1
học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Nguyễn Anh Tuấn
QUAN ĐIểM CủA V.I.LÊNIN Về DÂN CHủ Xã HộI CHủ NGHĩA
Và Sự VậN DụNG CủA ĐảNG CộNG SảN VIệT NAM
TRONG THờI Kỳ ĐổI MớI Chuyên ngành : Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số : 60 22 85
thống trị xã hội, nên trong xã hội có giai cấp đối kháng, phần lớn quyền lực
tập trung trong tay một số ít ngời. Vì thế, dân chủ trở thành mục tiêu đấu
tranh của các giai tầng bị áp bức. Trong xã hội có giai cấp, đấu tranh vì dân
chủ trở thành một trong những động lực của lịch sử. Từ dân chủ chủ nô đến
chuyên chế phong kiến, từ chuyên chế phong kiến đến DCTS, từ DCTS đến
dân chủ vô sản đó là những nấc thang trong tiến trình vận động và phát triển
của lịch sử dân chủ.
Tiếp tục sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Đảng
Bônsêvích đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Mời Nga thắng lợi, đa nhân dân
lao động bớc vào sự nghiệp xây dựng CNXH và xây dựng nền dân chủ
XHCN. Trong quá trình đó, V.I.Lênin đã để lại cho các Đảng Cộng sản trên
toàn thế giới một di sản lý luận phong phú và rất nhiều chỉ dẫn thực tiễn sâu
sắc cho việc xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN.
Vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam,
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nêu lên thành mục tiêu, nhiệm vụ cách
mạng và từng bớc tổ chức xây dựng, thực hành dân chủ với những hình thức,
bớc đi cụ thể. Sự vận dụng đó đã khơi dậy sức mạnh của toàn dân, mang lại
nhiều thắng lợi to lớn. Nhng trong quá trình này, nhất là từ sau khi nớc nhà
thống nhất, cũng đã có những vấp váp, sai lầm nhất định. Đời sống của nhân
dân rất khó khăn, niềm tin vào CNXH và nền dân chủ XHCN suy giảm, đất
nớc lâm vào khủng hoảng, có lúc trầm trọng. Từ trong khó khăn, Đảng ta đã
3
khởi xớng và lãnh đạo công cuộc đổi mới trên nền tảng chủ nghĩa Mác-
Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, trong đó có di sản lý luận và những kinh
nghiệm thực tiễn quý báu của V.I.Lênin về xây dựng nền dân chủ XHCN.
Công cuộc đổi mới đất nớc đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn có ý
nghĩa lịch sử, trong đó có thành tựu về dân chủ. Dân chủ vừa là biểu hiện kết
quả của đổi mới vừa là động lực thúc đẩy đổi mới. Dân chủ đã trở thành nhu
cầu trực tiếp hằng ngày của nhân dân, không chỉ là mơ ớc, khát vọng mà trở
Vấn đề dân chủ XHCN luôn nhận đợc sự quan tâm của toàn xã hội, trở
thành đối tợng khảo sát hấp dẫn của các khoa học chính trị. Các nhà khoa
học chính trị đã bàn luận khá nhiều về vấn đề này từ các phơng diện, cấp độ
khác nhau. Trong đó, tiêu biểu nh:
- Những vấn đề chung về dân chủ và dân chủ XHCN:
+ Đỗ Nguyên Phơng, Trần Ngọc Đờng (1992): Xây dựng nền dân chủ
XHCN và Nhà nớc pháp quyền, Nxb Sự Thật, Hà Nội. Trên lập trờng mác
xít, công trình này luận giải cả về lý luận và thực tiễn những quan điểm, chủ
trơng, giải pháp xây dựng hệ thống chính trị, nền dân chủ XHCN và Nhà
nớc pháp quyền trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta.
+ Viện CNXHKH (1992-1993): Báo cáo chuyên đề về dân chủ và cơ
chế thực hiện dân chủ ( Đề tài KX.05.05), Hà Nội. Đây là tập hợp nhiều bài
nghiên cứu của nhiều tác giả về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ trên các
bình diện và phơng pháp tiếp cận khác nhau. Từ những vấn đề chung về dân
chủ, phơng pháp tiếp cận vấn đề dân chủ, dân chủ trong t tởng Nho Giáo,
trong hệ t tởng của CNTB hiện đại, quan điểm mác xít về dân chủ, dân chủ
trong CNXH hiện thực và thực trạng dân chủ ở nớc ta.
- Những công trình nghiên cứu về quan điểm dân chủ của V.I.Lênin:
+ Ngô Hữu Thảo (1990): Những luận điểm của V.I.Lênin về chính trị
và vấn đề dân chủ hoá lĩnh vực chính trị ở nớc ta hiện nay, Tạp chí Triết học,
số 3. Bài báo trình bày tinh thần cốt yếu từ những luận điểm về chính trị của
5
V.I.Lênin, từ đó luận giải, phân tích những biểu hiện cần có của quá trình dân
chủ hoá về chính trị ở nớc ta trên các khía cạnh cụ thể.
+ Phạm Xuân Mỹ (2000): Từ di sản của V.I.Lênin về dân chủ, Nghiên
cứu lý luận số 1. Bài báo trình bày, phân tích, bình luận khái quát về những
luận điểm cơ bản của V.I.Lênin về dân chủ, DCTS và dân chủ XHCN.
+ Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh - ĐHKHXH-NV- Khoa Triết
học (2004): T tởng của V.I.Lênin về dân chủ, Nxb CTQG, Hà Nội. Các tác
thành tựu của dân chủ, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 9; PGS.TS Vũ Hoàng
Công(2009): Xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN trong điều kiện
kinh tế thị trờng định hớng XHCN, Nxb CT-HC, Hà Nội.
Những công trình trên khẳng định vai trò của dân chủ và xây dựng nền
dân chủ XHCN; khẳng định những thành tựu, chỉ ra những hạn chế, nêu
những suy ngẫm, trăn trở và đề xuất các giải pháp xây dựng nền dân chủ ở
nớc ta thời kỳ đổi mới.
* Phơng thức thực thi dân chủ có:
Nguyễn Thị Vy (2000): Mở rộng và phát huy dân chủ trực tiếp ở nớc
ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản số 24; GS.TSKH Đào Trí úc(Chủ biên) (2009):
Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà
nớc, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb CTQG, Hà Nội; TS. Hồ Bá Thâm
- CN.Nguyễn Tôn Thị Tờng Vân (Đồng chủ biên) (2009): Phản biện xã hội và
phát huy dân chủ pháp quyền, Nxb CTQG, Hà Nội.
Nhóm công trình này bàn về các phơng thức, cơ chế thực thi dân chủ,
thành tựu và giải pháp thực hiện phát huy dân chủ ở nớc ta.
* Về hệ thống chính trị có:
GS.TS Hoàng Chí Bảo (chủ biên) (2005): Hệ thống chính trị ở cơ sở
nông thôn nớc ta hiện nay, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội; PGS.TS Trần
Đình Hoan (Chủ biên) (2008): Quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống
chính trị ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2020, Nxb CTQG, Hà Nội.
7
Các công trình này bàn về hệ thống chính trị: thực trạng, giải pháp đổi
mới. Trong đó, bàn nhiều về thực trạng và quan điểm, giải pháp đổi mới tổ
chức, hoạt động của các bộ phận của hệ thống chính trị cũng nh quan hệ, cơ
chế vận hành của cả hệ thống chính trị.
* Về dân chủ ở cơ sở có:
Tòng Thị Phóng (2004): Khâu đột phá của quá trình phát huy dân chủ
ở nớc ta trong thời kỳ mới, Tạp chí Cộng sản số 21; Trần Quang Nhiếp
+ Hệ thống hóa, phân tích, đánh giá các quan điểm của V.I.Lênin về
dân chủ và dân chủ XHCN.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt
Nam theo tinh thần của V.I.Lênin trong thời kỳ đổi mới.
+ Đề xuất phơng hớng, giải pháp nhằm tiếp tục xây dựng và phát huy
dân chủ XHCN theo tinh thần của V.I.Lênin.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tợng: Nghiên cứu những quan điểm về dân chủ XHCN của
V.I.Lênin và sự vận dụng những quan điểm ấy của Đảng ta trong thời kỳ
đổi mới.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ có nội dung phong phú, ở đây
đề tài chỉ hệ thống hoá, phân tích và đánh giá những t tởng cơ bản của
V.I.Lênin về dân chủ, DCTS, nhất là dân chủ XHCN qua một số tác phẩm tiêu
biểu: Nhà nớc và cách mạng (7/1917); Những nhiệm vụ trớc mắt của chính
quyền Xô Viết (4/1918); Cách mạng vô sản và tên phản bội Cauxki (11/1918);
Bàn về chuyên chính vô sản (9/1919); Sáng kiến vĩ đại (6/1919); Bệnh ấu trĩ tả
khuynh trong phong trào cộng sản(1920); Thà ít mà tốt (3/1923)
+ Bớc đầu tìm hiểu sự vận dụng t tởng V.I.Lênin về dân chủ XHCN
của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta, chủ yếu là thời kỳ đổi mới, từ 1986
đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
t tởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
9
dân chủ trong cách mạng XHCN, đồng thời có sử dụng kết quả nghiên cứu từ
một số công trình khoa học có liên quan.
- Phơng pháp luận của luận văn: Luận văn đợc nghiên cứu trên cơ
sở phơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
1.1.
QUAN ĐIểM CủA V.I.LÊNIN Về DÂN CHủ Và DÂN CHủ TƯ SảN
1.1.1. Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ và chế độ dân chủ
Từ trớc công nguyên, cách đây hàng ngàn năm, con ngời đã biết hợp lực
với nhau để sản xuất, để chống thiên tai, thú dữ và đã tổ chức ra những hoạt
động chung mang tính xã hội, trong đó có việc cử ra những ngời đứng đầu để
thực thi những quy định, điều hành những hoạt động chung. Mặt khác, cộng
đồng sẽ phế bỏ những ngời đó, nếu họ không thực hiện những quy định chung
theo lợi ích và ý nguyện của mọi ngời. Đến thời Hy Lạp cổ đại, khi có ngôn
ngữ, chữ viết, ngời ta diễn đạt sự thật ấy bằng thuật ngữ: Demokratia, trong đó,
demos là nhân dân, kratos là quyền lực [5, tr.154, 155].
Nh vậy, ban đầu, để hoạt động của cộng đồng (nhất là hoạt động sản
xuất vật chất và những hoạt động phuc vụ sản xuất vật chất) diễn ra bình
thờng và đạt đợc mục đích thì các thành viên trong cộng đồng phải cử ra
(uỷ quyền) những đại diện để chỉ huy, điều khiển. Khi những ngời này không
xứng đáng, không còn có khả năng thực thi lợi ích cộng đồng thì bị cộng đồng
phế bỏ (bãi miễn). ở đây, nguồn gốc quyền lực là từ nhu cầu khách quan của
hoạt động sản xuất ngày càng có tính xã hội hoá. Chủ thể quyền lực là mọi
thành viên trong cộng đồng xã hội, của nhân dân, trớc hết là của những ngời
lao động. Quyền lực ấy gọi là quyền lực công (quyền lực của cộng đồng, của
xã hội).
Những ngời nắm quyền lực công, lúc đầu có thể là những ngời có u
thế về sức khoẻ, trí tuệ, tuổi tác, kinh nghiệm, đạo đức Khi xã hội phân hoá
giai cấp thì giai cấp nắm t liệu sản xuất trở thành chủ thể quyền lực công, sử
dụng quyền lực ấy chủ yếu và trớc hết để bảo đảm lợi ích của giai cấp mình.
Đó là lúc giai cấp chủ nô lập ra nhà nớc dân chủ chủ nô của mình (nhà nớc
11
Aten ở Hy Lạp cổ đại từ thế kỷ VIII đến thế kỷ V tr.CN). Thực chất, mọi lợi
12
Dới thời đại CNTB chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, cuộc đấu tranh
cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động bớc vào thời kỳ bão
táp, V.I.Lênin đã có nhiều luận giải chung về dân chủ và chế độ dân chủ ở các
phơng diện sau:
Thứ nhất, dân chủ, chế độ dân chủ là một chế độ chính trị, một hình thức
nhà nớc trong đó, đặc trng cơ bản là thừa nhận quyền lực chính trị của nhân
dân, quyền tự do, bình đẳng của công dân.
V.I.Lênin viết: Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nớc, một hình thái
của nhà nớc chế độ dân chủ có nghĩa là chính thức thừa nhận quyền bình
đẳng giữa những công dân, thừa nhận cho mọi ngời đợc quyền ngang nhau
trong việc xác định cơ cấu nhà nớc và quản lý nhà nớc [37, tr.123]. ở điểm
này cần chú ý, dân chủ là chế độ chính trị, chế độ nhà nớc, nhng không phải
nhà nớc nào, chế độ chính trị nào và lúc nào cũng là một chế độ dân chủ.
Mặt khác, bất cứ chế độ dân chủ nào cũng phải đợc biểu hiện ra, trớc hết và
chủ yếu, ở hình thức nhà nớc tơng ứng, phù hợp. Hình thức tổ chức nhà
nớc, chế độ dân chủ, hình thức tổ chức, vận hành nền dân chủ là một vấn đề
lớn của dân chủ. Thớc đo mức độ dân chủ là sự bình đẳng của ngời dân
trong tham gia tổ chức, quản lý nhà nớc cũng nh mức độ và khả năng thu
hút nhân dân tham gia vào công việc nhà nớc và xã hội. Nhà nớc dân chủ là
nhà nớc trong đó nhân dân (chủ thể quyền lực) đợc quyền bầu cử, quyền
tham gia quản lý nhà nớc, và nhất là quyền bãi miễn đại biểu mỗi khi họ
không còn xứng đáng nữa. V.I.Lênin viết:
Mọi cơ quan đợc bầu ra hay mọi hội nghị đại biểu đều có thể
coi là có tính chất dân chủ chân chính và đại biểu thật sự cho ý chí của
nhân dân, khi nào quyền bãi miễn của cử tri đối với những ngời trúng
cử đợc thừa nhận và đợc áp dụng. Nguyên tắc cơ bản đó của dân chủ
chân chính, chung cho tất cả mọi cuộc hội nghị đại biểu, không trừ
trờng hợp nào [39, tr.126]
.
nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó [52, tr 253].
14
Thứ t, dân chủ không chỉ là sản phẩm của lịch sử mà còn là thành tựu,
thớc đo trình độ giải phóng con ngời, đa con ngời đạt tới bình đẳng, tự do.
Dân chủ luôn gắn với bình đẳng, tự do. V.I.Lênin viết: Dân chủ là bình
đẳng [37, tr.122]. Nhng trong xã hội có giai cấp, có nhà nớc, thì tự do,
bình đẳng cũng bị giới hạn. Nền dân chủ bao hàm chuyên chính, mang bản
chất giai cấp nên sẽ không có bình đẳng chung chung, dân chủ thuần tuý,
tự do thuần tuý đợc. Với ý nghĩa này, tự nó khẳng định, khái niệm, khẩu
hiệu nhà nớc nhân dân tự do mà các nhà lý luận t sản, những tay bồi bút
cho chế độ t sản đa ra chỉ là trò ảo thuật của ngôn từ nhằm đánh lừa, làm rối
nhiễu đầu óc những ai thiếu hiểu biết về lý luận và hời hợt về thực tiễn, vì thật
ra, nhà nớc tự do là nhà nớc đợc tự do đối với công dân của mình, tức là
nhà nớc với một chính phủ độc tài [37, tr.79]. Trong xã hội có đối kháng
giai cấp thì tự do, dân chủ với ngời này, giai cấp này thì đồng thời hạn chế,
thậm chí tớc đoạt tự do, dân chủ của ngời khác, giai cấp khác. V.I.Lênin
khẳng định: Chừng nào còn nhà nớc thì chừng đó không có tự do. Đến khi
có tự do thì không còn nhà nớc nữa [37, tr.117].
Thứ năm, dân chủ là nguyên tắc sinh hoạt cộng đồng dựa vào số đông
(thiểu số phục tùng đa số).
Chế độ dân chủ là sự thừa nhận nguyên tắc ấy. Tất nhiên, V.I.Lênin viết:
chế độ dân chủ và nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số không phải là những
chuyện giống hệt nh nhau. Chế độ dân chủ, đó là một nhà nớc thừa nhận việc
thiểu số phục tùng đa số [37, tr.151]. Trong thời kỳ bão táp cách mạng, từ góc
độ chính trị xã hội, V.I.Lênin bàn nhiều đến tập trung dân chủ nh là một
nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội
trong hệ thống tổ chức quyền lực. Ngời xem tập trung dân chủ là một trong
những nguyên tắc có ý nghĩa sống còn đối với các tổ chức cách mạng trong tiến
trình cách mạng XHCN. Nhng cần phải hiểu rõ rằng chế độ tập trung dân
nào khác, thì không có ý nghĩa gì cả [46, tr.344, 345].
V.I.Lênin còn viết: Trong đời sống, chế độ dân chủ không bao giờ tách
riêng đợc, mà nó sẽ đứng chung trong toàn bộ, nó sẽ ảnh hởng đến kinh
16
tế, sẽ thúc đẩy sự cải tạo kinh tế, nó sẽ chịu ảnh hởng của sự phát triển kinh
tế [37, tr.97].
Thứ chín, nền dân chủ không đứng yên, bất biến mà luôn vận động, biến
đổi cùng với vận động, phát triển của lịch sử.
Chế độ DCTS đã từng thay thế chế độ phong kiến, và chế độ dân chủ vô
sản thay thế chế độ DCTS [41, tr.304-305]. Đó là vấn đề có tính quy luật của
lịch sử dân chủ, của lịch sử tiến hoá nhân loại. V.I.Lênin xem xét chế độ dân
chủ trong sự tiến hoá tới CNXH, chủ nghĩa cộng sản. Ngời viết: phát triển
dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thí
nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn, đó là một trong những nhiệm vụ
cấu thành của cuộc đấu tranh vì cách mạng xã hội [37, tr.97]. Nh vậy, từ
chế độ phong kiến đến DCTS, từ DCTS đến dân chủ vô sản, từ dân chủ vô sản
đến không còn dân chủ nữa (dân chủ tự tiêu vong), đó là con đờng biện
chứng của lịch sử sinh động.
Trên cơ sở những vấn đề chung về dân chủ và chế độ dân chủ nh thế,
V.I.Lênin phân tích, luận giải về DCTS và dân chủ vô sản.
1.1.2. Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ t sản
1.1.2.1. Vai trò và hình thức của dân chủ t sản
Khi chế độ phong kiến thối nát, suy tàn, cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra
gay gắt, quyết liệt, khi đó, giai cấp t sản là giai cấp chủ yếu, đang đi lên và
là giai cấp duy nhất có thể có một sức mạnh áp đảo đấu tranh chống lại những
thiết chế phong kiến và chuyên chế nhng đặc điểm chung của cả thời đại
đó chính là tính chất tiến bộ của giai cấp t sản [32, tr177]. Để rồi, t bản thế
giới có nhiệm vụ kiến lập tự do t sản và đó là bớc tiến có ý nghĩa lịch sử
toàn thế giới. DCTS ra đời là kết quả tất yếu và tiến bộ về chất, nó thay thế chế
hình thức khác nhau, nhng thực chất chỉ là một: chung quy lại thì tất cả
những nhà nớc ấy vô luận thế nào, cũng tất nhiên phải là nền chuyên chính t
sản [37, tr.44].
Trong bất cứ một nớc t bản văn minh nào, cũng chỉ có DCTS, chứ
không có dân chủ nói chung [41, tr.599]. Chế độ DCTS là dân chủ của
giai cấp t sản, do giai cấp t sản và vì giai cấp t sản. Còn chuyên chính của
18
giai cấp t sản để bảo vệ, thực thi lợi ích của giai cấp t sản. Cơ sở của cái bản
chất DCTS, theo V.I.Lênin: Mọi tự do chính trị nói chung, dựa trên quan hệ
sản xuất hiện đại, nghĩa là những quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa, đều là
một thứ tự do t sản. Yêu sách tự do biểu hiện trớc tiên lợi ích của giai cấp t
sản [28, tr.128]. Vì thế, trong xã hội t bản chủ nghĩa, những vấn đề chủ
yếu trong đời sống kinh tế của nhân dân lao động, tình cảnh họ bị đói rét hoặc
đời sống của họ đợc tốt đẹp, đều do nhà t bản với t cách là ông chủ, đấng
thợng đế quyết định! [44, tr.330]. Nghị viện t sản, ngay cả nghị viện của
nớc cộng hoà t sản dân chủ nhất trên thế giới cũng không bao giờ đợc
những ngời nghèo coi là những cơ quan của mình [40, tr.253]. V.I.Lênin
kết luận: Chừng nào chế độ t hữu về ruộng đất và về các t liệu sản xuất
khác còn tồn tại thì chế độ cộng hoà dân chủ nhất tất nhiên vẫn là một nền
chuyên chính của giai cấp t sản [42, tr.111-112].
Hai là, DCTS là chế độ dân chủ của giai cấp t sản, do đó, cho dù đợc
xem là hình thức tiên tiến nhất thì vẫn chỉ là nền dân chủ của số ít, dân chủ
của ngời giàu, một nền dân chủ rất hạn hẹp.
Chính vì thế, sau mấy trăm năm CNTB ra đời, khẩu hiệu tự do, bình
đẳng, bác ái mà giai cấp t sản giơng lên đã không thể đợc thực hiện đầy
đủ. Về điều này, V.I.Lênin viết: chế độ dân chủ ấy bao giờ cũng bị bó trong
khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột t bản chủ nghĩa và do đó, thực ra, nó luôn
luôn là một chế độ dân chủ đối với một thiểu số, vẫn chỉ là một chế độ dân
chủ đối với riêng những giai cấp có của, đối với riêng bọn giàu có mà thôi
thực chất của chế độ đại nghị t sản là: cứ mấy năm lại một lần quyết định
xem ngời nào trong giai cấp thống trị sẽ chà đạp và đè nén nhân dân trong
nghị viện [37, tr.56 - 57].
Bốn là, V.I.Lênin còn chỉ rõ bản chất của nền DCTS từ khía cạnh
chuyên chính, bạo lực trấn áp của nó. Giai cấp t sản dùng nhiều công cụ,
phơng tiện và phơng pháp khác nhau để trấn áp, nhng theo V.I. Lênin,
chung quy lại, có hai phơng pháp chủ yếu:
Phơng pháp thứ nhất là phơng pháp bạo lực, hãm hại, cấm
đoán và đàn áp. Về thực chất, đó là một phơng pháp mang dấu vết của
chế độ nông nô, của thời trung cổ Phơng pháp đấu tranh khác mà
20
giai cấp t sản dùng là chia rẽ công nhân, làm rối loạn hàng ngũ của
họ, mua chuộc một số đại biểu hoặc một số nhóm của giai cấp vô sản
để lôi kéo họ sang phe giai cấp t sản Những thủ đoạn loại này không
mang tính chất nông nô; nó mang tính chất t sản thuần tuý hiện đại,
phù hợp với chế độ tiến bộ và văn minh của CNTB, phù hợp với chế độ
dân chủ [31, tr.377].
Dù dới phơng pháp, hình thức nào, trong chế độ DCTS, khủng bố và
chuyên chính t sản vẫn thống trị, nó biểu hiện ra một cách công nhiên mỗi
khi bọn bóc lột thấy dờng nh quyền hành của t bản bị lung lay [41, tr.604-
605]. Chế độ nhà nớc t sản, nghị viện t sản, quân đội, cảnh sát trong chế
độ DCTS thực ra là bộ máy để cho những nhúm ngời bóc lột dùng để đàn áp
hàng triệu ngời lao động [41, tr.560]. Thực vậy:
Nhà nớc dới chế độ t bản, nhà nớc theo đúng nghĩa của nó,
là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với một giai cấp
khác, hơn nữa, lại là của thiểu số đối với đa số. Một thiểu số ngời bóc
lột muốn tiến hành có kết quả việc trấn áp thờng xuyên một đa số
ngời bị bóc lột thì đơng nhiên phải hung ác, tàn bạo đến cực độ trong
sự trấn áp, phải gây ra hàng bể máu [37, tr.110, 111].
Thái độ của giai cấp công nhân và các đảng cộng sản đối với DCTS
cũng là vấn đề lớn trong lý luận về dân chủ của V.I.Lênin. Theo V.I.Lênin,
chế độ DCTS cũng có sự phát triển biện chứng của nó nên thái độ, lập trờng,
quan điểm của giai cấp công nhân và đảng của nó cũng không thể nh nhau
trong các thời điểm, các điều kiện hoàn cảnh khác nhau của lịch sử.
Thứ nhất, trong điều kiện vẫn tồn tại chế độ quân chủ chuyên chế
nhng giai cấp t sản đã trở thành một giai cấp phản động, V.I.Lênin cho
rằng, giai cấp công nhân vẫn phải thông qua con đờng tự do t sản và tiến
bộ t sản [28, tr.130]. Tất nhiên trong cuộc cách mạng này (cách mạng
DCTS kiểu mới), giai cấp công nhân tham gia với vai trò là ngời tiên phong,
lãnh đạo. Đó là cách thức, con đờng để giai cấp công nhân, nhân dân lao
động có thể làm cho CNXH gần lại.
22
Thứ hai, trong giới hạn CNTB, DCTS, giai cấp công nhân và đảng của
nó phải tranh thủ, lợi dụng những giá trị của DCTS.
Chế độ DCTS càng phát triển, càng làm cho cuộc đấu tranh giai cấp trở
nên rộng rãi, công khai, có ý thức [30, tr.139]. Chế độ DCTS càng phát triển
thì công nhân càng thấy rõ rằng nguồn gốc đau khổ là CNTBcông nhân của
dân tộc bị áp bức càng nhận rõ tất cả đều do CNTB sinh ra [34, tr.165]. Nên
giá trị không thể phủ nhận của nó (DCTS) là ở chỗ đã giáo dục và rèn luyện
giai cấp vô sản đứng lên đấu tranh [41, 123]. V.I.Lênin đòi hỏi, phơng
pháp mác xít để giải quyết vấn đề dân chủ là ở chỗ giai cấp vô sản, trong cuộc
đấu tranh giai cấp của mình, sử dụng tất cả mọi thiết chế và khuynh hớng
dân chủ chống giai cấp t sản nhằm chuẩn bị cho giai cấp vô sản chiến thắng
giai cấp t sản, đánh đổ giai cấp t sản [34, tr.93]. Ngay cả trong điều kiện
CNTB đã trở nên phản động toàn diện (thành chủ nghĩa đế quốc), thì nó vẫn
đẻ ra những nguyện vọng dân chủ trong quần chúng làm gay gắt thêm sự
đối kháng giữa chủ nghĩa đế quốc phủ nhận dân chủ với quần chúng khát khao
dân chủ [34, tr.92]. Tuy nhiên, trong việc lợi dụng giá trị của DCTS thì chế
bó hẹp cuộc đấu tranh giai cấp ở việc đấu tranh trong nội bộ nghị viện,
hay coi việc đấu tranh trong nội bộ nghị viện là hình thức cao nhất, có
tính chất quyết định, chi phối các hình thức đấu tranh khác, thì nh thế
có nghĩa là thực tế chuyển sang phía giai cấp t sản để chống lại giai
cấp vô sản [44, tr.25].
Thứ năm, trong điều kiện giai cấp công nhân và nhân dân lao động,
bằng bạo lực cách mạng nắm đợc chính quyền, từng bớc xây dựng nền dân
chủ mới thì việc kế thừa những thành tựu tiến bộ mang tính khách quan của
DCTS là tuyệt đối cần thiết. Nhng việc kế thừa đó là hoàn toàn khác với việc
lặp lại, trở về với chế độ DCTS. Vấn đề này, một mặt, thể hiện lập trờng giai
cấp, mặt khác, thể hiện biện chứng phát triển của chế độ dân chủ. V.I.Lênin
phân tích:
Khi giai cấp vô sản đã nắm đợc chính quyền rồi và khi cộng hoà
Xô viết đã thực hiện một kiểu chế độ dân chủ cao hơn thì mọi bớc thụt
24
lùi quay trở lại chế độ đại nghị t sản và chế độ DCTS đều tuyệt đối là
một hành vi phản động, phục vụ lợi ích của bọn bóc lột, bọn địa chủ và
bọn t bản. Những khẩu hiệu ca ngợi cái gọi là chế độ dân chủ chung,
chế độ dân chủ cho tất cả mọi ngời, cho toàn thể quốc dân, một chế độ
dân chủ siêu giai cấp, nhng trên thực tế là một chế độ DCTS, thì chỉ có
thể phục vụ cho lợi ích của bọn bóc lột mà thôi [42, tr.111].
Nh vậy, theo V.I.Lênin, chế độ DCTS là một bớc tiến phát triển tiến
bộ so với các chế độ dân chủ trớc đó. Tuy nhiên, trong tính lịch sử cụ thể, nó
không tránh khỏi những hạn chế do tính quy định của cái bản chất DCTS. Vì
thế, nó không thể tồn tại mãi mãi, mà loài ngời có nhu cầu khách quan thay
thế nó bằng một nền dân chủ cao hơn về chất.
1.2.
Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ xã hội chủ nghĩa
1.2.1. Tính tất yếu và phơng thức ra đời của dân chủ xã hội chủ nghĩa
sản bị thay thế bởi nhà nớc vô sản không thể bằng con đờng tiêu vong
đợc, mà chỉ có thể, theo quy luật chung, bằng một cuộc cách mạng bạo lực
thôi [33, tr.27].
Nhng, V.I.Lênin cũng lu ý:
Một số trờng hợp có tính chất ngoại lệ, thí dụ nh trong một
nớc nhỏ nào đó, khi một nớc láng giềng lớn đã hoàn thành cuộc cách
mạng xã hội, có thể là giai cấp t sản chịu từ bỏ chính quyền một cách
hoà bình, nếu chúng biết rằng chẳng có hy vọng gì chống cự lại đợc và
nếu chúng muốn giữ cái đầu của chúng hơn [34, tr.159].
Theo tính phổ biến ấy của tiến trình cách mạng XHCN, một điều kiện
quan trọng để giai cấp công nhân và nhân dân lao động có thể giành chính
quyền, xây dựng nền dân chủ mới cho mình, là họ phải đợc giáo dục theo
tinh thần dân chủ triệt để nhất và kiên quyết cách mạng nhất để làm việc đó
[33, tr79] và phải hoàn toàn chiến thắng chủ nghĩa cơ hội trong phong trào
công nhân [44, tr.28]. Theo đó, trong một nớc mà giai cấp công nhân và đội
tiên phong của nó là thiểu số trong nhân dân thì vẫn có khả năng lật đổ giai
cấp t sản, giành quyền thống trị [44, tr.27]. Thực tế là, ở Nga, năm 1905 và
1917, nhân dân đã lập ra nhà nớc Xô viết, sáng tạo ra chế độ dân chủ mới