hạnh phúc và phát triển.
Bình đẳng dân tộc là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi dân
tộc. Hiện nay, BĐDT được khẳng định trong Hiến chương Liên hợp quốc và
là nguyên tắc trong quan hệ quốc gia dân tộc.
* Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về dân tộc là cơ sở lý luận quan
trọng để V.I.Lênin đề ra quan điểm về dân tộc và vấn đề dân tộc
Tuy C.Mác và Ph.Ăngghen chưa trình bày tập trung, có hệ thống về dân
tộc và VĐDT nhưng những tư tưởng, quan điểm của các ông đóng vai trò là
cơ sở lý luận để V.I.Lênin kế thừa, bổ sung và phát triển quan điểm về VĐDT
và giải quyết VĐDT.
12


CNTB xây dựng thành công CNXH trên phạm vi mỗi nước và trên toàn thế
13


giới. Xóa bỏ được CNTB là đã giải quyết được VĐDT trên phạm vi quốc gia dân tộc và quốc gia - đa dân tộc. Chính vì vậy, hai ông kiên quyết chống lại
ách áp bức, bóc lột các dân tộc của GCTS nhằm giải phóng các dân tộc bị áp
bức, trong đó, GCCN là giai cấp triệt để nhất thực hiện nhiệm vụ này. Các
ông cho rằng: “Giai cấp vô sản chiến thắng giai cấp tư sản đồng thời còn có
nghĩa là khắc phục tất cả những cuộc xung đột dân tộc và xung đột công
nghiệp hiện nay đang sinh ra sự thù hằn giữa các dân tộc. Vì vậy mà thắng lợi
của giai cấp vô sản đối với giai cấp tư sản, đồng thời còn là dấu hiệu giải
phóng tất cả các dân tộc bị áp bức” [53, tr.527]. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản”, hai ông khẳng định: “Hãy xoá bỏ tình trạng người bóc
lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ.
Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì
sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo” [53, tr.624].
Không những vậy các ông còn nhận thấy, đối lập với chủ nghĩa dân tộc tư
sản là chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết quốc tế giai cấp công
nhân, lợi ích dân tộc của công nhân mỗi nước phù hợp với lợi ích chung của
giai cấp công nhân quốc tế, giải quyết hài hòa dân tộc và quốc tế
Trong khi nhấn mạnh vai trò của nhân tố giai cấp, C.Mác và Ph.Ăngghen
cũng không xem nhẹ nhân tố dân tộc. Vấn đề dân tộc là một trong những vấn
đề quan trọng hàng đầu của cách mạng vô sản song nó chỉ được nhận thức và
giải quyết đúng đắn trên lập trường của GCCN.
Cuộc đấu tranh của GCCN về bản chất mang tính chất quốc tế và đoàn
kết quốc tế là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi cuối cùng của sự
nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Hai ông thường xuyên nhấn
mạnh rằng, GCCN các nước trước hết là các nước tư bản lớn, phải thoát khỏi
những thiên kiến của chủ nghĩa dân tộc tư sản. Các nhà sáng lập chủ nghĩa
Mác chỉ rõ rằng, đảng của GCCN không lúc nào được coi nhẹ việc giáo dục

và ở vào trình độ phát triển tư sản xấp xỉ ngang nhau, cho nên lẽ dĩ nhiên là
yêu sách về bình đẳng phải mang một tính chất chung, vượt ra ngoài ranh giới
của một quốc gia riêng biệt, là tự do và bình đẳng phải được tuyên bố là
những quyền của con người” [56, tr.153].
Trong thư gửi La Phacgơ năm 1893, Ph.Ăngghen đã từng khẳng định:
“Sự bình đẳng giữa các dân tộc cũng cần thiết như sự bình đẳng giữa các cá
15


nhân” [57; tr.125]. Tuy nhiên, trong xã hội tư bản, quyền bình đẳng giữa các
dân tộc với tư cách là quyền con người đã phản ánh “đặc thù tư sản”.
Ph.Ăngghen đã phê phán cái “đặc thù tư sản” ấy thể hiện trong Hiến pháp của
nước Mỹ khi thần thánh hóa đặc quyền chủng tộc, tức là tạo nên sự bất công,
bất bình đẳng trong quan hệ dân tộc: “Đồng thời sự việc sau đây cũng nói lên
tính chất đặc thù tư sản của những quyền con người ấy: hiến pháp của nước Mỹ,
hiến pháp đầu tiên đã thừa nhận quyền của con người, đồng thời cũng lại chuẩn
y luôn cả chế độ nô lệ của người da màu đang tồn tại ở nước Mỹ; đặc quyền giai
cấp bị cấm chỉ, đặc quyền chủng tộc được thần thánh hóa” [56, tr.153].
Theo quan điểm của hai ông, thực chất của việc thực hiện công bằng,
BĐDT là phải xóa bỏ những khác biệt về giai cấp, xóa bỏ áp bức giai cấp, áp
bức bóc lột giữa người với người. Hai ông đã bày tỏ quan điểm nêu trên khi
phê phán những quan điểm mơ hồ, lệch lạc của Látxan: “Thay vào cái câu kết
luận mơ hồ ở cuối đoạn là: “thủ tiêu mọi sự bất bình đẳng về xã hội và chính
trị” thì đáng lẽ phải nói là: cùng với việc thủ tiêu những sự khác biệt giai cấp
thì mọi sự bất bình đẳng về xã hội và chính trị bắt nguồn từ những sự khác
biệt giai cấp đó, tự chúng cũng không còn nữa” [55, tr.43].
Cần phải đặt vấn đề công bằng, bình đẳng xã hội trong quan hệ dân tộc
với quan hệ giai cấp. Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và
Ph.Ăngghen khẳng định rằng: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì
tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ. Khi mà sự đối

phải ra sức tìm ra những biện pháp hữu hiệu để bóc lột GCCN. Đây chính là
biểu hiện của bất bình đẳng giữa các dân tộc - tộc người trong từng quốc gia.
Để có lợi nhuận cao nhất, GCTS đã tiến hành những cuộc chiến tranh,
xung đột thế giới nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên các nước thuộc địa
cạn kiệt. Nó đã để lại hậu quả nặng nề cho quần chúng nhân dân lao động.
Tình trạng nghèo đói ngày càng gia tăng, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo
nước các nước ngày càng lớn. Chính điều đó cho thấy bất bình đẳng giữa các
quốc gia dân tộc với nhau ngày càng sâu sắc, đòi hỏi phải tiến hành cuộc cách
mạng XHCN lật đổ chế độ áp bức bóc lột, đem lại quyền tự do, bình đẳng,
bác ái thực sự cho nhân dân từng quốc gia và cho tất cả nhân loại.
Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để V.I.Lênin hình thành và đưa ra
quan điểm giải quyết mối quan hệ giữa đấu tranh giải phóng dân tộc và đấu
17


tranh giải phóng giai cấp trên phạm vi toàn cầu cũng như trong từng quốc gia
dân tộc trong thời đại đế quốc chủ nghĩa. Năm 1920, V.I.Lênin đưa ra khẩu
hiệu nổi tiếng mà ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị: “Vô sản tất cả các nước
và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Ông đã đánh giá đúng đắn vai trò cách
mạng có ý nghĩa thời đại của các dân tộc bị áp bức, chỉ ra sứ mệnh lịch sử của
GCCN, các dân tộc bị áp bức là nắm ngọn cờ dân tộc để lãnh đạo quần chúng
làm cách mạng.
Thứ hai, giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản
chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, tình thế cách mạng vô sản đã xuất hiện,
V.I.Lênin đã nghiên cứu, chỉ đạo cách mạng vô sản, đề ra cương lĩnh dân tộc
Đặc trưng cơ bản nhất của giai đoạn này là sự ra đời các tổ chức độc
quyền và sự bóc lột ngày càng tinh vi hơn đối với nhân dân lao động làm cho
mâu thuẫn trong xã hội ngày càng gay gắt. Sự xuất hiện các tập đoàn tư bản
xuyên quốc gia, đa quốc gia tạo ra khả năng hình thành hệ thống kinh tế thế
giới mới. Tính chất đế quốc và tính chất phát triển không đồng đều của CNTB

gia bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế, các nước thực dân, đế quốc tiếp tục
đẩy mạnh nô dịch và bóc lột các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc.
Từ tháng 11 năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, kết cục
của cuộc chiến tranh này đã tác động mạnh mẽ đến cục diện chiến lược quốc
tế, làm thay đổi hoàn toàn tương quan lực lượng cũng như tình hình thế giới,
đặc biệt là đối với châu Âu.
Đồng thời thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 cũng
tạo ra một chuyển biến căn bản của tình hình thế giới. CNTB không còn tồn
tại như một hệ thống duy nhất thống trị thế giới nữa. Sự tồn tại của Nhà nước
XHCN đầu tiên trên thế giới đã trở thành một thách thức to lớn đối với thế
giới TBCN, buộc các nước này phải tìm cách dàn xếp để đối phó. Trong bối
cảnh đó, để giải quyết những vấn đề do chiến tranh đặt ra, các hội nghị hòa
bình được triệu tập. Hệ thống hòa ước Vecxai (Versailles) và sau đó là Hệ
thống hiệp ước Oasinhtơn đã được ký kết nhằm tổ chức lại thế giới sau chiến
tranh, phù hợp với tương quan lực lượng mới.
Như vậy, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, cục diện chính trường thế
giới có nhiều thay đổi, dù thắng hay bại các nước đế quốc đều bị kiệt quệ nặng
nề. Song, bên cạnh những nước bị suy yếu, xuất hiện một số nước phát triển
mạnh: Mỹ, Nhật, Tây Âu. Do đó, các nước đế quốc đã họp bàn phân chia lại thị
19


trường thế giới, ra sức áp bức, nô dịch các nước thuộc địa phụ thuộc. Đây chính
là nguyên nhân châm ngòi nổ cho cuộc cách mạng XHCN.
Thứ tư, trước Cách mạng Tháng Mười năm 1917, V.I.Lênin đã hoạt
động cách mạng ở nhiều nước, đã chứng kiến sự nô dịch dân tộc ở trong và
ngoài nước Nga Sa Hoàng từ 1913 - 1916.
Những năm 1907 - 1917 là thời kỳ diễn ra cuộc khủng hoảng về thế
giới quan ở nhiều nhà vật lý học. Điều này tác động không nhỏ đến việc xuất
hiện những tư tưởng duy tâm theo quan điểm của chủ nghĩa Makhơ và phủ

đoàn kết lại!”. Dưới ngọn cờ của Ông, Liên bang Cộng hòa XHCN Xôviết và
hệ thống XHCN thế giới được hình thành; chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt; các
dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập dân tộc, làm cho hệ thống thuộc địa
của chủ nghĩa đế quốc tan rã.
Ngay sau khi cách mạng vừa thắng lợi, hành động đầu tiên của Chính
quyền Xôviết là thông qua Sắc lệnh của V.I.Lênin về hòa bình. Chính phủ
Xôviết đề nghị nhân dân và chính phủ tất cả các nước tham chiến ký kết một
hòa ước với những điều kiện công bằng hợp lý đối với tất cả các dân tộc, tức là
một hòa ước không có sự thôn tính và không có bồi thường chiến tranh. Trong
báo cáo của V.I.Lênin và trong Sắc lệnh về hòa bình đã nêu những nguyên tắc
của một kiểu quan hệ quốc tế mới xây dựng không phải trên cơ sở áp bức các
dân tộc nhỏ yếu, mà là trên cơ sở thiết lập một nền hòa bình giữa tất cả các dân
tộc, thừa nhận quyền bình đẳng của các dân tộc, nền độc lập của tất cả các quốc
gia. Sắc lệnh của V.I.Lênin đã đem chính sách cùng tồn tại hòa bình giữa các
nước có chế độ xã hội khác nhau, ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp
bức để giành quyền tự quyết, dân chủ và CNXH, đối lập lại chính sách xâm lược
và tiến hành các cuộc chiến tranh phản động của chủ nghĩa đế quốc.
Ngày 02 tháng 11 năm 1917 (theo lịch Nga cũ), Chính phủ Xôviết đã
tuyên bố bản “Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc nước Nga”. Tuyên bố
khẳng định những nguyên tắc căn bản của Chính quyền Xôviết đối với các
VĐDT, khẳng định quyền bình đẳng không chỉ đối với các dân tộc trong nước
Nga mà còn khẳng định quyền tự quyết, bình đẳng của các dân tộc thuộc địa
của Nga hoàng. Ngày 10 tháng 01 năm 1918, Đại hội Xôviết toàn Nga lần thứ
III đã khai mạc, Đại hội quyết định hợp nhất các Xôviết đại biểu nông dân với
Xôviết đại biểu công nhân và binh lính, thông qua bản “Tuyên ngôn về quyền
21


lợi của nhân dân lao động và bị bóc lột”. Trong bản tuyên ngôn đã chỉ thị
thành lập Hồng quân, đã tuyên bố những nguyên tắc cơ bản của chính sách


quần chúng nhân dân, tiếp tục bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác qua một
loạt tác phẩm nổi tiếng như: “Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng
sản” (1920), “Về chính sách kinh tế mới” (1921), v.v.. trong đó có tác phẩm
nổi tiếng “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn
đề thuộc địa” của V.I.Lênin thường được gọi tắt là Luận cương của
V.I.Lênin hay Sơ thảo luận cương. Đây là một trong những văn kiện được
Người viết xong vào tháng 6, 7 năm 1920 để trình bày tại Đại hội II Quốc tế
Cộng sản, họp từ 19 tháng 7 đến 07 tháng 8 năm 1920.
Sau chiến tranh Nhà nước Xôviết non trẻ đang cần được bảo vệ hơn
bao giờ hết. Điều có ý nghĩa là bảo vệ trung tâm của cách mạng vô sản thế
giới, bảo vệ học thuyết cách mạng của C.Mác. Do vậy, việc củng cố các đảng
chuẩn bị cho việc tiến hành chuyên chính vô sản trên phạm vi toàn thế giới và
liên hiệp tất cả những người vô sản cách mạng ở những nước tư bản tiên tiến
với quần chúng cách mạng bị áp bức, bóc lột ở các nước thuộc địa, ở các
nước phương Đông được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong chương
trình nghị sự của Đại hội II Quốc tế Cộng sản.
Trong điều kiện như vậy, V.I.Lênin đã soạn thảo những luận cương về
VĐDT và vấn đề thuộc địa. Tác phẩm tuy ngắn gọn nhưng vô cùng quan
trọng. Nó đã củng cố những nguyên tắc mácxít về VĐDT và vấn đề thuộc địa.
Theo đó, V.I.Lênin đã chỉ ra VĐDT luôn phải đi đôi với vấn đề thuộc địa,
quyền tự quyết của các dân tộc bao gồm quyền tự quyết của các dân tộc thuộc
địa phải đi đến công nhận, thực hiện quyền độc lập tự chủ chứ không phải chỉ có
tự trị văn hóa; V.I.Lênin còn nêu rõ để chiến thắng hoàn toàn CNTB, đảm bảo
cho các dân tộc giành lại được độc lập, thì phải thực hiện sự liên minh, thống
nhất của GCVS tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
V.I.Lênin khẳng định rằng: “Điều quan trọng nhất trong chính sách của
Quốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa phải là làm cho vô
sản và quần chúng lao động của tất cả các dân tộc và tất cả các nước gần gũi
nhau để tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng chung nhằm lật đổ bọn địa chủ

dân tộc, không trừ một dân tộc nào trên thế giới hay giữa các dân tộc ở trong
một nước nhất định. Chỉ có quyền tự do đầy đủ và đảm bảo giải quyết được
thực sự VĐDT bằng cách thừa nhận quyền bình đẳng hoàn toàn và quyền tuyệt
đối về tự quyết chính trị của tất cả các dân tộc, không trừ một dân tộc nào.
V.I.Lênin viết: “Đảm bảo giải quyết được thực sự vấn đề dân tộc bằng cách
24


thừa nhận quyền bình đẳng hoàn toàn và quyền tự quyết chính trị tuyệt đối của
tất cả các dân tộc” [27, tr.249].
Trong tác phẩm “Về bản tuyên ngôn của “Hội liên hiệp những người dân
chủ - xã hội”” được viết năm 1903, V.I.Lênin đã nhắc nhở những người trong
Hội liên hiệp, đó chính là thái độ của Hội liên hiệp đối với VĐDT. Ông trích
dẫn trong bản tuyên ngôn: “Nhận thấy thành phần dân tộc ở nước Nga bao gồm
nhiều dân tộc khác nhau hiện đang ở các trình độ phát triển văn hóa khác nhau,
và cho rằng chỉ có phát triển rộng rãi chế độ tự trị địa phương mới bảo đảm
được lợi ích của các thành phần không giống nhau ấy” [25, tr.128].
Bình đẳng giữa các dân tộc là không phân biệt dân tộc thuộc các chủng
tộc hay các tôn giáo khác nhau. Trong những năm 1902 - 1903, khi nói về
VĐDT V.I.Lênin chỉ rõ rằng, một trong những nguyên tắc cơ bản mà tất cả
những người dân chủ - xã hội phải tuân theo trong VĐDT là yêu sách về
quyền tự quyết của mỗi dân tộc nằm trong thành phần của quốc gia. Yêu sách
đó có nghĩa là đảng của GCVS bao giờ cũng phải đấu tranh một cách vô điều
kiện chống áp bức dân tộc, chống lại mọi ý đồ muốn dùng bạo lực hoặc dùng
thủ đoạn phi nghĩa để từ bên ngoài tác động đến quyền tự quyết của nhân dân.
Sau này, V.I.Lênin đã giải thích rằng khi đề ra trong cương lĩnh yêu sách quyền
dân tộc tự quyết, Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga hiểu khái niệm tự quyết
với ý nghĩa là tự quyết chính trị, tức là quyền tách ra và thành lập một quốc gia
độc lập. Cương lĩnh bao gồm yêu sách về quyền bình đẳng hoàn toàn của công
dân (không phân biệt nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chủng tộc, dân tộc v.v.) và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status