Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (từ năm 1991 đến nay - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VŨ MẠNH HÙNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT LƯƠNG GIÁO
VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY (TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tôn giáo học

Hà Nội - 2012
2

3

MỤC LỤC
TrangMỞ ĐẦU

2

Chương 1
:
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT
LƯƠNG GIÁO
10
1.1.

Cơ sở hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo
10
1.2.

Hồ Chí Minh về đối tượng và mục tiêu của đoàn kế
t lương giáo
21
1.3.

Hồ Chí Minh về nội dung của đoàn kết lương giáo

31
1.4.

82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

84
4

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử - xã hội tồn tại từ hàng vạn năm
cùng với xã hội loài người. Từ khi xuất hiện, tôn giáo luôn là yếu tố tham gia
vào các quá trình xã hội, ảnh hưởng đến nhiều mặt đời sống con người. Chủ
nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra nguồn gốc, bản chất, chức năng và tính chất của
tôn giáo trong xã hội loài người, đồng thời cũng chỉ rõ vai trò tác động trở lại
của tôn giáo đối với xã hội.
Có nhiều ý kiến lưu tâm, nhấn mạnh và cảnh báo về hiện tượng “xâm
lăng văn hóa” qua “xuất khẩu” tín ngưỡng, tôn giáo. Chiêu bài “tôn giáo”,
“dân tộc” là hai trong những vấn đề thường được các thế lực thù địch sử dụng
để chống phá cách mạng Việt Nam. Vì vậy, việc nhận thức đúng vấn đề này
có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội hiện nay; đồng thời tránh được những vấn đề đáng tiếc có thể
xảy ra mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo. Từ khi nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối, chính sách đối với tôn giáo, tín
ngưỡng một cách đúng đắn và nhất quán nên đã vận động được đông đảo
quần chúng có tôn giáo tham gia vào sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc,
đồng bào có tôn giáo đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng giải
phóng dân tộc cũng như xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Đương thời, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn đề cao vai trò của quần

làm tổn hại khối đoàn kết toàn dân, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự xã
6

hội ở một số địa phương, tạo điều kiện cho các thế lực phản động bên ngoài
can thiệp vào công việc nội bộ của ta.
Đứng trước tình hình đó, việc tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật
về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới;
tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo; động viên
chức sắc, tín đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng
góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là yêu cầu cấp thiết
từ thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Trong di sản tư tưởng của Hồ Chủ tịch, đoàn kết lương giáo chiếm một
vị trí quan trọng. Theo Người, chỉ có “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” thì
mới có “thành công, thành công, đại thành công” được. Trong quá trình tìm
tòi lý luận để phục vụ thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn xác định
lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là
kim chỉ nam cho mọi hoạt động và cũng nhờ đó mà Đảng ta đã lãnh đạo toàn
dân tộc vượt qua những thách thức, nguy cơ để tận dụng tốt nhất những thời
cơ, đưa nước ta sánh vai với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Vì lý do đó, học viên chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn
kết lương giáo và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay” (từ năm 1991 đến nay) làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đại đoàn kết dân tộc nói chung, đoàn kết lương giáo nói riêng trong tư
tưởng Hồ Chí Minh là một vấn đề lớn đã được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm nghiên cứu một cách có hệ thống. Có thể kể đến các công trình, bài viết
sau:
Thứ nhất, các đề tài, các sách đã được xuất bản và luận văn, luận án.
- Lê Hữu Nghĩa - Nguyễn Đức Lữ (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về
tôn giáo và công tác tôn giáo, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội. Đây là cuốn sách có ý


- Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX 02 - 07 “Chiến lược đại đoàn kết
Hồ Chí Minh” do PGS.TS. Phùng Hữu Phú chủ biên, xuất bản năm 1995. Đây
là công trình nghiên cứu về chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh một cách hệ
thống, sâu sắc từ quá trình hình thành đến nội dung, nguyên tắc, phương pháp
đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong các giai đoạn, thời kỳ cách mạng Việt Nam.
- Đoàn kết với đồng bào Công giáo ở tỉnh Ninh Bình hiện nay theo
quan điểm của Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ khoa học Chính trị, năm 2011
của tác giả Lê Thị Sáu. Trong Luận văn, tác giả đã hệ thống hóa và làm rõ nội
dung cơ bản quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết với đông bào Công
giáo; làm rõ thực trạng đoàn kết với đồng bào Công giáo ở tỉnh Ninh Bình
hiện nay; tìm ra một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường đoàn kết với đồng
bào Công giáo theo quan điểm của Hồ Chí Minh ở tỉnh Ninh Bình.
Thứ hai, các bài viết công bố trên các báo, tạp chí.
- Nguyễn Đức Lữ (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương
giáo, Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 3. Trong bài viết này, tác giả đã nêu lên mục
tiêu đoàn kết lương giáo, đối tượng, nội dung và phương pháp thực hiện đoàn
kết lương giáo.
- Nguyễn Đức Lữ (2002), Ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo,
Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 9. Trong bài viết, tác giả đã nêu ra giá trị lí luận và
thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo trong kho tàng lí luận Mác -
Lênin, trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, trong việc hoạch định đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Ngoài ra còn có các bài viết của các tác giả như:
- Đỗ Quang Hưng (2007), Đổi mới nhận thức và chính sách về tôn giáo
của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 5.
- Nguyễn Đức Lữ (2007), Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong
pháp luật quốc tế và luật pháp Việt Nam, Tạp chí Quản lý Nhà nước, Số 142.
9


+ Hệ thống hóa và phân tích những nội dung tư tưởng cơ bản về đối
tượng, mục tiêu, nội dung và phương pháp của đoàn kết lương giáo trong tư
tưởng Hồ Chí Minh.
+ Phân tích và đánh giá sự vận dụng tư tưởng đoàn kết lương giáo
trong tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý, những quan điểm
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo và chính sách tôn giáo hiện nay.
Trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật, luận văn đã kết hợp
sử dụng một số phương pháp cụ thể sau: Phương pháp Lôgic lịch sử, phương
pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh và hệ thống hóa… nhằm tái
hiện một cách chân thực những quan điểm về đoàn kết lương giáo trong tư
tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
5. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi: Luận văn chỉ tập trung tìm hiểu những quan điểm cơ bản
về đoàn kết lương giáo trong tư tưởng của Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sự vận
dụng tư tưởng đó của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các Văn kiện Đại hội
Đảng, các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng từ năm 1991 đến nay.
- Đối tượng: Tư tưởng đoàn kết lương giáo của Hồ Chí Minh và sự vận
dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần vào tìm hiểu, kế thừa, hệ thống hóa và làm sâu sắc
thêm nhận thức về tư tưởng đoàn kết lương giáo của Hồ Chí Minh. Tìm hiểu
và đánh giá sự vận dụng tư tưởng đó của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai
11

đoạn hiện nay. Từ đó, luận văn cung cấp thêm cứ liệu để làm tài liệu tham
khảo cho những ai quan tâm.

Theo tác giả Nguyễn Như Ý thì: “Tư tưởng là quan điểm và ý nghĩ
chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội” [124, tr. 1704].
“Đoàn kết là kết thành một khối, thống nhất ý chí, không mâu thuẫn, chống
đối nhau” [124, tr. 534].
Theo PGS.TS Nguyễn Đức Lữ: “Khái niệm lương - giáo xuất hiện từ
thời nhà Nguyễn. Theo đó, Lương chỉ những người Việt Nam không theo đạo
Thiên Chúa. Như vậy, ta có thể hiểu rằng, tất cả những người không theo
Công giáo, những người theo Phật giáo, Đạo giáo… thuộc bên Lương; Người
theo Công giáo được gọi là Giáo. Tuy nhiên, khái niệm này có sự phát triển
qua các thời kỳ. Sau này, Lương là khái niệm để chỉ những người không theo
tôn giáo; còn Giáo là chỉ những người có tôn giáo. Hồ Chí Minh sử dụng khái
niệm Lương - Giáo ở nghĩa như trên khi Người nói: “Phải đoàn kết chặt chẽ
giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo…” [95, tr. 606]. Ngày nay,
khái niệm Lương - Giáo ít được sử dụng mà thay vào đó là cụm từ những
người có tôn giáo, tín ngưỡng và những người không có tôn giáo, tín ngưỡng”
[67, tr. 30].
Tư tưởng Hồ Chí Minh là đỉnh cao của văn hóa Việt Nam, là kết tinh
của những truyền thống tốt đẹp của văn hóa Việt Nam qua mấy nghìn năn lịch
sử. Tín ngưỡng, tôn giáo là một bộ phận của văn hóa, góp phần tạo nên truyền
thống văn hóa của mỗi dân tộc. Đúng như đã từng có ý kiến nhận xét: “Hình
ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật,
lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình
cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự
nhiên” [32, tr. 27].
13

Tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang tồn tại ở mọi quốc gia. Tuy thịnh, suy
từng lúc có khác nhau; vai trò và ảnh hưởng đối với đời sống xã hội không
hoàn toàn như nhau nhưng nhìn chung tôn giáo vẫn tồn tại trong suốt chiều
dài lịch sử nhân loại. Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, gắn đạo với

Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư
tưởng Nho giáo. Những ảnh hưởng đó được bắt nguồn từ người cha kính yêu
của Người. Những tư tưởng tiến bộ, nhân cách cao thượng của người cha đã
để lại những dấu ấn rất sâu đậm trong tâm hồn Người. Những khái niệm cơ
bản của Nho giáo như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cần, kiệm, liêm, chính, trung,
hiếu… đều được Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng một cách sáng tạo; Người
đã đưa vào đó những nội dung mới, nâng tầm trên nền khái niệm cũ để phù
hợp với cuộc sống mới, thời đại mới. Người giải thích: “Ngày xưa trung là
trung với Vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi. Ngày nay nước ta là nước
dân chủ cộng hòa… Cũng như trung là trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với
nhân dân, ta thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải làm
cho mọi người đều biết thương cha mẹ” [85, tr. 640].
Hồ Chí Minh bên cạnh việc chỉ ra những ưu điểm của Nho giáo, còn chỉ
ra những hạn chế của hệ tư tưởng này. Theo Người, tư tưởng đạo đức của Khổng
Tử “chỉ thích hợp với một xã hội bình yên không bao giờ thay đổi”, “Đạo đức
của ông hoàn hảo, nhưng nó không thể dung hợp được với các trào lưu tư tưởng
hiện đại” và “ông không phải là người cách mạng mà còn là vì ông tiến hành
một cuộc tuyên truyền mạnh mẽ có lợi cho họ (giai cấp thống thị)” [78, tr. 453].
Từ đó, Hồ Chí Minh rút ra bài học: “Những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn
thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử và về
mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin” [78, tr. 454].
15

Với Đạo giáo, Người cũng thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của mình. Ở
Hồ Chí Minh, chúng ta thấy phảng phất nét ung dung tự tại, thanh thản, nếp
sống hiền hòa thanh đạm, những nét này rất gần với tư tưởng của Lão Tử.
Trong chuyển đi Pháp, thăm nơi kỷ niệm Napôlêông, Hồ Chí Minh cho rằng,
trong đời có nhiều người vì không tri túc mà thất bại! Nếu Napôlêông biết gạt
bỏ tham muốn quá mức thì chắc nước Pháp không đến nỗi vì chiến tranh mà
chết người hại của. Như vậy, Hồ Chí Minh đã vận dụng tư tưởng của Đạo

Có thể nói, đặc điểm nổi bật của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là
tính khoan dung, không kỳ thị. Truyền thống văn hóa ứng xử của dân tộc Việt
Nam mang đậm tư tưởng khoan dung. Truyền thống đó cũng thể hiện rõ trong
tư tưởng về tín ngưỡng, tôn giáo. Dù là tôn giáo du nhập hay tôn giáo nội sinh
đều tồn tại hòa bình, ở Việt Nam không có chiến tranh tôn giáo. Tuy ở những
thời điểm nhất định, những “bất hòa” là không thể tránh khỏi; nhưng nó chủ
yếu là do các thế lực thù địch âm mưu chia rẽ vì mục đích chính trị của chúng.
Xét toàn diện thì tôn giáo Việt Nam có sự hòa hợp, cùng tồn tại, cùng phát
triển. Hiện tượng “tam giáo đồng nguyên” là một thực tế lịch sử. Đúng như
nhà nghiên cứu văn hóa Đào Duy Anh từng khẳng định: “Ở đời Lý và đời
Trần triều đình lại đặt khoa thi Tam giáo (Nho, Phật, Lão), xem thế đủ biết
không những Nho học và Phật học thịnh hành, mà Lão giáo cũng không bị bài
xích” [1, tr. 282].
Như vậy, những yếu tố trên đã có tác động không nhỏ trong việc
hình thành ở Hồ Chí Minh những quan điểm ban đầu về tín ngưỡng, tôn
giáo; về những ưu điểm và nhược điểm của tín ngưỡng, tôn giáo để từ đó
có thể phát huy ưu điểm, hạn chế nhược điểm nhằm phát huy tốt nhất sức
mạnh của khối đoàn kết toàn dân trong đó có đoàn kết tôn giáo. Với tất cả
các tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn có thái độ trân trọng; Người không đề cập
17

đến tôn giáo dưới góc độ triết học hay tôn giáo học thuần túy, mà đề cập đến
nó dưới góc độ văn hóa, đạo đức và chính trị, Người luôn có thái độ khách
quan trong việc nhìn nhận tôn giáo, không có một chút nào của sự kỳ thị tôn
giáo; Hồ Chí Minh cũng là một mẫu mực của việc nắm vững và vận dụng
sáng tạo phép biện chứng mácxít đối với những vấn đề về tôn giáo.
1.1.1.2. Kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo trong cách mạng của
các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc
Luận điểm có tính chất cương lĩnh đầu tiên của Đảng Bônsêvích Nga
về tôn giáo được Lênin nêu ra trong tác phẩm nổi tiếng Chủ nghĩa xã hội và

Liên Xô mắc sai lầm tả khuynh, nôn nóng muốn xóa bỏ ngay tôn giáo.
Thời gian Hồ Chí Minh sống và hoạt động cách mạng ở Trung Quốc là
thời kỳ ở đó đang tiến hành cuộc cách mạng dân chủ, những quan điểm về tôn
giáo của Đảng Cộng sản Trung Quốc về cơ bản là theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin. Ngay từ năm 1927, Mao Trạch Đông trong Báo cáo khảo
sát phong trào nông dân Hồ Nam có một đoạn văn thể hiện khá rõ quan điểm
về tôn giáo: “Bụt là do nông dân dựng lên, đến một thời kỳ nào đó, nông dân
sẽ dùng cả hai tay của họ mà vứt bỏ những ông Bụt này, chẳng cần người
khác làm thay một cách quá sớm việc vứt bỏ ông Bụt” [101, tr. 51].
Sau khi cách mạng thành công, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
được thành lập năm 1949, phong trào Tam tự của Công giáo và Tin lành ở
Trung Quốc thực sự ra đời. Nó phản ánh chính sách độc lập và tự quản của
hoạt động tôn giáo. Có thể nói, đây là một kinh nghiệm đặc sắc của Trung
Quốc. Sau này, trong cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói
đến sự độc lập của tôn giáo nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam
nói riêng.
19

Chính sách về tôn giáo nêu trên mặc dù vẫn theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin và trên thực tế đã đạt được những thành tựu không thể phủ
nhận, đó là việc vẫn đảm bảo được quyền tự do tín ngưỡng trong chế độ xã
hội chủ nghĩa, không có xung đột tôn giáo… Nhưng cũng phải nhận thức một
thực tế là các đảng cộng sản cầm quyền còn bị ảnh hưởng của tư tưởng tả
khuynh về tôn giáo ở những mức độ khác nhau. Điển hình là quan điểm tự do
tôn giáo đi liền với tự do tuyên truyền vô thần chống tôn giáo. Quan điểm này
dễ dẫn tới thái độ tả khuynh trong bộ máy chính quyền khi giải quyết vấn đề
tôn giáo.
Như vậy, qua thực tiễn kinh nghiệm ở Liên Xô và Trung Quốc đã cho
Người nhiều bài học sâu sắc. Đó là không được dập khuôn, máy móc những
tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin một cách thái quá, nếu không sẽ dẫn tới

bước trông vào thần” [9, tr. 156].
Từ đó, Phan Bội Châu đã phê phán niềm tin mù quáng vào trời mà
quên mất trách nhiệm và sức mạnh của con người. Theo ông, đã bị khống
chế ở trời, ở thần thì tất phải có lòng trông mong. Trông mong mà được
như nguyện thì không nói làm gì, nhưng đến khi hy vọng đã cùng rồi, do
đó mà sinh ra phỉ báng, oán trách, trời đất tội gì quỷ thần tội gì, bỏ cái
trách nhiệm của người sống mà đi cầu ở nơi mù mù mịt mịt, và theo ông thì
đó thật là sai lầm.
Tất nhiên, Phan Bội Châu và các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX
không chỉ nhấn mạnh vào ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo, tín ngưỡng đối với
sự thức tỉnh của dân tộc trong phong trào chống Pháp mà còn vạch trần âm
mưu của thực dân Pháp hòng lợi dụng tôn giáo để thống trị nhân dân ta. Phan
Bộ Châu nêu rõ: “Chính phủ Pháp nhận thấy dùng vũ lực chinh phục không
phải là thượng sách nên mới mượn tôn giáo, thờ di tượng Giêxucrit và cây
21

thánh giá làm trò rồi, để ngầm thi hành chính sách tiêu diệt nòi giống người
ta. Đó là phép màu nhiệm nhất của nước Pháp chinh phục Việt Nam lại được
nhà tôn giáo giúp cho thành công” [8, tr. 57]. Phan Bội Châu quan niệm:
“Yêu tổ quốc, yêu đồng bào, cứu nhân dân, ghét kẻ thù, các ngươi đã là thần
rồi, cần gì phải cầu thần ở bên ngoài đến” [8, tr. 156].
Đặc biệt, Phan Bội Châu và các sỹ phu yêu nước đầu thế kỷ XX đã
tiếp thu tư tưởng “tự do tín ngưỡng” của các nhà tư tưởng phương tây. Trong
sách Quốc văn độc bản của Đông Kinh Nghĩa Thục có viết: “Các nước văn
minh không cấm dân tin các tôn giáo khác, gọi là tự do tín ngưỡng. Ngày nay,
chúng ta được theo tôn giáo nào mình yêu thích mà thôi. Nhưng phàm theo
tôn giáo nào cũng cần biết rõ tôn chỉ của tôn giáo đó, rồi hết sức thực hành.
Còn như chỉ thắp hương lễ bái thì không thể nói là tin theo được” [30, tr. 54].
Sinh thời đất nước có ngoại bang đô hộ, Phan Bội Châu mong mỏi đất
nước được độc lập, nhân dân được tự do; nguyện vọng chân chính của ông là

giáo. Đây là vấn đề rất quan trọng đối với Hồ Chí Minh vì có liên kết đồng
bào lương và đồng bào giáo thì sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân mới
được thực hiện; nhờ đó mà kẻ thù không thể thực hiện được giã tâm của
chúng là chia rẽ dân tộc qua chia rẽ tôn giáo.
Theo C.Mác, tôn giáo không chỉ có mặt tiêu cực mà còn có cả mặt tích
cực nhất định vì sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn
hiện thực, đồng thời nó lại vừa là sự phản kháng chống lại sự nghèo nàn hiện
thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức làm dịu bớt nỗi
khổ đau, sự uất hận đè nặng lên số phận của mỗi con người. Tôn giáo là trái
tim của thế giới không có trái tim. Dù tôn giáo là “bông hoa giả” điểm trang
cho xiềng xích, nhưng nó vẫn hơn là một xã hội chỉ có gông cùm và ngục tối.
Vấn đề không phải là vứt bông hoa giả mà là phải vứt bỏ bản thân xiềng xích
23

cần có bông hoa giả ấy, để loài người “giơ tay hái lấy bông hoa thật” cho
chính mình. Tính trừ ác, hướng thiện, giáo dục đạo đức cho con người là một
đặc trưng trội, vốn có của tôn giáo. Đảng ta cũng khẳng định những giá trị
đạo đức và văn hóa của tôn giáo có nhiều tích cực và sẽ có những đóng góp
nhất định trong sự nghiệp xây dựng đất nước.
Với tư cách là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng, tôn giáo đóng
vai trò quan trọng trong sự liên kết xã hội dựa trên các hệ thống giá trị và
chuẩn mực chung của hành vi xã hội. Nhưng cũng không nên vì thế mà sai
lầm cho rằng tôn giao bao giờ cũng là nhân tố liên kết xã hội chủ yếu, đảm
bảo sự thống nhất của xã hội. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì
sự thống nhất xã hội trước hết được bảo đảm bởi hệ thống sản xuất vật chất xã
hội chứ không phải bởi cộng đồng tín ngưỡng, tôn giáo.
Trên đây là những cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành lên tư tưởng Hồ
Chí Minh về tôn giáo, về đoàn kết tôn giáo. Qua đó giúp chúng ta nhận thấy
rằng những tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Người là sự kết hợp giữa
truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa trí tuệ nhân loại và ánh sáng của chủ

nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Cách
đây 2000 năm, Đức Chúa Giêsu đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta.
Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được” [81, tr. 272].
Người cũng cho rằng: “Tín đồ phật giáo tin ở Phật, tín đồ Gia tô tin ở
đức Chúa trời cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên
chúng ta tin tưởng” [81, tr. 148]. Mặc dù thế giới quan của người cộng sản
khác với thế giới quan tôn giáo song không vì vậy mà đối đầu, nghi kỵ nhau;
ngược lại, phải tôn trọng đức tin của mỗi người.
1.2.1. Đối tượng của đoàn kết lương giáo
25

Có thể nói, cho đến nửa đầu thế kỷ XX, vấn đề tôn giáo trong đời sống
chính trị xã hội thế giới chủ yếu vẫn là vấn đề với Công giáo, với Vatican.
Đối với những người mácxít trong vấn đề tôn giáo cũng là giai đoạn có những
sự đụng độ quyết liệt hoặc âm thầm. Sau cách mạng Tháng 10 Nga, nước Nga
xô viết tuyên bố tự do tôn giáo và cho phép Chính thống giáo được đặt giáo
chủ ở Matxcơva. Nhưng đến Hiến pháp 1939, điều 124 lại xác định là tự do
tôn giáo và tự do tuyên truyền chống tôn giáo.
Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời do Bác
chủ tọa ngày 3/9/1945, Người đã phát biểu: “Tôi đề nghị Chính phủ ta
tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết” [81, tr. 9]. Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn cho rằng nhân dân có quyền tự do tín ngưỡng và phải
tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng của mọi người. Người
từng nói: “Chúng tôi xin nói rõ để tránh mọi sự có thể hiểu lầm… vấn đề
tôn giáo, thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín
ngưỡng của mọi người” [87, tr. 184].
Theo Người, đối tượng đoàn kết lương giáo gồm:
Một là, đoàn kết giữa những người theo tôn giáo với những người
không theo tôn giáo, trong đó có những người cộng sản.
Hồ Chí Minh là người mácxít theo quan điểm duy vật, đồng thời cũng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status