hướng dẫn đọc toàn văn báo cáo KQNC
!
!
Bạn muốn đọc nhanh
những thông tin cần thiết ?
Hy đọc qua Mục lục bên tay trái bạn trước khi
đọc báo cáo ( với Acrobat 4.0 trở lên, cho trỏ chuột vào
mỗi đề mục để đọc toàn bộ dòng bị che khuất )
! Chọn đề mục muốn đọc và nháy chuột vào đó
!
!
Bạn muốn phóng to hay thu nhỏ
trang báo cáo trên màn hình ?
Chọn, nháy chuột vào 1 trong 3 kích th
thưước
có sẵn trên thanh Menu
, hoặc
! Mở View trên thanh Menu, Chọn Zoom to
! Chọn tỷ lệ có sẵn trong hộp kích th
thưước
muốn,, Nhấn OK
hoặc tự điền tỷ lệ theo ý muốn
Chúc bạn hài lòng
với những thông tin đđưược cung cấp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐCS
Đảng Cộng Sản
CHXHCN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
HĐBT
Hội đồng Bộ trưởng
NXB
Nhà xuất bản
UBND
Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu................................................................................................... 2
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ................................................ 3
3.1. Đối tượng.............................................................................................................. 3
3.2. Phạm vi ................................................................................................................. 4
Trung ương Đảng, tỉnh ủy Quảng Bình và huyện ủy Quảng Trạch ............................. 33
2.1.2.2. Nhân dân Cảnh Dương chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
.................................................................................................................................. 38
2.1.2.2.1. Về chính trị ................................................................................................ 39
2.1.2.2.2. Về quân sự ................................................................................................. 41
2.1.2.2.3. Về kinh tế - văn hóa – xã hội ...................................................................... 48
2.2. Phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân Cảnh Dương (từ 27 – 3 – 1947
đến 20 – 7 – 1954) ..................................................................................................... 50
2.2.1. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ ở Cảnh Dương ...................... 50
2.2.2. Các trận đánh thắng lớn của nhân dân Cảnh Dương ......................................... 58
2.2.2.1. Trận càn ngày 6 – 5 – 1948 ........................................................................... 58
2.2.2.2. Trận càn ngày 15 – 5 - 1948 .......................................................................... 60
2.2.2.3. Trận nhảy dù thủy lục không quân ngày 12 – 7 – 1948 (mồng 6 tháng 6 Mậu
tý) .............................................................................................................................. 62
2.2.2.4. Trận tập kích ngày 08 – 6 – 1953 (ngày 27 tháng 4 năm Quý tỵ) ................... 72
2.3. Vai trò và bài học về “hàng rào chiến đấu” của quân và dân Cảnh Dương trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954) ............................... 79
2.3.1. Vai trò của Cảnh Dương trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
.................................................................................................................................. 79
2.3.1.1. Vai trò của quân dân Cảnh Dương trong việc bảo vệ xóm làng ..................... 79
2.3.1.2. Cảnh Dương thực hiện nghĩa vụ hậu phương kháng chiến (1945 – 1954) ...... 82
2.3.1.2.1. Cảnh Dương xây dựng hậu phương kháng chiến tại chỗ ............................. 82
2.3.1.2.1.1. Về kinh tế ................................................................................................ 82
2.3.1.2.1.2. Về chính trị ............................................................................................. 83
2.3.1.2.3. Về quân sự ................................................................................................. 84
2.3.1.2.4. Về văn hóa – xã hội .................................................................................... 85
2.3.1.2.2. Cảnh Dương thực hiện nghĩa vụ hậu phương đối với tiền tuyến, phối hợp
chiến đấu với chiến trường toàn quốc ........................................................................ 86
một đế quốc mạnh, lại được trang bị vũ khí tối tân có cả thủy lục không quân.
Nhưng nhân dân đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đoàn kết một lòng đứng
dậy kháng chiến. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Liên khu IV,
Đảng bộ tỉnh, huyện ủy, chi bộ xã Hòa Trạch, nhân dân Cảnh Dương đã biết vận
dụng một cách sáng tạo trước mọi tình huống của chiến tranh, đồng thời tổ chức,
1
động viên toàn dân tham gia kháng chiến, tạo nên sức mạnh to lớn để chiến thắng
kẻ thù.
Là một bộ phận gắn bó máu thịt với cuộc kháng chiến của nhân dân cả
nước, nhân dân Cảnh Dương đã sáng tạo, đồng lòng đồng sức xây dựng nên “Hàng
rào chiến đấu” chống thực dân Pháp xâm lược. Trở thành một trong những làng
chiến đấu anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, là làng kháng chiến kiễu
mẫu không chỉ được nhân dân trong huyện, trong tỉnh, mà còn được nhân dân cả
nước học tập noi theo.
Hội nghị Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu IV ngày 26 – 2 - 1949 đã
tuyên dương làng Cảnh Dương (xã Hòa Trạch, huyện Quảng Trạch) là làng chiến
đấu kiểu mẫu. Cùng với những thắng lợi đó Cảnh Dương đã vinh dự được Chủ
tịch Hồ Chí Minh và nhà nước tặng danh hiệu “Làng chiến đấu anh dũng”.
Như vậy, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Cảnh Dương đã anh dũng
chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược. Không chỉ tham gia chiến đấu chống
thực dân Pháp, nhân dân Cảnh Dương còn tham gia sản xuất, phục vụ cuộc sống,
đảm bảo lương thực, thực phẩm và chi viện cho cuộc kháng chiến. Bên cạnh đó
các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao,... cũng được nhân dân phát huy một
cách cao nhất để phục vụ cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng.
Tên tuổi làng kháng chiến Cảnh Dương đã trở thành một biểu tượng mẫu
mực của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Vì những lý do trên mà tôi đã chọn vấn đề: “Làng chiến đấu Cảnh Dương
xã Cảnh Dương, Sở văn hóa thông tin Quảng Bình, cuốn sách chỉ nói một cách
“chí lược”, khái quát về xã Cảnh Dương trong tất cả các mặt.
Cuốn“Cảnh Dương làng biển anh hùng” của tác giả Nguyễn Ngọc Phúc, Nhà
xuất bản Lao Động Hà Nội 2011, viết về Cảnh Dương ở các mặt khoa bảng, làng
chài lưới, văn hóa,... nhưng không làm rõ làng Cảnh Dương chống thực dân Pháp.
Ở các công trình nghiên cứu trên, các tác giả, nhóm tác giả đề cập về làng
chiến đấu Cảnh Dương ở nhiều phương diện và góc nhìn khác nhau. Nhưng vấn
đề Cảnh Dương trong kháng chiến chống Pháp vẫn còn sơ lược, chưa hình thành
một hệ thống mang tính định hướng. Tuy nhiên, đó lại là những cứ liệu quan
trọng giúp tôi thực hiện đề tài của mình.
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng
Khóa luận tập trung đi sâu nghiên cứu về một đối tượng cụ thể, đó là: “Làng
chiến đấu Cảnh Dương trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 –
1954)”.
Ngoài ra, để làm rõ hơn thì khóa luận này còn tìm hiểu sơ lược về điều kiện
tự nhiên, nhân dân Cảnh Dương với truyền thống yêu nước cách mạng, công
3
cuộc bảo vệ và củng cố chính quyền cánh mạng, sự chuẩn bị về mọi mặt của
Cảnh Dương trước khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược.
3.2. Phạm vi
- Về không gian: Với phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp, đề tài chỉ tập
trung nghiên cứu về làng Cảnh Dương.
- Về thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến
Cảnh Dương trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954.
3.3. Nhiệm vụ
Đề tài tập trung làm rõ những vấn đề sau:
dân Pháp đối với nhân dân Cảnh Dương nói riêng và dân tộc ta nói chung.
Rút ra được nguyên nhân thắng lợi, khẳng được sự lãnh đạo sáng suốt của
Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của tỉnh ủy Quảng Bình, huyện ủy Quảng
Trạch và chi bộ xã Hòa Trạch trong việc tổ chức, chỉ đạo quần chúng nhân dân
tham gia kháng chiến đánh bật được tất cả kẻ thù xâm lược.
Sưu tầm, bổ sung tài liệu địa phương, góp phần nghiên cứu về cuộc kháng
chiến chống Pháp (1945 – 1954), từ đó phục vụ giảng dạy lịch sử dân tộc và lịch sử
địa phương.
Giáo dục truyền thống, bồi dưỡng tình cảm cách mạng, lòng yêu quê hương
đất nước của nhân dân Cảnh Dương.
6. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung khóa
luận được chia làm 2 chương với bố cục như sau:
- Chương 1: Cảnh Dương và truyền thống yêu nước cách mạng của nhân dân.
- Chương 2: Làng chiến đấu Cảnh Dương trong thời kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược 1945 – 1954.
5
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CẢNH DƯƠNG VÀ TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC
CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN
1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Trên con đường từ Bắc vào Nam, qua đèo Ngang chưa đầy 10 km về phía
Đông Nam, từ trung tâm thị xã Ba Đồn (Quảng Trạch) ra phía Bắc theo đường
quốc lộ 1A chừng 17 km, khi đứng trên cầu Roòn nhìn về hướng biển, ta sẽ thấy
một một vùng quê trù phú xinh đẹp, tấp nập thuyền bè vào ra, một làng biển thơ
mộng, giàu truyền thống khoa bảng. Đó là xã Cảnh Dương anh hùng, được mệnh
Cập, có người tìm về một làng phố cổ. Ta chỉ biết đường sá ngang dọc hình bàn
cờ, nhà ngói san sát nhau, mỗi nhà đều có bốn bức tường san hô bao quanh tạo
thành tầng tầng lớp lớp bức tường đá…” [11; 9]. Hay như Nguyễn Ngọc Phúc đã
miêu tả rằng: “Ngày trước địa hình Cảnh Dương như một chiếc quạt, từ đầu về
làng là cánh quạt, từ đầu làng xòe ra thành chiếc quạt nan là ba con đường… về
cơ bản đường xá của Cảnh Dương được xây dựng theo hình bàn cờ…” [7; 104].
Như vậy, trước đây chính nhờ kết cấu tổng thể “Pháo đài làm bằng san hô”
kết hợp với các loại cây rừng mọc xen với dứa dại quanh làng làm thành hàng rào
chiến dấu mà trong kháng chiến chống Pháp và cả chống Mỹ dân làng Cảnh
Dương đã phát huy được sức mạnh làng xã của mình.
Ngày nay, tổng thể kiến trúc làng xã Cảnh Dương cũng chằng chịt, nhà sát
nhà, đường xá quanh co, vào làng rất khó xác định được lối đi. Đúng là như một
thành phố cổ. “Trong chín năm kháng chiến Cảnh Dương, tất cả những con
đường dẫn đến các ngã trong xã đều có cừ bằng đá san hô. Cừ là hai lớp tường
xây bằng đá san hô hơi lệch nhau. Khi chiến sự xẩy ra, du kích bố trí lực lượng
chốt ở các cừ đầu đường sẵn sàng súng đạn chờ giặc tới để chiến đấu. Các làng
nông nghiệp giao thông hào là những hào đào sâu vào lòng đất còn ở Cảnh
Dương, giao thông hào hình thành bằng việc đục tường các nhà trong từng chòm
làm thành một hệ thống giao thông chằng chịt mà địch không thể nào hiểu nổi.
Từ các giao thông hào, sau những bức tường là các chiến sĩ du kích người dùng
súng người dùng giáo mác tự tạo sẵn sàng tiêu diệt giặc” [7; 105].
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Cảnh Dương nằm trên cửa biển phía hữu ngạn sông Roòn, con sông bốn
mùa xanh biếc. Như bao làng quê khác của tổ quốc Việt Nam, Cảnh Dương có bề
dày lịch sử từ ngày tạo lập quê hương cùng với nền văn hóa phong phú và truyền
7
thống cách mạng kiên trung, truyền thống đó được bồi đắp theo chiều dài của
thời gian, đứng vững trên nền đất hiền hòa, tươi đẹp và con người anh dũng, bất
Nối liền giữa các mũi là những bãi cát phẳng lì, trắng phau, tạo thành những
bãi tắm lý tưởng. Vùng biển Cảnh Dương có địa hình đa dạng, có mũi biển là
phần cuối của dãy Hoành Sơn, từ Bắc xuống Nam có mũi Đao, mũi Độc, mũi
Ông, mũi Rồng.
Biển Cảnh Dương được chia làm hai vùng rõ rệt là vùng biển san hô và
vùng biển bãi ngang. Vùng biển san hô là vùng biển tiếp giáp chân dãy Hoành
Sơn đổ ngầm ra biển và vùng biển bãi ngang từ cửa lạch Roòn kéo đến cửa
Gianh. Ranh giới vùng biển san hô là từ cửa lạch Roòn lên phía Bắc, còn vùng
biển bãi ngang là một vòng cung, cửa mở hướng Đông Nam là cái rọ của mùa cá
nổi, vùng bãi ngang đáy nông, cát lẫn bùn sền sệt với nhiều phù du. Hai vùng
biển này là nơi giao lưu, cư trú và sinh sản của nhiều sản vật quý hiếm của biển
cả với nhiều tôm, cá, mực, san hô,… một vùng đất trù phú đã trở thành nơi sinh
cơ lập nghiệp, nuôi sống con người từ khi tạo dựng cuộc sống đến nay.
Tài nguyên ở Cảnh Dương ít đa dạng nhưng nếu biết tận dụng khai thác thì
sẽ là nguồn lực lớn của quê hương. Thảm thực vật hạn chế, chỉ là những dãy phi
lao, dứa, các loài cây nước mặn (cây mắm, cây bần, cây đước...). Bù lại, Cảnh
Dương có nguồn đặc sản biển phong phú: tôm hùm, bào ngư, mực, hải sản, rau
câu, các loài cá,... Đây là nguồn lợi đánh bắt xuất khẩu rất dồi dào. Hằng năm,
với trữ lượng đánh bắt lớn, ngư dân Cảnh Dương đã đem về cho quê hương sự
giàu có, và góp phần nâng cao đời sống của nhân dân.
Khoáng sản Cảnh Dương có trữ lượng đáng kể, phục vụ công cuộc phát triển
kinh tế, quốc phòng như: cát thủy tinh, đá san hô... Cùng với thế mạnh “biển
bạc”. Cảnh Dương có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp: hòn La, hòn Lố, bãi
biển... Ngày nay, với những chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội hợp lý, nhân
dân Cảnh Dương đang từng bước phát huy những thế mạnh của mình, tận dụng
nguồn lợi, đón lấy thời cơ, nhanh nhạy trước cái mới, xây dựng và phát triển
Cảnh Dương trên mọi mặt, phát huy truyền thống làng văn vật, làng anh hùng
trong lịch sử.
1.1.3. Giao thông
Hoành Sơn mà người ta thường gọi là Sông Loan – Núi Phượng, có nghĩa là đôi
chim đẹp biểu tượng của tình yêu, người đời hài hước đã ví sông Roòn chính là
người bạn tình của núi Hoành Sơn. Lòng tự hào về mảnh đất Sông Loan núi
Phượng của người Cảnh Dương thể hiện qua câu thơ:
Sông Loan núi Phượng hữu tình
Bảng vàng, án ngọc, phân minh châu về.
10
(Trích trong bài phú của vua triều Nguyễn trên văn bia cụ Đỗ Phú Túc)
Là con sông duy nhất bắt nguồn từ dãy núi Hoành Sơn có chiều dài 30 km, lưu
vực sông khoảng 261 cây số vuông với 2 chi lưu là: Sông Hung Bàn và sông Thai.
Sông Hung Bàn (nay thuộc xã Quảng Hợp), là con sông cái chảy từ vùng
đồi núi Quảng Hợp về vùng Roòn qua các xã Quảng Kim, Quảng Châu, Quảng
Tùng, Quảng Phú rồi ra cửa Cảnh Dương.
Sông Thai ngắn hơn, chảy từ Kim Long xã Quảng Kim về Phú Lộc xã
Quảng Phú hợp với sông Cả rồi chảy ra cửa biển. Cửa sông Roòn hẹp, nông, có
nhiều đặc sản quý như tôm, cua, hàu, vẹm, cá hanh, cá buôi, cá đối, đặc biệt là sò
huyết…
Thứ ba là con đường biển: Nếu từ mũi Cửa Tùng (Quảng Trị) đến đảo Hải
Nam (Trung Quốc) dài 280 km được xác định là cửa Vịnh Bắc Bộ, thì biển Cảnh
Dương nằm trong cửa ngõ Vịnh Bắc Bộ nên cửa biển Cảnh Dương rất thuận lợi
cho tàu bè lưu thông, giao lưu, buôn bán ra Bắc cũng như là vào Nam. Từ Cảnh
Dương vào Đà Nẵng tàu khách sẽ vượt qua 174 hải lý, và từ Cảnh Dương ra Hải
Phòng tàu khách sẽ vượt qua cung đường 297 hải lý.
1.1.4. Về khí hậu
Là một vùng đất nằm ở phía Bắc Quảng Trạch (Quảng Bình) lại giáp với
biển Đông, Cảnh Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền
Trung. Mỗi năm Cảnh Dương có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa
khô bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 8, chịu sự khắc nghiệt của gió Phơn Tây Nam
1.2. Cảnh Dương với truyền thống yêu nước
1.2.1. Sơ lược về nguồn gốc hình thành làng Cảnh Dương
Lịch sử khai canh lập ấp của Cảnh Dương bắt đầu từ Cồn Dưa, Lòi Mắm.
Theo cuốn “Bốn xã khai khẩn truyện ký” (soạn vào năm thứ 22, triều Cảnh Hưng
(1762), sao lục dưới triều Tự Đức, năm thứ 18 Ất Sửu (1865) nguyên văn chữ
Hán hiện còn lưu giữ tại nhà truyền thống của làng), làng Cảnh Dương được
thành lập vào năm Quý Mùi (1643).
Trong bài tựa cuốn: “Nguyễn Thị tiểu tông gia phả” do tú tài Nguyễn Gia
Miễn viết năm Tự Đức thứ 24, Tân Mùi (1871), cách đây 143 năm cũng đã ghi
về nguồn gốc của Cảnh Dươg như sau: “Nguyên trước, tổ tiên ta ở trang Cảnh
Dương huyện Châu Phúc, phủ Đức Quang, tỉnh Nghệ An. Ngày 18 tháng 11 năm
Quý Mùi (1643) triều Lê Chân Tông, hiệu Phúc Thái, tổ tiên ta cùng khai khẩn
ấy, rồi liệt vị tiên hiền cũng vào xứ Cồn Dưa (tức là thôn Bắc Hà) xã Thuần
Thuần, châu Bố Chính”. Khi vào khai hoang, lập ấp họ kết nghĩa anh em, cùng
12
nhau tạo lưới vó làm nghề đánh cá, lập nên nhà cửa, đào giếng phía Đông gọi là
giếng Đông và cùng nhau cư trú.
Qua đó, có thể thấy thời gian thành lập làng tương đối thống nhất, đó là năm
1643. Và từ Đông Chí năm Quý Mùi (1643) đến mùa hè năm Quý Tỵ (1653) có
đến 20 vị tiền khai khẩn và đồng khẩn quê ở Cảnh Dương trang, thuộc phủ Đức
Quang, huyện Chân Phúc, tỉnh Nghệ An vào lập nghiệp ở xứ Cồn Dưa, cửa biển
làng Thuần Thuần, thôn Bắc Hà, châu Bố Chính (tức tả ngạn cửa sông Roòn –
Quảng Bình ngày nay). Trong tác phẩm “Cảnh Dương chí lược” có ghi chép 20
vị tiền khai khẩn và đồng khẩn là: Nguyễn Văn An, Nguyễn Văn Yến, Nguyễn
Văn Lẫm, Phạm ăn Hữu, Phạm Văn Sảo, Đỗ Phú Thanh, (vào đời Lê Chân Tông
Phúc Thái nguyên niên (1643). Phạm Văn Ánh, Phạm Văn Hảo, Võ Văn Lan,
Phạm Khắc Hoàng, (ngày 20 tháng 09 mùa thi năm Đinh Hợi (1647) niên hiệu
Phúc Thái thứ 5 (triều vua Lê Chân Tông)). Đỗ Phú Thanh, Đỗ Văn La, Trương
thức đặt tên làng là làng Cảnh Dương.
- “Từ năm Quý Mùi – Quý Tỵ (1643 – 1653) hoàn thành việc di dân.
- Năm Ất Mùi (1655) đưa làng qua sông.
- Năm Mậu tuất (1658) đặt tên làng.
- Năm Bính Ngọ (1666) làm đình chùa.
- Bính Tý (1756) mở trường học” [12; 30].
“Sau khi chính thức định cư tại Lòi Mắm, tháng 4 năm Mậu Tuất, tức năm
Thịnh Đức thứ sáu (1658), các vị tiền bối bao gồm Nguyễn Văn An, Đỗ Phú
Thanh, Phạm Khắc Hoành, Trương Văn Pháo, Ngô Cảnh Xuân đồng nhất đặt tên
làng là Cảnh Dương. Như vậy, xã Cảnh Dương được công nhận đơn vị hành
chính từ thời Lê Thần Tông (triều Đại Lê – Trịnh) năm Mậu Tuất (1658). Tên
làng Cảnh Dương vẫn được giữ từ ngày thành lập đến nay” [13; 21]. Như thế, từ
năm 1658, ranh giới địa lý và truyền thống lịch sử xã Cảnh Dương ban đầu được
xác định một cách cụ thể cho đến bây giờ.
1.2.2. Cảnh Dương với truyền thống yêu nước và truyền thống cách mạng
Suốt chiều dài lịch sử, nhân dân Cảnh Dương đã trải qua các bước thăng
trầm để xây dựng và bảo vệ quê hương. Sự phát triển của Cảnh Dương hôm nay
gắn liền với lịch sử đấu tranh anh dũng, quật cường của con người nơi đây.
Trước hết, đó là lòng yêu quê hương, yêu nước của dân làng Cảnh Dương,
và được thể hiện đầu tiên qua việc xây dựng làng xã. Truyền thống yêu nước của
nhân dân Cảnh Dương thể hiện trong ý chí quật cường trước thiên tai, địch họa,
14
tinh thần cần cù, chịu thương chịu khó đã khai phá, cải tạo vùng đầm lầy thành
làng quê ven biển trù phú.
Từ khi được thành lập vào năm 1643 đến nay, nhân dân Cảnh Dương đã ra
sức xây dựng quê hương mình, chăm lo phát triển quê hương giàu mạnh. Và đến
bây giờ Cảnh Dương đã trở thành một trong những xã giàu có ở vùng Roòn. Do
Chính) đời nào cũng có người khoa giáp”.
Làng hiếu học Cảnh Dương được tôn vinh là một trong tám bát danh hương
của Quảng Bình.
“Sơn, Hà, Cảnh, Thổ
Văn, Võ, Cổ, Kim”.
Cảnh Dương là một trong rất ít nơi có Văn Miếu, có bia Khoa Bảng, có Hội
Văn như một Tao Đàn ở chốn làng quê. Nhờ khuyến học, khuyến tài mà trong
các kỳ thi dưới triều Nguyễn từ Minh Mạng về sau làng Cảnh Dương có đến hơn
100 người đậu từ tú tài đến tiến sĩ. Theo bia khoa bảng của làng “Cảnh Dương xã
từ vũ bi ký” dựng năm Bính Thân 1836 thì trong 66 năm (1834 – 1900) đã có 47
vị, trong đó có hai tiến sĩ, 7 cử nhân và 38 tú tài. Nhiều vị được nhà nước phong
kiến bổ nhiệm làm các chức quan lại. Nổi bật trong số đó có Phạm Chân sinh
năm Giáp Tý (1804), đậu Tiến sĩ năm (1838). Phạm Chân được cử giữ chức Án
Sát tỉnh Thanh Hóa, Án sát tỉnh Lạng Sơn, có công dẹp bọn giặc phỉ phương
Bắc. Khi giặc Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, Phạm Chân đã chiến đấu ngoan cường
bảo vệ thành Biên Hòa - Gia Định. Khi thất thủ, không cam chịu rơi vào tay giặc,
ông tuẫn tiết giữ tấm lòng trung, được triều đình nhà Nguyễn đưa vào thờ ở
Trung Nghĩa đường. Sau Phạm Chân có Nguyễn Phùng Dực đỗ tiến sĩ khoa Kỷ
Dậu (1849), nổi tiếng là người tài hoa, cụ Dực chuyên tâm cho ngành giáo dục,
mở trường lớp mong đào tạo được nhiều người đức tài cho quê hương, xứ sở.
Chính vì quan tâm đến giáo dục, đến sự phát triển của quê hương mà Cảnh
Dương đã thành lập trường sơ học vào năm 1918 do cụ Đỗ Phú Túc nguyên là
tổng đốc Bắc Giang về hưu vận động xây dựng và thành lập. Trường mang tên
“Trường tiểu học Pháp - Việt Ròn”. Đây là một trong những trường học đầu tiên
ở Quảng Bình và là trung tâm giáo dục của cả vùng Bắc Quảng Trạch. Năm
1954, miền Bắc được giải phóng, trường Trung học dân lập thành lập ở Quảng
Châu trước đó (năm 1950) rời về Cảnh Dương (tức là trường cấp II Cảnh Dương
ngày nay) là một trong năm trường đầu tiên ở Quảng Bình được thành lập sau khi
hòa bình lập lại.
khi người anh hùng áo vải Tây Sơn ra Bắc, người Cảnh Dương đã góp nhiều
công sức cho cuộc hành quân tiến về Thăng Long tiêu diệt tập đoàn phong kiến
họ Trịnh, thống nhất giang sơn. “Trong cuộc hành quân tiến về Thăng Long của
người anh hùng Nguyễn Huệ tiêu diệt tập đoàn phong kiến họ Trịnh, thống nhất
17
đất nước, đã có mặt 5 chiếc ghe Tràng Đà và 50 người con của Cảnh Dương”
[11; 33]. Thêm vào đó, nhân dân Cảnh Dương đã gửi tấm lòng mình với người
anh hùng áo vải Nguyễn Huệ trong việc đúc chiếc chuông đồng "Hồng chung
cảnh viện" vào năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801), tức là năm cuối cùng của Triều
Tây Sơn. Bài ký khắc trên chuông do giám sinh Nguyễn Đức Quýnh soạn, cuối
bài ký có lời cầu nguyện.
“Ngôi vua vững bền
Đạo vua xưng thịnh
Nhật nhật tăng huy
Pháp luân thường chuyển
Thiên hạ thái bình
Nạn tai tiêu diệt…"
Đây chính là một bằng chứng về ảnh hưởng của phong trào Tây Sơn đối với
nhân dân Cảnh Dương, đồng thời, đây cũng là vật chứng của nhân dân Cảnh
Dương trên bước đời hưng thịnh và hưởng ứng phong trào Tây Sơn, chứng tỏ sức
mạnh kinh tế - xã hội của làng Cảnh Dương lúc bấy giờ.
Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của nhân dân Cảnh Dương không ngừng
được phát huy theo năm tháng. Năm 1802, sau khi lật đổ nhà Tây Sơn, Gia Long
lên ngôi vua, đóng đô ở Phú Xuân (Huế), thừa hưởng sự nghiệp thống nhất đất
nước của nhà Tây Sơn. Cảnh Dương nằm trên trục đường thiên lý Bắc - Nam
thống nhất, càng có điều kiện mở rộng giao lưu và phát triển. Nghề hàng hải
buôn bán bằng thuyền buồm giờ đây có cơ hội mở mang về hướng Nam, tạo ra
một thị trường buôn bán rộng lớn. Nghề làm nước mắm, nghề buôn bán đem lại