LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến thầy giáo T.s Nguyễn Thế Hoàn - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và
động viên em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Khoa học xã hội
Trường Đại Học Quảng Bình đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt
quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban tuyên giáo huyện ủy Quảng Trạch,
Ủy ban xã Cảnh Dương, Ủy ban xã Quảng Hưng đã tạo điều kiện cho em thu thập đầy
đủ và chính xác những số liệu phục vụ công tác nghiên cứu trong quá trình thực hiện
khóa luận.
Trong quá trình thực hiện, do bước đầu làm quen với đề tài nghiên cứu, kinh
nghiệm và thời gian có nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 5 năm 2014
Tác giả thực hiện
Võ Thị Nhi
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của riêng
tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thế Hoàn. Các
số liệu và kết quả nghiên cứu khóa luận này là trung thực. Các thông tin trích dẫn
trong khóa luận có nguồn gốc rõ ràng và được chú thích đúng quy định.
Tác giả khóa luận
Võ Thị Nhi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐCS Đảng Cộng Sản
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
HĐBT Hội đồng Bộ trưởng
NXB Nhà xuất bản
dậy kháng chiến. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Liên khu IV,
Đảng bộ tỉnh, huyện ủy, chi bộ xã Hòa Trạch, nhân dân Cảnh Dương đã biết vận
dụng một cách sáng tạo trước mọi tình huống của chiến tranh, đồng thời tổ chức,
1
động viên toàn dân tham gia kháng chiến, tạo nên sức mạnh to lớn để chiến thắng
kẻ thù.
Là một bộ phận gắn bó máu thịt với cuộc kháng chiến của nhân dân cả
nước, nhân dân Cảnh Dương đã sáng tạo, đồng lòng đồng sức xây dựng nên “Hàng
rào chiến đấu” chống thực dân Pháp xâm lược. Trở thành một trong những làng
chiến đấu anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, là làng kháng chiến kiễu
mẫu không chỉ được nhân dân trong huyện, trong tỉnh, mà còn được nhân dân cả
nước học tập noi theo.
Hội nghị Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu IV ngày 26 – 2 - 1949 đã
tuyên dương làng Cảnh Dương (xã Hòa Trạch, huyện Quảng Trạch) là làng chiến
đấu kiểu mẫu. Cùng với những thắng lợi đó Cảnh Dương đã vinh dự được Chủ
tịch Hồ Chí Minh và nhà nước tặng danh hiệu “Làng chiến đấu anh dũng”.
Như vậy, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Cảnh Dương đã anh dũng
chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược. Không chỉ tham gia chiến đấu chống
thực dân Pháp, nhân dân Cảnh Dương còn tham gia sản xuất, phục vụ cuộc sống,
đảm bảo lương thực, thực phẩm và chi viện cho cuộc kháng chiến. Bên cạnh đó
các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, cũng được nhân dân phát huy một
cách cao nhất để phục vụ cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng.
Tên tuổi làng kháng chiến Cảnh Dương đã trở thành một biểu tượng mẫu
mực của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Vì những lý do trên mà tôi đã chọn vấn đề: “Làng chiến đấu Cảnh Dương
trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954)” làm khóa luận
tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về Cảnh Dương trong kháng chiến
chống Pháp xâm lược.
một hệ thống mang tính định hướng. Tuy nhiên, đó lại là những cứ liệu quan
trọng giúp tôi thực hiện đề tài của mình.
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng
Khóa luận tập trung đi sâu nghiên cứu về một đối tượng cụ thể, đó là: “Làng
chiến đấu Cảnh Dương trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 –
1954)”.
Ngoài ra, để làm rõ hơn thì khóa luận này còn tìm hiểu sơ lược về điều kiện
tự nhiên, nhân dân Cảnh Dương với truyền thống yêu nước cách mạng, công
3
cuộc bảo vệ và củng cố chính quyền cánh mạng, sự chuẩn bị về mọi mặt của
Cảnh Dương trước khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược.
3.2. Phạm vi
- Về không gian: Với phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp, đề tài chỉ tập
trung nghiên cứu về làng Cảnh Dương.
- Về thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến
Cảnh Dương trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954.
3.3. Nhiệm vụ
Đề tài tập trung làm rõ những vấn đề sau:
- Thứ nhất: Cảnh Dương và truyền thống yêu nước cách mạng của nhân
dân.
- Thứ hai: Cảnh Dương trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược 1945 – 1954.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Tiến hành nghiên cứu khóa luận trên cơ sở vận dụng quan điểm phương pháp
luận Mácxít – Lêninnít và tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhận thức nghiên cứu lịch
sử.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
luận được chia làm 2 chương với bố cục như sau:
- Chương 1: Cảnh Dương và truyền thống yêu nước cách mạng của nhân dân.
- Chương 2: Làng chiến đấu Cảnh Dương trong thời kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược 1945 – 1954.
5
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CẢNH DƯƠNG VÀ TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC
CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN
1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Trên con đường từ Bắc vào Nam, qua đèo Ngang chưa đầy 10 km về phía
Đông Nam, từ trung tâm thị xã Ba Đồn (Quảng Trạch) ra phía Bắc theo đường
quốc lộ 1A chừng 17 km, khi đứng trên cầu Roòn nhìn về hướng biển, ta sẽ thấy
một một vùng quê trù phú xinh đẹp, tấp nập thuyền bè vào ra, một làng biển thơ
mộng, giàu truyền thống khoa bảng. Đó là xã Cảnh Dương anh hùng, được mệnh
danh là “Pháo đài thép” trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Làng Cảnh Dương nằm trên cửa biển phía hữu ngạn con sông Roòn bốn
mùa xanh biếc, nằm giữa hai địa danh là núi – sông ôm choàng lấy vùng đất
Quảng Trạch (Quảng Bình). Là một trong bảy xã vùng Roòn nằm ở phía Bắc
Quảng Trạch, có tọa độ địa lý ở vào 17
0
50’ – 17
0
52’ vĩ độ bắc, 106
0
26’05” – 106
0
27’ độ kinh đông với diện tích là 1,52 km
2
.
Dương đã phát huy được sức mạnh làng xã của mình.
Ngày nay, tổng thể kiến trúc làng xã Cảnh Dương cũng chằng chịt, nhà sát
nhà, đường xá quanh co, vào làng rất khó xác định được lối đi. Đúng là như một
thành phố cổ. “Trong chín năm kháng chiến Cảnh Dương, tất cả những con
đường dẫn đến các ngã trong xã đều có cừ bằng đá san hô. Cừ là hai lớp tường
xây bằng đá san hô hơi lệch nhau. Khi chiến sự xẩy ra, du kích bố trí lực lượng
chốt ở các cừ đầu đường sẵn sàng súng đạn chờ giặc tới để chiến đấu. Các làng
nông nghiệp giao thông hào là những hào đào sâu vào lòng đất còn ở Cảnh
Dương, giao thông hào hình thành bằng việc đục tường các nhà trong từng chòm
làm thành một hệ thống giao thông chằng chịt mà địch không thể nào hiểu nổi.
Từ các giao thông hào, sau những bức tường là các chiến sĩ du kích người dùng
súng người dùng giáo mác tự tạo sẵn sàng tiêu diệt giặc” [7; 105].
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Cảnh Dương nằm trên cửa biển phía hữu ngạn sông Roòn, con sông bốn
mùa xanh biếc. Như bao làng quê khác của tổ quốc Việt Nam, Cảnh Dương có bề
dày lịch sử từ ngày tạo lập quê hương cùng với nền văn hóa phong phú và truyền
7
thống cách mạng kiên trung, truyền thống đó được bồi đắp theo chiều dài của
thời gian, đứng vững trên nền đất hiền hòa, tươi đẹp và con người anh dũng, bất
khuất, cần cù, bình dị.
Ở Cảnh Dương, có biển, có sông, còn có vũng gọi là Vũng Chùa.
Địa phận thuộc Vũng Chùa xưa chính là căn cứ thủy quân của quân Trịnh
trong cuộc chiến tranh với chúa Nguyễn. Vũng chùa thuận tiện cho ngư dân đánh
bắt gần bờ, đặc biệt là nghề câu.
Gió Bắc thì dựa Vũng Chùa
Gió Nồm dựa chụt, bốn mùa như ao
Cảnh Dương còn có các đảo như đảo La (cao 119 mét, diện tích chừng 0,4
km
2
), đảo Nồm, đảo Cỏ tạo thành thế chân vạc vững chải như một bức hình
biển bãi ngang là một vòng cung, cửa mở hướng Đông Nam là cái rọ của mùa cá
nổi, vùng bãi ngang đáy nông, cát lẫn bùn sền sệt với nhiều phù du. Hai vùng
biển này là nơi giao lưu, cư trú và sinh sản của nhiều sản vật quý hiếm của biển
cả với nhiều tôm, cá, mực, san hô,… một vùng đất trù phú đã trở thành nơi sinh
cơ lập nghiệp, nuôi sống con người từ khi tạo dựng cuộc sống đến nay.
Tài nguyên ở Cảnh Dương ít đa dạng nhưng nếu biết tận dụng khai thác thì
sẽ là nguồn lực lớn của quê hương. Thảm thực vật hạn chế, chỉ là những dãy phi
lao, dứa, các loài cây nước mặn (cây mắm, cây bần, cây đước ). Bù lại, Cảnh
Dương có nguồn đặc sản biển phong phú: tôm hùm, bào ngư, mực, hải sản, rau
câu, các loài cá, Đây là nguồn lợi đánh bắt xuất khẩu rất dồi dào. Hằng năm,
với trữ lượng đánh bắt lớn, ngư dân Cảnh Dương đã đem về cho quê hương sự
giàu có, và góp phần nâng cao đời sống của nhân dân.
Khoáng sản Cảnh Dương có trữ lượng đáng kể, phục vụ công cuộc phát triển
kinh tế, quốc phòng như: cát thủy tinh, đá san hô Cùng với thế mạnh “biển
bạc”. Cảnh Dương có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp: hòn La, hòn Lố, bãi
biển Ngày nay, với những chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội hợp lý, nhân
dân Cảnh Dương đang từng bước phát huy những thế mạnh của mình, tận dụng
nguồn lợi, đón lấy thời cơ, nhanh nhạy trước cái mới, xây dựng và phát triển
Cảnh Dương trên mọi mặt, phát huy truyền thống làng văn vật, làng anh hùng
trong lịch sử.
1.1.3. Giao thông
Với vị trí địa lý nói trên, làng Cảnh Dương có hệ thống giao thông hết sức
thuận lợi cả về đường bộ, đường biển, đường sông. Hệ thống đường giao thông
9
nối liền thông suốt từ Bắc vào Nam và từ Đông sang Tây tạo ra sự thuận lợi
trong liên lạc, giao lưu, buôn bán của cư dân nơi này.
Thứ nhất về đường bộ: Làng Cảnh Dương nằm dọc trên quốc lộ 1A, chạy
qua đầu làng. Chạy về phía Bắc cách thủ đô Hà Nội 434 km, về phía Nam Cảnh
Dương cách thành phố Hồ Chí Minh 1.303 km, cách thành phố Đồng Hới
khoảng 60 km, và cách thị xã Ba Đồn 17 km. Quốc lộ 1A có ảnh hưởng lớn đến
Sông Hung Bàn (nay thuộc xã Quảng Hợp), là con sông cái chảy từ vùng
đồi núi Quảng Hợp về vùng Roòn qua các xã Quảng Kim, Quảng Châu, Quảng
Tùng, Quảng Phú rồi ra cửa Cảnh Dương.
Sông Thai ngắn hơn, chảy từ Kim Long xã Quảng Kim về Phú Lộc xã
Quảng Phú hợp với sông Cả rồi chảy ra cửa biển. Cửa sông Roòn hẹp, nông, có
nhiều đặc sản quý như tôm, cua, hàu, vẹm, cá hanh, cá buôi, cá đối, đặc biệt là sò
huyết…
Thứ ba là con đường biển: Nếu từ mũi Cửa Tùng (Quảng Trị) đến đảo Hải
Nam (Trung Quốc) dài 280 km được xác định là cửa Vịnh Bắc Bộ, thì biển Cảnh
Dương nằm trong cửa ngõ Vịnh Bắc Bộ nên cửa biển Cảnh Dương rất thuận lợi
cho tàu bè lưu thông, giao lưu, buôn bán ra Bắc cũng như là vào Nam. Từ Cảnh
Dương vào Đà Nẵng tàu khách sẽ vượt qua 174 hải lý, và từ Cảnh Dương ra Hải
Phòng tàu khách sẽ vượt qua cung đường 297 hải lý.
1.1.4. Về khí hậu
Là một vùng đất nằm ở phía Bắc Quảng Trạch (Quảng Bình) lại giáp với
biển Đông, Cảnh Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền
Trung. Mỗi năm Cảnh Dương có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa
khô bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 8, chịu sự khắc nghiệt của gió Phơn Tây Nam
(còn gọi là gió Lào), nhưng nhờ có gió biển chi phối nên khí hậu Cảnh Dương dễ
chịu hơn các vùng khác. Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, là mùa hay có
bão và áp thấp nhiệt đới, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sản xuất và sinh
hoạt của nhân dân Cảnh Dương bởi cuộc sống của họ gắn liền với biển cả. Hằng
năm trung bình có 1700 – 1900 giờ nắng và 160 – 190 ngày mưa. Nhiệt độ tháng
thấp nhất (tháng 1) là 17,7
0
C; tháng cao nhất (tháng 5) là 29,2
0
C. Lượng mưa lớn
nhất trong năm thường xảy ra là tháng 9 (1169,8 mm), tháng 10 (1405,7 mm).
Lượng mưa hằng năm dao động trong khoảng 1519,9 – 3110,5 mm [8; 25]
Quý Mùi (1643) triều Lê Chân Tông, hiệu Phúc Thái, tổ tiên ta cùng khai khẩn
ấy, rồi liệt vị tiên hiền cũng vào xứ Cồn Dưa (tức là thôn Bắc Hà) xã Thuần
Thuần, châu Bố Chính”. Khi vào khai hoang, lập ấp họ kết nghĩa anh em, cùng
12
nhau tạo lưới vó làm nghề đánh cá, lập nên nhà cửa, đào giếng phía Đông gọi là
giếng Đông và cùng nhau cư trú.
Qua đó, có thể thấy thời gian thành lập làng tương đối thống nhất, đó là năm
1643. Và từ Đông Chí năm Quý Mùi (1643) đến mùa hè năm Quý Tỵ (1653) có
đến 20 vị tiền khai khẩn và đồng khẩn quê ở Cảnh Dương trang, thuộc phủ Đức
Quang, huyện Chân Phúc, tỉnh Nghệ An vào lập nghiệp ở xứ Cồn Dưa, cửa biển
làng Thuần Thuần, thôn Bắc Hà, châu Bố Chính (tức tả ngạn cửa sông Roòn –
Quảng Bình ngày nay). Trong tác phẩm “Cảnh Dương chí lược” có ghi chép 20
vị tiền khai khẩn và đồng khẩn là: Nguyễn Văn An, Nguyễn Văn Yến, Nguyễn
Văn Lẫm, Phạm ăn Hữu, Phạm Văn Sảo, Đỗ Phú Thanh, (vào đời Lê Chân Tông
Phúc Thái nguyên niên (1643). Phạm Văn Ánh, Phạm Văn Hảo, Võ Văn Lan,
Phạm Khắc Hoàng, (ngày 20 tháng 09 mùa thi năm Đinh Hợi (1647) niên hiệu
Phúc Thái thứ 5 (triều vua Lê Chân Tông)). Đỗ Phú Thanh, Đỗ Văn La, Trương
Văn Trác, Trương Văn Pháo, Ngô Văn Hào, Ngô Cảnh Xuân, Ngô Phúc Lai, Vũ
Văn Nhương, Vũ Văn Nhiên, Nguyễn Văn Đức (Vệ), (ngày 08 tháng 06, mùa hạ
năm Quý Tỵ (1653) Thịnh Đức nguyên niên).
Sau khi cư trú, lập nghiệp ở đất Cồn Dưa suốt 12 năm, người Cảnh Dương
ở thôn Bắc Hà các vị tiền khẩn và đồng khẩn cho rằng: “Đất Cồn Dưa nhỏ hẹp
không thể lập làm xã hiệu được” [11; 27].
Như vậy, với tầm nhìn xa trông rộng và vốn hiểu biết của bản thân các ông
cho rằng vùng Cồn Dưa nhỏ hẹp không thể sinh sống lâu dài, phát triển nên đã
quyết định chuyển sang vùng đất phía Nam sông Roòn vào tháng 2 năm Ất Mùi,
tức năm Thịnh Đức thứ ba (1655). Đó là vùng Lòi Mắm trước đây thuộc địa phận
làng Di Phúc, nằm sát biển ngay cửa sông Roòn. Lúc chuyển qua thì dân cư chỉ
được 20 người, họ dựng năm ngôi nhà, đào hai giếng để sinh sống. Tác giả
Nguyễn Ngọc Phúc đã dẫn chứng: “Thủy tổ làng ta vốn sinh ở làng Cảnh Dương
Suốt chiều dài lịch sử, nhân dân Cảnh Dương đã trải qua các bước thăng
trầm để xây dựng và bảo vệ quê hương. Sự phát triển của Cảnh Dương hôm nay
gắn liền với lịch sử đấu tranh anh dũng, quật cường của con người nơi đây.
Trước hết, đó là lòng yêu quê hương, yêu nước của dân làng Cảnh Dương,
và được thể hiện đầu tiên qua việc xây dựng làng xã. Truyền thống yêu nước của
nhân dân Cảnh Dương thể hiện trong ý chí quật cường trước thiên tai, địch họa,
14
tinh thần cần cù, chịu thương chịu khó đã khai phá, cải tạo vùng đầm lầy thành
làng quê ven biển trù phú.
Từ khi được thành lập vào năm 1643 đến nay, nhân dân Cảnh Dương đã ra
sức xây dựng quê hương mình, chăm lo phát triển quê hương giàu mạnh. Và đến
bây giờ Cảnh Dương đã trở thành một trong những xã giàu có ở vùng Roòn. Do
điều kiện tự nhiên và đặc điểm của vùng, nhân dân Cảnh Dương sống bằng nghề
đi biển, đánh bắt cá, chế biến và buôn bán các loại hải sản, đặc biệt là nghề làm
nước mắm, nghề hàng hải, đóng tàu thuyền, buôn bán hàng hóa… Cùng với việc
xây dựng và phát triển kinh tế, nhân dân Cảnh Dương còn tạo dựng cho mình
một cuộc sống tinh thần phong phú với nền văn hóa đặc sắc, xây dựng các Hương
ước của làng, các phong tục tập quán, các lễ hội các điệu hò như Hò cạn, Hò hụi…
Lễ hội như hội Bơi trải, Giỗ tổ, Rước Động Mỏ, Cờ người… Xây dựng các công
trình văn hóa như chùa làng, đình làng, lăng tẩm… Dù phải đối mặt với thiên tai, lũ
lụt nhưng không vì thế mà người dân Cảnh Dương nhụt chí, trái lại, họ càng kiên
cường xây dựng quê hương thêm giàu mạnh.
Thứ hai là truyền thống hiếu học và truyền thống khoa bảng: Dân làng Cảnh
Dương chủ yếu sống nhờ nghề chài lưới trên sông biển, chế biến và buôn bán các
loại hải sản nhưng các vị tiên chỉ của làng ý thức được việc học của con cháu, và
họ đã xác định rằng chỉ có kiến thức mới xây dựng quê hương giàu mạnh. Nên
truyền thống yêu nước của nhân dân Cảnh Dương còn thể hiện ở việc học hành
khoa bảng. Trong các hương phả của Cảnh Dương luôn đề cao việc giáo dục, đào
tạo nhân tài, có chế độ khuyến khích người đỗ đạt. Khoán lệ của làng ghi rõ:
"Chính sự phong hóa càng phải rộng mở mới tận thiện, tận mỹ. Phàm làm việc gì
Dương đã thành lập trường sơ học vào năm 1918 do cụ Đỗ Phú Túc nguyên là
tổng đốc Bắc Giang về hưu vận động xây dựng và thành lập. Trường mang tên
“Trường tiểu học Pháp - Việt Ròn”. Đây là một trong những trường học đầu tiên
ở Quảng Bình và là trung tâm giáo dục của cả vùng Bắc Quảng Trạch. Năm
1954, miền Bắc được giải phóng, trường Trung học dân lập thành lập ở Quảng
Châu trước đó (năm 1950) rời về Cảnh Dương (tức là trường cấp II Cảnh Dương
ngày nay) là một trong năm trường đầu tiên ở Quảng Bình được thành lập sau khi
hòa bình lập lại.
16
Thứ ba, truyền thống đoàn kết trong đấu tranh cách mạng: Truyền thống
yêu nước và sự nghiệp cách mạng của một làng quê trên đường thiên lý, bên bờ
sông Loan – núi Phượng được hun đúc, nuôi dưỡng từ trong mạch nguồn của lịch
sử, trong mạch máu của quê hương từ khi thành lập đến nay. Không chỉ đổ mồ
hôi và nước mắt tạo dựng quê hương, nhân dân Cảnh Dương còn góp sức người
sức của chiến đấu chống ngoại xâm, giữ gìn bờ cõi.
Sống trong thời đại của cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn, ngay từ khi khai
canh dân làng Cảnh Dương đã chịu nhiều cơ cực của nạn đao binh. Là vùng đất
trải qua hàng trăm năm chinh chiến trận mạc trong cuộc chiến tranh giữa hai tập
đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn. Cảnh Dương được coi là dân Kiến Nghĩa, Đạo
dẫn đường dưới triều Lê Trịnh, họ đã phải sung lính, vận chuyển lương thực, dẫn
đường vượt biển trong các cuộc chiến ở thế kỷ XVII. Nằm trên hữu ngạn sông
Roòn, cách sông Gianh 20 km, là trung tâm khu tiền tiêu trong hệ thống đồn lũy
liên hoàn của chúa Trịnh, là trạm liên lạc lớn nhất nối liền giữa tiền tuyến và hậu
phương. Sông Roòn là yết hầu con đường thủy chiến, con đường vận chuyển
quân đội, vũ khí, lương thực từ Hà Tĩnh vào Bố Chính. Quân Trịnh đã đào con
kênh Xuân Hưng nối liền sông Roòn với sông Gianh. Cửa biển Cảnh Dương
chính là căn cứ thủy quân của quân Trịnh. Nhân dân Cảnh Dương lúc này cũng
chịu cảnh bắt phu, bắt lính, cung phụng sức người sức của cho quân Trịnh đánh
lại nhà Nguyễn. Gia phả ở Cảnh Dương còn ghi lại vị trí chiến lược quan trọng
của Cảnh Dương: “Năm Nhâm Tý (1672), niên hiệu Dương Đức (vua Lê Gia
nước của nhà Tây Sơn. Cảnh Dương nằm trên trục đường thiên lý Bắc - Nam
thống nhất, càng có điều kiện mở rộng giao lưu và phát triển. Nghề hàng hải
buôn bán bằng thuyền buồm giờ đây có cơ hội mở mang về hướng Nam, tạo ra
một thị trường buôn bán rộng lớn. Nghề làm nước mắm, nghề buôn bán đem lại
sự phồn vinh cho người Cảnh Dương. Dựa vào đặc điểm này, nhà Nguyễn đã
lệnh cho làng Cảnh Dương kết hợp với làng biển Lý Hòa (Quảng Trạch) thành
lập đội vận tải quân lương Dương – Hòa (Cảnh Dương - Lý Hòa) phục vụ công
tác hậu cần cho nhà Nguyễn. Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, nhà
Nguyễn bất lực đầu hàng, nhưng nhân dân Cảnh Dương dưới sự lãnh đạo của các
nhà nho yêu nước, đã tham gia phong trào chống quân “Tà đạo” với tấm lòng
mẫn cảm. Khôn khéo không nhường đất để các giáo sỉ Gia – tô lập nhà thờ; từ
chối quyết liệt việc gia nhập đạo Thiên chúa Nhân dân Cảnh Dương còn tổ
18
chức bố phòng, trồng cây gai mận suốt dọc bải bờ phía Nam làng phòng đêm
giặc đến, đêm đêm tích cực luyện tập võ nghệ, đi lùng bắt và giết những tên theo
Tây. Khi Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi rời Tân Sở Quảng Trị ra vùng núi
Tây Bắc tỉnh Quảng Bình ban chiếu Cần Vương thì nhân dân Cảnh Dương đã
đứng lên hưởng ứng mạnh mẽ, các nhà nho yêu nước hăng hái lên đường phò
vua cứu nước, tiêu biểu có tú tài Phạm Thế Lộc. “Trên đường liên lạc với quân
thứ Kỳ Anh (tức Kỳ thứ) do Vũ Pháp lãnh đạo, thì bị bắt tại Đèo Ngang. Chúng
giải ông về Đồng Hới, đến quán cháo, Thầu Đâu (Quảng Xuân), ông tuẫn tiết”
[11; 36]. Dù bị giặc đàn áp hết sức dã man, nhân dân Cảnh Dương vẫn tiếp tế
lương thực, thực phẩm cho phong trào Cần Vương: Như cá khô, nước mắm…
Phong trào Cần Vương tuy thất bại nhưng đã để lại cho nhân dân Cảnh Dương
một khí thế sôi sục, một ấn tượng mạnh mẽ về lòng yêu nước ngọn lửa hồng quật
cường ấy được truyền từ đời này sang đời khác.
Đặc biệt, nhân dân Cảnh Dương còn thể hiện lòng yêu nước của mình trong
những năm dài dưới ách phong kiến và thực dân đô hộ, nhân dân Cảnh Dương đã
không ngừng vùng lên đấu tranh chống áp bức bất công, đùm bọc, tương thân
tương ái trong những lúc khó khăn. Điều đó được thể hiện qua phong trào cải
chính quyền ở xã đã hoang mang rời rạc nhưng bộ máy hương lý vẫn thừa lệnh
bộ máy chính quyền bù nhìn dự định tổ chức cuộc mít tinh mừng “ngày độc lập”
do Nhật trao trả cho chính quyền Trần Trọng Kim. Ta thừa cơ hội này vừa biến
cuộc mít tinh của ngụy quyền thành cuộc mít tinh công bố ngày xuống đường
khởi nghĩa. Thông báo cho một số thủ lĩnh thanh niên Phan Anh và hương lý bù
nhìn khởi nghĩa của ta; bọn chúng phải tuân thủ không thể chống đối tuy thực
tình ta chưa có cơ sở và phong trào Việt Minh nhưng nhờ khí thế của phong trào
chung trong cả nước và trong vùng áp đảo. Trong mít tinh, anh Nguyễn Ngọc
Bơn - người đại diện Việt Minh thay mặt Ủy ban khởi nghĩa đứng lên bàn cao,
nói về tôn chỉ và mục đích của Việt Minh, về độc lập đất nước, về tổng khởi
nghĩa và công bố thời gian, địa điểm xuống đường cướp chính quyền. Kết thúc
cuộc mít tinh, cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới, nhân dân nhiệt liệt hoan
nghênh:
Việt Nam Độc lập muôn năm!
Ủng hộ Việt Minh!
20
Hồ Chí Minh muôn năm!
Đây là những khẩu hiệu đầu tiên được nhân dân hưởng ứng, mở đầu cho
thời kỳ cách mạng mới và đầy vinh quang của nhân dân Cảnh Dương. Về thực
chất, chính quyền cũ ở Cảnh Dương đã bị xóa bỏ từ cuộc mít tinh lịch sử này.
Tối ngày 21 – 8, một cuộc họp được tổ chức để quyết định chỉ huy các đơn
vị nghĩa quân nổi dậy. Mỗi nghĩa quân phiên chế theo đơn vị kiểu trung đội, mỗi
đơn vị khoảng 40 – 50 người chia làm nhiều tiểu đội. Sáng hôm sau, ngày 22 – 8
– 1945, Ủy ban khởi nghĩa đã phái lực lượng tự vệ đi tước đồng triện của lý
trưởng các làng trong vùng Roòn, chiếm nhà thương chính Roòn, chiếm trạm khố
xanh ở cửa biển. Chính quyền bù nhìn đến đây bị xóa bỏ. Cách mạng tháng Tám
ở Cảnh Dương thành công, Ủy ban khởi nghĩa tổ chức lễ ra mắt nhân dân của
chính quyền cách mạng. Danh sách ủy ban lâm thời được công bố và niêm yết
trang nghiêm, gồm: Chủ tịch: Ngô Hoàng; Các ủy viên: Ngô Mai, Nguyễn Ngọc