LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này em đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của
các thầy, cô cùng các bạn sinh viên trong khoa Lịch Sử, trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình và những đóng
góp quý báu đó.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của em tới cô giáo TS.
Khuất Thị Hoa - Người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, giúp đỡ em
hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2012
Sinh viên
Đỗ Thị Quỳnh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự
hướng dẫn chỉ bảo tận tình của cô giáo TS. Khuất Thị Hoa – Người trực tiếp
hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu của khóa luận chưa từng
được công bố ở bất kỳ một công trình nghiên cứu nào, đó là những kết quả
đúng, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2012
Sinh viên
Đỗ Thị Quỳnh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài......................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................... 2
2.2.3. Đấu tranh chống âm mưu của Pháp – Mỹ lập chính quyền bù
nhìn
......................................................................................................... 49
Chƣơng 3. Đƣờng lối ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam thời
kỳ 1950 – 1954............................................................................................ 57
3.1. Đường lối ngoại giao ................................................................. 57
3.1.1. Bối cảnh lịch sử ...................................................................... 57
3.1.2. Đường lối ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai
đoạn đẩy mạnh kháng chiến đi đến kết thúc thắng lợi ................................ 60
3.2. Quá trình thực hiện .................................................................... 62
3.2.1. Đấu tranh chống sự can thiệp của Hoa Kỳ, vận động nhân dân
Pháp và nhân dân thế giới chống chiến tranh xâm lược ............................. 62
3.2.2. Đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Giơnevơ 1954 về chấm dứt
chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương ................................................ 64
3.2.2.1. Hoàn cảnh lịch sử dẫn tới Hội nghị Giơnevơ về Đông
Dương. .............................................................................................. 64
3.2.2.2. Tiến trình cuộc đàm phán .................................................... 66
3.2.2.3. Nội dung cơ bản của Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến
tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương ......................................................... 71
3.2.2.4. Ý nghĩa của Hiệp định ......................................................... 74
3.3. Nhận xét và bài học kinh nghiệm từ sự lãnh đạo của Đảng trong
hoạt động ngoại giao giai đoạn 1945 – 1954 .............................................. 75
3.3.1. Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động ngoại giao
giai đoạn 1945 – 1954 ................................................................................. 75
3.3.2. Những bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo hoạt động
ngoại giao của Đảng trong giai đoạn 1945 – 1954 ..................................... 77
- Mặt trận đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa
- Mặt trận đoàn kết với nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới
trong đó có cả nhân dân Pháp.
Chính vì vậy, cách mạng Việt Nam phát huy đực sức mạnh tổng hợp
của dân tộc và thời đại, đánh thắng “ đế quốc to “ của nửa đầu thế kỷ XX.
Giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa cách mạng miền Bắc bước vào giai đoạn
cách mạng mới.
Với tinh thần muốn hiểu biết thấu đáo đường lối đối ngoại của Đảng
giai đoạn lịch sử đầy khó khăn và biến động này, tôi chọn đề tài “Đường lối
ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược 1945-1954” làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành
khoa học lịch sử.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề ngoại giao Việt Nam nói chung, chính sách đối ngoại của Đảng
trong đấu tranh ngoại giao nói riêng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu.
Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến ngoại
giao Việt Nam hiện đại từ nhiều góc độ khác nhau, khẳng định nội dung cơ
bản của chính sách đối ngoại của Việt Nam, trí tuệ và thiên tài ngoại giao Hồ
Chí Minh.
Năm 1950, trong tác phẩm: “Hội nghị Việt – Pháp Phôngtennơblô
tháng 7-1946”, tác giả Trịnh Quốc Quang đã đề cập đến bối cảnh lịch sử dẫn
đến cuộc đấu tranh chính thức giữa Việt Nam và Pháp.
Năm 1985, Học viện Quan Hệ Quốc Tế xuất bản cuốn sách: “Thắng lợi
có tính thời đại và cuộc đấu tranh trên mặt trận đối ngoại của nhân dân ta”.
Cuốn sách đề cập đến quá trình đấu tranh ngoại giao của nhân dân ta trong
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954).
+ Nhiệm vụ
- Làm rõ hoạt động ngoại giao của Đảng cộng sản Việt Nam giai đoạn
bản lề của dân tộc 1945-1946.
- Làm rõ hoạt động ngoại giao của Đảng cộng sản Việt Nam giai đoạn
1946-1950: Thời kỳ kháng chiến trong vòng vây
- Làm rõ hoạt động ngoại giao của Đảng cộng sản Việt Nam giai đoạn
1951-1954: thời kỳ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã được sự ủng
hộ và giúp đỡ của cách mạng thế giới
- Hiệu quả chiến lược và những bài học kinh nghiệm của đường lối
ngoại giao
+ phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài được nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến năm 1954.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu là các bài báo, bài nghiên cứu trên các tạp chí Lịch sử Đảng;
Những cuốn sách về mặt trận ngoại giao trong thời kỳ 1945 – 2000;
Mặt trận ngoại giao thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954.
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, sử dụng các phương pháp của ngành khoa học lịch
sử: Lịch sử, lôgic và sự kết hợp giữa 2 phương pháp đó; so sánh, phân tích,
tổng hợp, thống kê…
5. Đóng góp của khóa luận
Đề tài đã cho chúng ta thấy được vai trò quan trọng của mặt trận ngoại
giao trong cuộc kháng chiến chống Pháp cũng như những đường lối, chính
sách đúng đắn của Đảng trong giai đoạn này nhằm từng bước đưa nền ngoại
giao nước nhà thoát khỏi sự cô lập trên trường quốc tế.
Qua việc tìm hiểu về đường lối ngoại giao của Đảng trong giai đoạn
này giúp ta hiểu hơn về sự sáng suốt của Đảng trong việc hoạch định những
trước hết là giữa Liên Xô và Mỹ chuyển từ hợp tác trong chiến tranh sang đấu
tranh ngày càng gay gắt trong hòa bình. Trật tự thế giới mới bắt đầu hình
thành, chuyển dần sang thế hai cực. Theo đó, các nước lớn trong phe Đồng
Minh đã có chủ trương điều chỉnh chiến lược đối ngoại cho phù hợp với yêu
cầu mới của lịch sử.
Liên Xô có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế.
Tuy nhiên, về đối ngoại, những năm đầu sau chiến tranh Liên Xô đã tập trung
ưu tiên củng cố vành đai an ninh tại những vùng giáp ranh biên giới của mình,
duy trì hòa hoãn với các nước lớn để giải quyết vấn đề do chiến tranh để lại,
ưu tiên củng cố ảnh hưởng ở khu vực phía Tây, giúp đỡ cách mạng Đông Âu.
Nước Pháp dưới chính quyền De Gaulle là đối tượng tranh thủ của Liên Xô ở
Châu Âu.
Ra khỏi chiến tranh, Mỹ là cường quốc số 1 thế giới, độc quyền vũ khí
hạt nhân, chủ nợ của các nước Tây Âu. Ưu tiên chiến lược đối ngoại của Mỹ
là xác lập vai trò lãnh đạo của mình trong hệ thống tư bản chủ nghĩa và thiết
lập trật tự thế giới mới với mưu đồ bá chủ toàn cầu. Theo đó, họ cố lôi kéo
Pháp, nhân nhượng Pháp vấn đề thuộc địa, trong đó có Đông Dương.
Anh và Pháp đều có yêu cầu cấp bách khôi phục kinh tế đất nước, bảo
vệ vị trí nước lớn và duy trì hệ thống thuộc địa trên thế giới.
Sau khi chiến tranh kết thúc ở châu Âu, chính quyền De Gaulle không
thể ngăn ngừa được những quyết định bất lợi cho Pháp mà ba nước lớn đưa ra
tại Pôtxđam, nhưng sự chuyển hướng chiến lược của hai nước lớn, cũng như
vị trí mới của mình nên Pháp đã tìm cách khai thác các nhân tố quốc tế có lợi
sau chiến tranh, đẩy mạnh hoạt động nhằm khôi phục lại quyền kiểm soát ở
Đông Dương.
Ở Trung Quốc, Sau thất bại nặng nề của mình trong cuộc tấn công vào
vùng giải phóng của Đảng Cộng sản sau hiệp định ngày 10 tháng 10 năm
1945, chính quyền Tưởng Giới Thạch buộc phải ký với ĐCS hiệp định mới
quyền lợi do cách mạng đem lại. Họ hiểu rõ giá trị thiêng liêng của những
quyền lợi ấy, một lòng gắn bó và quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng.
Đây chính là nguồn sức mạnh vô tận giúp cho Nhà nước cách mạng còn đang
trong thời kỳ trứng nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
- Mặt trận Việt Minh phát triển rất nhanh chóng. Các Hội Cứu quốc
trong công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ được tổ chức thống nhất trong
cả nước. Nhiều Hội Cứu quốc mới ra đời, tập hợp thêm những tầng lớp yêu
nước còn đứng ngoài Mặt trận như Công thương Cứu quốc, Phật giáo Cứu
quốc, Đoàn Hướng đạo Cứu quốc, Đoàn Sinh viên Cứu quốc…Mặt trận Việt
Minh thực sự trở thành ngọn cờ đoàn kết toàn dân rộng rãi, giữ vai trò quan
trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân.
- Quân đội còn non trẻ nhưng yêu nước ….
Đứng đầu Đảng và Nhà nước cách mạng là Chủ tịch Hồ Chí Minh vị
lãnh tụ thiên tài, có uy tín tuyệt đối trong nhân dân. tượng trưng cho tinh hoa
dân tộc, cho ý chí kiên cường bất khuất của nhân dân Việt Nam. Cuộc đời
hoạt động cách mạng phong phú cùng với uy tín rộng lớn của Người là ngọn
cờ tập hợp các tầng lớp nhân dân xung quanh Đảng và Chính phủ.
+ Khó khăn:
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau khi ra đời đã phải đứng
trước một tình thế hết sức hiểm nghèo.
- Nền kinh tế nước ta chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn
phá nặng nề, thiên tai thường xuyên xảy ra gây khó khăn nhiều cho sản xuất
nông nghiệp: “Trận lụt lớn hồi tháng 8/1945 làm vỡ đê ở 9 tỉnh Bắc Bộ, 1/3
diện tích canh tác bị hư hại nặng. Sự thiệt hại này gây ra ước tính khoảng
2000 triệu đồng, tương đương với khoảng 3 triệu tạ gạo (theo giá lúc đó)”.
[12, tr.17]. Các ngành kinh tế bị đình đốn nghiêm trọng. Nhiều cơ sở công
nghiệp chưa đi vào hoạt động. Hàng vạn công nhân thất nghiệp. Việc buôn
bán với nước ngoài hầu như bị đình trệ. Hàng hóa trên thị trường khan hiếm.
Việt phản động sống lưu vong ở Trung Quốc. Những nhóm người Việt này
thuộc các tổ chức giả danh cách mạng như Việt Nam Cách mạng Đồng minh
Hội (Việt Cách), Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), do chính quyền
Tưởng thu nạp và nuôi dưỡng từ lâu.
Ở phía Nam, 26 nghìn quân Anh - Ấn vào giải giáp quân đội Nhật.
Ngày 9 tháng 10 năm 1945, Anh đã ký với Pháp hiệp định chính thức
công nhận chính quyền dân sự của Pháp tại Đông Dương. Và ngày 1 tháng
Giêng 1946, Anh kí hiệp định trao quyền cho Pháp giải giáp quân đội Nhật ở
phía Nam vĩ tuyến 16. Để đổi lại, Pháp nhân nhượng cho Anh một số quyền
lợi ở Xyri, Libăng. Cùng với họ là hàng vạn quân Nhật đang chờ được giải
giáp được sự dung túng của lực lượng Đồng minh cũng gây nhiều khó khăn
cho cách mạng Việt Nam. Mặc dù còn mâu thuẫn về quyền lợi, nhưng tất cả
đều có mưu đồ tiêu diệt nền cộng hòa non trẻ để thành lập một chính quyên
quân sự phản động làm tay sai cho chúng.
Nguy hiểm nhất là âm mưu của thực dân Pháp. Khoảng 50 nghìn lính ở
Đông Dương đã được giải cứu cùng với những đạo quân viễn chinh mới của
Pháp được gấp rút đưa vào miền Nam. Ngày 23/9/1945, Pháp nổ súng đánh
chiếm trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ tại Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược
Việt Nam lần thứ hai. Như vậy chỉ sau 28 ngày từ khi khởi nghĩa, nền độc lập
của dân tộc đã đứng trước nguy cơ bị tước đoạt một lần nữa và Nam Bộ đã trở
thành tiền tuyến của cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp của nhân dân
Việt Nam.
1.1.2. Đƣờng lối ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ
1945 - 1946
Ngay sau khi VNDCCH ra đời, trong điều kiện trực tiếp lãnh đạo chính
quyền, Đảng đã vạch ra đường lối đối nội, đối ngọai phục vụ cho sự nghiệp
kháng chiến kiến quốc đi đến thắng lợi. Trong đó, đối ngoại được đặt ở vị trí
quan trọng với một hệ thống quan điểm, chiến lược, sách lược về quan hệ của
biểu dương lực lượng”.
Bản thông cáo về chính sách đối ngoại là văn kiện nhà nước đầu tiên về
đối ngoại, thể hiện cách nhìn rộng mở của Nhà nước Việt Nam thực hiện quan
hệ quốc tế kiểu mới, với tầm nhìn chiến lược về sự thay đổi cơ bản tính chất
của quan hệ toàn cầu, cũng như quan hệ với các nước láng giềng của Việt
Nam. Những nội dung của thông cáo đề ra góp phần quan trọng định hướng
tư tưởng và hoạt động thực tiễn của ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn
kháng chiến, kiến quốc, đồng thời là một biện pháp kịp thời nhằm tranh thủ
các lực lượng Đồng minh có mặt trên đất nước Việt Nam.
Giữ vững mục tiêu và nguyên tắc, đồng thời sẵn sàng thực hiện chính
sách đối ngoại rộng mở là nét độc đáo trong đường lối đối ngoại của nước
Việt Nam mới. Trong lời kêu goi Liên Hợp Quốc, Hồ Chí Minh nêu rõ:
“Trong chính sách đối ngoại của mình, nhân dân Việt Nam sẽ tuân thủ những
nguyên tắc dưới đây:
1. Đối với Lào và Miên, Việt Nam tôn trọng nền độc lập của 2 nước
đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các
nước có chủ quyền.
2. Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính
sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
a- Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà
tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình
b- nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng sân bay và đường sá giao
thông cho niệc buôn bán và quá cảnh quốc tế
c- nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế
quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên Hợp Quốc
d- Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân
trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và
những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không
Chỉ thị kháng chiến kiến quốc có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó đã xác
định được những vấn đề thuộc về chiến lược và sách lược cho sự đi lên cho
cách mạng Việt Nam trong giai đoạn đầy cam go và thử thách.
Những nội dung của chủ trương kháng chiến kiến quốc được Đảng tập
trung chỉ đạo thực hiện trên thực tế với tinh thần kiên quyết, khẩn trương, linh
hoạt, sáng tạo, trước hết là trong giai đoạn từ tháng 9 - 1945 đến cuối năm 1946.
Đứng trước tình hình thù trong giặc ngoài nổi dậy chống phá, Nhà nước
mới ra đời lại còn non trẻ, và đang lâm vào tình trạng “nghìn cân treo sợi
tóc”, Đảng và Chính phủ mà đứng đầu chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ
phương hướng hoạt động, biện pháp xây dựng chế độ mới và đối phó với các
lực lượng ngoại xâm.
Ngày 28/8/145, Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam tự cải tổ thành
Chính phủ lâm thời nước VNDCCH. Thành phần Chính phủ lâm thời gồm có
13 bộ và 15 vị bộ trưởng, do chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ
trưởng Bộ ngoại giao. Do ĐCS Đông Dương vẫn đang trong tình trạng hoạt
động bí mật, nên ngoại giao Việt Nam thời kỳ này được thể hiện qua hoạt
động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chính quyền các cấp từ TW đến huyện xã, quân đội và cảnh sát được
thay đổi cho phù hợp với chính thể mới.
Để bảo vệ và phát huy thành quả của Cách mạng tháng Tám, tạo thế
hợp hiến hợp pháp cho Nhà nước, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng
Chính phủ (3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ tổ chức
cuộc Tổng tuyển cử theo chế độ phổ thông đầu phiếu. Người nói: “Chúng ta
phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng
hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai
gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu
nghèo, tôn giáo, dòng giống…”[6, tr.8].
Bộ máy Nhà nước ở TW được hoàn thiện và củng cố một bước có đầy
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM THỜI KỲ 1945 - 1946
1.2.1. Hoạt động ngoại giao nhằm đề cao thế hợp pháp và sức mạnh
của chính quyền cách mạng
Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào (13-15/8/1945) đã quyết
định phát lệnh Tổng khởi nghĩa đồng thời hoàn chỉnh các quan điểm chỉ đạo
về sắp xếp bạn thù, nhấn mạnh cần lợi dụng mâu thuẫn giữa các phe và tránh
trường hợp một mình phải đối mặt với nhiều lực lượng đối địch.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và sự ra đời của nước VNDCCH
là một sự kiện lịch sử trong cuộc đấu tranh của các nước thuộc địa chống chủ
nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc.
Để tạo cơ sở pháp lý và danh nghĩa chính thức cho chính quyền mới,
ngày 28 tháng 8 năm 1945, vừa về đến Hà Nội đã quyết định cải tổ Ủy ban
Dân tộc Giải phóng Việt Nam đã được cải tổ thành Chính phủ Lâm thời
VNDCCH và công bố danh sách Chính phủ; đồng thời quyết định cử hành Lễ
tuyên bố Độc lập sớm nhất có thể được. Tình hình lúc này hết sức khẩn
trương, Ngày 17/8/1945, tướng De Gaulle đã cử Đô đốc D’Argenlieu làm Cao
ủy, tướng Leclerc làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương; ra lệnh
cho các lực lượng viễn chinh Pháp tiến vào Đông Dương theo ba đợt. Ngày
28/8/1945, một số đơn vị quân đội Tưởng đã vượt qua ải Nam Quan tiến quân
vào Bắc Việt Nam. Ngày 6/9/1945, đơn vị đầu tiên của quân Anh đổ bộ vào
Sài Gòn. Lễ tuyên bố Độc lập phải được tổ chức trước khi quân đội Tưởng
đến Hà Nội. Theo đó, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên
ngôn Độc lập trước quốc dân và thế giới, tuyên bố nước VNDCCH ra đời.
Bản tuyên ngôn nêu rõ “nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và
thực sự đã thành một nước tự do và độc lập”. Bản tuyên ngôn cũng khẳng
định: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng,
tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Chính phủ Lâm thời ra mắt ngày 2/9/1945 là một Chính phủ quốc gia
Chiến tranh Mỹ rằng việc dùng các tàu hoặc máy bay mang cờ Mỹ để vận
chuyển quân lính của bất kỳ quốc tịch nào tới Đông Ấn thuộc Hà Lan hoặc Đông
Dương thuộc Pháp, hoặc cho phép dùng các phương tiện đó chở vũ khí, quân trang
quan dụng tới những vùng này là đi ngược với chính sách Mỹ” [9, tr.53].
Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ
VNDCCH đối với Mỹ vừa có ý nghĩa đề cao vị thế của VNDCCH vừa góp
phần tranh thủ Mỹ “trung lập”, tạo thuận lợi để hòa hoãn và kìm chế lực
lượng của Tưởng, cũng như Pháp ở Việt Nam.
Nhằm đề cao vị thế và thiện chí của VNDCCH, Chủ tịch Hồ Chí Minh
thăm Pháp trong cương vị là thượng khách của Chính phủ Pháp. Chính phủ
Việt Nam cử đoàn của cố vấn Vĩnh Thụy thăm Trùng Khánh và đoàn Quốc
hội, do Phó Trưởng ban thường trực Quốc hội Phạm Văn Đồng dẫn đầu, thăm
Pháp.
Những chính sách đối nội, đối ngoại hợp với lòng dân, hợp hoàn cảnh
đã tạo khả năng thêm bạn bớt thù, tạo cơ sở pháp lý và thế mạnh của
VNDCCH để đương đầu với các thế lực hung hãn của Tưởng Giới Thạch và
thực dân Pháp.
1.2.2. Lợi dụng mâu thuẫn nội bộ đối phƣơng thực hiện sách lƣợc
hòa Tƣởng – đánh Pháp.
+ Chính sách Ngoại giao đối với những nước lớn có mặt tại Việt Nam.
Theo đúng tinh thần các nghị quyết của Đảng về đối ngoại, trong hoàn
cảnh phải đối đầu với nhiều đối thủ mạnh mà giữa họ lại có nhiều mâu thuẫn
về lợi ích thì lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù là một vấn đề có ý
nghĩa chiến lược đối với cách mạng. Hội nghị cán bộ Bắc Kỳ của ĐCS Đông
Dương, ngày 10 - 11 tháng 9 năm 1945 nêu một số chủ trương ngoại giao:
- Cương quyết chống lại Pháp De Gaulle mưu mô chiếm lại Đông
Dương; phải tranh thủ Mỹ công nhận nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam và
“giao hòa với chúng ta”; đối với Trung Quốc Tưởng Giới Thạch “nên tránh