Sự lãnh đạo của đảng cộng sản việt nam trong việc xây dựng hậu phương thời kì kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược (1945 1954) - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
***************

NGUYỄN THỊ LÝ

SỰ ĐẢNG LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM TRONG VIỆC XÂY DỰNG HẬU
PHƢƠNG THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN CHỐNG
THỰC DÂN PHÁP XÂM LƢỢC (1945-1954)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
GV. LÊ TRUNG NGHĨA

HÀ NỘI - 2012

1


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới Thầy Lê Trung Nghĩa- người
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kinh nghiệm cho em trong suốt
quá trình nghiên cứu đề tài khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục chính
trị, các thầy cô trong bộ môn Lịch sử Đảng trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
2, đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận của mình.
Do lần đầu tiên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên đề tài
khóa luận của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong


Cơ sở thực tiễn ............................................................................. 12

Chƣơng 2. Đảng lãnh đạo xây dựng hậu phƣơng trong khánh chiến
chống thực dân pháp xâm lƣợc (1945-1954)............................................... 16
2.1.

Đảng lãnh đạo xây dựng hậu phương (1945-1954) .................... 16

2.1.1. Chủ trương của đảng về xây dựng hậu phương .......................... 16
2.1.2. Quá trình đảnh lãnh đạo xây dựng hậu phương .......................... 17
2.1.3. Kết quả ........................................................................................ 23
2.2.

Đảng lãnh đạo xây dựng hậu phương (1946-1954) ................... 25

2.2.1. Hoàn cảnh lịch sử ....................................................................... 25
2.2.2. Chủ trương của đảng về xây dựng hậu phương ......................... 26
2.2.3. Quá trình đảng lãnh đạo xây dựng hậu phương .......................... 28
2.2.4. Kết quả ....................................................................................... 44
2.3.

Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm ..................................... 48

2.3.1. Ý nghĩa lịch sử ............................................................................ 48
2.3.2. Bài học kinh nghiệm .................................................................. 50
KẾT LUẬN ............................................................................................ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 60

4



điều kiện địch mạnh, nhưng cũng không thể đánh chiếm lại nước ta ngay
trong một thời gian ngắn như Đảng ta đã nhận định : Đó là một cuộc kháng
chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài. Đặc biệt nước ta đất không rộng, người
không đông lại bị kiệt quệ do sức bóc lột của đế quốc, phong kiến. Vì vậy nó
mang tính chất là một cuộc kháng chiến lâu dài, nên xây dựng hậu phương và
huy động lực lượng ở các vùng tự do cho cuộc kháng chiến là một yêu cầu
cấp bách.
Nắm vững quy luật đó, Đảng cộng sản Việt Nam đã tranh thủ thời gian,
điều kiện vật chất để chuẩn bị hậu phương cho cuộc chiến tranh giải phóng
dân tộc và bảo vệ tổ quốc. Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa đánh giặc,
vừa xây dựng chế độ mới, xây dựng căn cứ địa hậu phương là một chủ trương
chiến lược đúng đắn, sáng tạo của Đảng, phản ánh một trong những đặc trưng
của cách mạng Việt Nam, việc xây dựng củng cố hậu phương trong mọi tình
huống của cuộc chiến làm cho hậu phương có sức sống và phát triển trong
hoàn cảnh gay go, khó khăn nhất.
Dân tộc ta thắng những kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần bởi vì chúng ta
có nhân dân anh hùng, có sự lao động sáng tạo, tài năng và trí tuệ của Đảng,
có hậu phương lớn tập trung sức người sức của, động viên tinh thần tiền tuyến
lớn đánh thắng kẻ thù. Do vậy việc nghiên cứu chủ trương xây dựng hậu
phương của Đảng trong thời kì kháng chiến chống Pháp là để qua đó rút ra
những bài học kinh nghiệm, phục vụ cho công cuộc đổi mới toàn diện của đất
nước hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong bối cảnh quốc tế và trong
nước có những thuận lợi cũng như khó khăn mới sẽ góp phần đắc lực vào
nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là một việc
làm có ý nghĩa lí luận và thực tiễn.
Chính vì vậy tôi quyết định chọn đề tài: “Sự lãnh đạo của Đảng cộng
sản Việt Nam trong việc xây dựng hậu phương thời kì kháng chiến chống thực



7


3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích làm rõ điều kiện hoàn cảnh của nước ta trong thời kì kháng
chiến chống thực dân Pháp để từ đó thấy được sự đúng đắn của Đảng về chủ
trương xây dựng hậu phương trong chiến tranh.
Phân tích sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng hậu phương về tất cả
các mặt, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học kĩ thuật…
Đánh giá những ưu điểm và hạn chế của Đảng ta trong việc xây dựng
vùng hậu phương thời kì cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược,
đồng thời bước đầu rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng hậu
phương, phục vụ cho công cuộc kháng chiến của nhân dân ta trong kháng
chiến chống Pháp.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nêu lên đường lối, chủ trương của Đảng ta trong việc xây dựng hậu
phương trong kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược.
Nêu lên quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng hậu phương về các mặt,
kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật…
Làm rõ những thắng lợi mà Đảng ta đã giành được trong việc xây dựng
hậu phương, và vai trò to lớn của hậu phương trong kháng chiến chống thực
dân Pháp
Rút ra những bài học kinh nghiệm về vấn đề xây dựng hậu phương.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về đường lối chủ trương và quá trình lãnh đạo của Đảng về
việc xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống thực dân Pháp thời kỳ
(1945-1954)


của chiến tranh cả về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, khoa học kĩ thuật; là
nơi chi viện chủ yếu sức người, sức của cho tiền tuyến, là chỗ dựa tinh thần
của tiền tuyến. Hiểu được vai trò quan trong đó đã có rất nhiều quan điểm về
hậu phương được đưa ra.
Ăng- ghen từng nói về vai trò của hậu phương: “Toàn bộ việc tổ chức
và phương thức chiến đấu của quân đội, do đó, thắng lợi hay thất bại đều tỏ ra
là phụ thuộc vào những điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế, vào chất
liệu của con người và của vũ khí, nghĩa là vào chất lượng và số lượng của cư
dân và của cả kĩ thuật” [14, tr84]
Theo quan điểm của Lê nin: “Hậu phương là nơi đối xứng với tiền
tuyến có sự phân biệt rạch ròi bằng yếu tố không gian, là lãnh thổ ngoài vùng
chiến sự, phía sau chiến tuyến có dân cư và tiềm lực mọi mặt nhất là về nhân
lực và vật lực. Là nơi xây dựng và huy động sức người, sức của, đáp ứng nhu
cầu của lực lượng vũ trang ngoài tiền tuyến” [19, tr231].
Lê nin cho rằng: “Trong chiến tranh, ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn,
ai có nhiều nguồn lực, ai kiên trì đi sâu vào quần chúng nhân dân hơn, thì
người đó thu được thắng lợi” [9, tr84]
Và: “Muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự, phải có một hậu
phương, có tổ chức vững chắc, một đội quân giỏi nhất, những người trung
10


thành nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều lập tức bị kẻ thù tiêu diệt, nếu
họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực, huấn luyện đầy đủ” [9, tr497]
Stalin khi bàn đến sự thử thách khắc nghiệt của chiến tranh cũng đã
nói: “Lịch sử chiến tranh dạy rằng, chỉ có những nước nào mạnh hơn đối
phương của mình về mặt phát triển và tổ chức kinh tế, về kinh nghiệm, tài
nghệ và tinh thần chiến đấu của quân đội, về tinh thần kiên cường và đoàn kết
của nhân dân trong suốt cả quá trình chiến tranh thì mới chịu đựng được sự
thử thách đó” [20, tr113].

sức người, sức của cho chiến tranh, không phân biệt rạch ròi với tiền tuyến về
mặt không gian.
Như vậy có thể hiểu khái niệm chung về hậu phương: “Hậu phương là
vùng lãnh thổ ở ngoài vùng chiến sự, phía sau tiền tuyến, có dân cư và tiềm
lực mọi mặt, nhất là về nhân lực, vật lực, nơi xây dựng và huy động sức
người, sức của đáp ứng nhu cầu lực lượng vũ trang ở tiền tuyến. Có hậu
phương chiến lược, hậu phương chiến dịch, hậu phương chiến thuật. Có hậu
phương lớn, hậu phương tại chỗ, hậu phương quốc gia và hậu phương liên
minh quốc gia”. [13, tr183]
Trong chiến tranh cách mạng ở Việt Nam có những cấp độ và hình thức
khác nhau. Vì thế, có hậu phương chiến lược, hậu phương tại chỗ, có căn cứ
du kích, lại có khái niệm hậu phương lòng dân. Các vùng tự do, các vùng giải
phóng đều có địa thế, dân cư, quy mô khác nhau đều là hậu phương. Ở một
phương diện nào đó, trong chừng mực nhất định, các nước có ủng hộ vật chất,
tinh thần, trang bị kĩ thuật…cho nhân dân ta cũng là hậu phương quốc tế của ta.
Hậu phương của chiến tranh Việt Nam là khu vực, vùng, miền, lãnh
thổ, quốc gia, nơi cung cấp sức người, sức của, đặt cơ sở đứng chân, nguồn
động viên chính trị, tinh thần đối với tiền tuyến.

12


*Vai trò của hậu phương trong chiến tranh Cách mạng
Chiến tranh phải dựa vào hậu phương hùng mạnh, quân đội nào tách
khỏi hậu phương thì không thể giành thắng lợi trong chiến tranh, không thể
tồn tại được. Trong lịch sử quân sự, những nhà quân sự lỗi lạc và những
người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản như Mác, Ăng ghen, Lê nin, đều nhấn
mạnh đến vai trò của hậu phương vững chắc có tổ chức. Như vậy có thể thấy
hậu phương có vai trò hết sức quan trọng:
Thứ nhất, chiến tranh càng hiện đại bao nhiêu thì yêu cầu về hậu phương

chiến tranh đi đến thắng lợi.
Thứ hai, hậu phương là nguồn lực của tiền tuyến. Đây cũng là một yếu
tố quan trọng. Ngoài vật chất thì hậu phương còn là nơi cung cấp nguồn nhân
lực đảm bảo yếu tố “cân sức”, “cân tài”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Trong cuộc kháng chiến
kiến quốc, lực lượng chính là ở dân”. Vì vậy nói đến hậu phương là nói đến
nhân dân, nhân dân vừa là chủ thể trong việc xây dựng hậu phương, vừa là
đối tượng phục vụ của hậu phương để kháng chiến đến thắng lợi.
Thứ ba, hậu phương chính là nguồn sức mạnh tinh thần của tiền tuyến.
Điều này cũng được Mác, Ăng ghen, Lê nin và Stalin đánh giá rất cao: Để có
thể giành thắng lợi thì tinh thần của quân sĩ, nhân dân, cũng là một trong
những nhân tố quyết định của cuộc chiến tranh “không có tinh thần dũng cảm
tất nhiên không giành được thắng lợi”.
Nhưng chỉ dựa vào tinh thần dũng cảm thì vẫn chưa thể thắng được quân
đội của kẻ thù vừa rất đông, được vũ trang mạnh mẽ, lại có sĩ quan được huấn
luyện kĩ càng. Để có thể chống lại sự tiến công của một kẻ địch như vậy, sau
đó lại phản công và hoàn toàn đánh bại chúng thì ngoài việc dựa vào tinh thần
dũng cảm vô song của quân đội ra, còn phải cần những vũ khí hiện đại nhất,
với số lượng thật đầy đủ, thêm vào đó còn phải cần tổ chức thật tốt việc cung
cấp với số lượng theo yêu cầu…

14


Như vậy để đảm bảo được cả tinh thần và vật chất không gì ngoài hậu
phương có thể. Hậu phương sẽ là nơi cung cấp cho tiền tuyến vũ khí, đạn
dược, quân đội và cả tinh thần cổ vũ, động viên nữa.
Thứ tư, hậu phương luôn hướng về tiền tuyến đảm bảo cho tiền tuyến
chiến thắng. Hậu phương dù không phải là mặt trận trực tiếp chiến đấu với kẻ
thù, nhưng lại đọ sức trực tiếp với hậu phương của địch. Hậu phương bên nào

1.2. Cơ sở thực tiễn
Sau ngày Cách mạng Tháng Tám (1945), nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa ra đời, công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta đứng
trước bối cảnh vừa có những thuận lợi cơ bản vừa gặp phải những khó khăn
to lớn hiểm nghèo.
* Mặt thuận lợi
Đất nước giành được độc lập, vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là
chính quyền đã được giải quyết. Nhân dân ta thoát khỏi gông cùm nô lệ sau
gần một trăm năm. Đảng Cộng sản Đông Dương từ một Đảng bất hợp pháp
trở thành chính đảng nắm quyền lãnh đạo cách mạng.
Nhân dân Việt Nam với truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm
đã theo Đảng làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại. Họ đã đổ bao
xương máu để giành được độc lập tự do. Họ thấy được những giá trị và được
hưởng những giá trị thực sự của tự do. Vì thế họ quyết tâm bảo vệ tự do của mình.
Trải qua mười lăm năm lãnh đạo và trưởng thành, Đảng Cộng sản Đông
Dương đã được tôi luyện qua các cao trào cách mạng và thử thách. Qua đó,
Đảng đã thực sự trưởng thành hơn. Sức mạnh lớn nhất mà Đảng có được từ
khi ra đời đến lúc này không gì khác ngoài lòng dân. Sau Cách mạng Tháng
tám, niềm tin của nhân dân vào Đảng và Chính phủ cách mạng lại càng được
củng cố. Thêm vào đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh với uy tín của mình đã tập hợp
được đông đảo mọi tầng lớp, giai cấp xung quanh Đảng và Chính phủ, tạo
thành một lực lượng cách mạng đông đảo, hùng hậu và có sức mạnh vô địch.

16


Uy tín của Người được khẳng định không chỉ trong Đảng, Chính phủ, nhân
dân Việt Nam mà trên thế giới, thậm chí là ngay tại Pháp, đông đảo quần
chúng, nhân dân yêu chuộng hòa bình cũng ủng hộ Hồ Chủ tịch.
Bên cạnh đó còn có thắng lợi cơ bản là trên thế giới, hệ thống Xã hội

Việt Minh khi đó thay cho Hiến pháp. Có thể nói, với những thách thức vô
cùng khó khăn thời kỳ này, một chính quyền nhiều kinh nghiệm và lâu năm
còn khó đối phó, trong khi Chính quyền cách mạng của nước ta lúc này còn
quá non trẻ thì khó khăn chắc chắn sẽ gấp nhiều lần.
Mặc dù ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc
lập tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước thế giới,
tuy nhiên sự thực là vào thời điểm này, chưa một nước nào công nhận Việt
Nam. Vì thế, quan hệ ngoại giao của Chính phủ ta khi đó chỉ là đối với các
thế lực đang ở trên đất nước ta.
Hiểm họa lớn nhất của Đảng, Chính phủ và dân tộc Việt Nam lúc này
chính là nguy cơ giặc ngoại xâm. Gần 20 vạn quân Tưởng với danh nghĩa giải
giáp quân đội Nhật, đã vào nước ta từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc. Theo sau quân
đội Tưởng này là hai lực lượng phản động người Việt thân Tàu là Việt Nam
Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội (Việt Quốc, Việt
Cách). Phía Nam gần 20 nghìn quân Anh-Ấn cũng với danh nghĩa như
Tưởng. Tuy vậy, Chính phủ Anh đã kí kết thêm một số hiệp định tạo điều
kiện cho Pháp quay trở lại xâm lược Đông Dương. 50 nghìn quân Pháp trên
các miền Đông Dương khi Nhật chiếm đóng cùng với 15 nghìn quân Pháp bị
Nhật giam giữ ở miền Nam Việt Nam đã được thả và vũ trang trở lại sau ngày
9/3/1945. Những đạo quân này của Pháp được gấp rút đưa vào miền Nam
nước ta. Ngày 23/9/1945 pháp đánh chiếm trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ
tại Sài Gòn mở đầu chiến tranh xâm lược Việt Nam lần hai. Ngoài ra còn 60
nghìn quân Nhật ở Việt Nam đang chờ giải giáp. Như vậy với sự có mặt của

18


hơn 30 vạn quân đội nước ngoài thuộc bốn thế lực thù địch với cách mạng
Việt Nam tạo nên sự chênh lệch lớn trong cán cân lực lượng hết sức bất lợi
cho ta. Trong khi lực lượng vũ trang cách mạng của ta tính từ lúc tổng khởi

2.1.1. Chủ trương của Đảng về xây dựng hậu phương
Về kinh tế tài chính
Tháng 9/1945 trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã trình bày chủ trương “phát động một phong trào tăng gia
sản xuất để chống nạn đói”. Người xác định: “hiện nay chúng ta có hai việc
quan trọng nhất cứu đói ở Bắc và kháng chiến ở Nam”, “thực túc” thì “binh
cường” cấy nhiều thì khỏi đói. Chúng ta quyết thực hiện “tấc đất tấc vàng” thì
chúng ta quyết thắng lợi trong hai việc đó. Người kêu gọi đồng bào cả nước
nhường cơm sẻ áo cho nhau. 10 ngày 1 lần tất cả đồng bào nhịn ăn một bữa,
gạo tiết kiệm được sẽ góp lại phát cho người nghèo.
Trước tình hình nguy ngập về tài chính, Chính phủ chủ trương cắt giảm
các khoản chi tiêu chưa thật cần thiết và kêu gọi sự đóng góp của toàn dân.
Đồng thời đề ra các chủ trương biện pháp lớn nhằm bồi dưỡng sức dân như
giảm tô 25%, bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, sửa lại nhiều thứ thuế cho
nhẹ và công bằng, ban hành sắc lệnh “đảm phụ quốc phòng” phát hành giấy
bạc Việt Nam… Các biện pháp đó góp phần quan trọng vào việc xây dựng
hậu phương.
Về văn hóa giáo dục
Đảng chủ trương vận động toàn dân xây dựng nền văn hóa mới, xóa bỏ
mọi tệ nạn văn hóa nô dịch của thực dân, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, phát triển
phong trào bình dân học vụ để chống nạn mù chữ, diệt “giặc dốt”.

20


Về chính trị
Đấu tranh xây dựng nền móng chế độ mới ổn định và cải thiện đời sống
nhân dân có ý nghĩa chính trị hết sức to lớn, vì vậy Đảng chủ trương phát huy
sức mạnh đoàn kết rộng rãi vì quyền lợi chung của tổ quốc, cô lập triệt để bọn
đế quốc xâm lược, ngăn chặn, hạn chế các hoạt động chia rẽ, phá hoại của bọn

Về văn hóa giáo dục
Ngay sau cách mạng Tháng Tám một trong những việc mà Chủ tịch Hồ
Chí Minh quan tâm đặc biệt là phát động một cao trào chống nạn mù chữ để
mở mang kiến thức cho nhân dân lao động, từng bước khắc phục hậu quả của
chính sách ngu dân suốt hơn 80 năm của thực dân Pháp.
Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nói: “ Nạn dốt là một phương pháp độc ác của bọn thực
dân dùng để cai trị chúng ta. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề
nghị mở một chiến dịch chống giặc dốt”. Tiếp đó ngày 8/9/1945 Chủ tịch Hồ
Chí Minh ban hành sắc lệnh 17/SL quyết định thành lập Nha Bình dân học
vụ, sắc lệnh 19/SL quy định các địa phương phải mở lớp bình dân học vụ
chậm nhất là trong thời gian 6 tháng và sắc lệnh 29/SL thi hành cưỡng bức
việc học chữ Quốc ngữ. Toàn dân đã sôi nổi hưởng ứng lời kêu gọi và các sắc
lệnh đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khắp nơi từ thành phố đến nông thôn,
trong các nhà máy đến đồng ruộng, nhiều lớp bình dân học vụ đã được mở,
lôi cuốn từ em nhỏ đến các cụ già. Khẩu hiệu “ Đi học là kháng chiến”, “Mỗi
lớp học là một tổ tuyên truyền kháng chiến” xuất hiện khắp các đường phố
xóm làng.
Cuộc vận động đời sống mới nhằm giáo dục tinh thần yêu nước, yêu lao
động, yêu chính quyền cách mạng, căm thù bọn cướp nước, căm ghét bóc lột
và xây dựng đạo đức “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư” được tuyên
truyền sâu rộng trong nhân dân.

22


Những thói hư tật xấu, những phong tục tập quán lạc hậu trong ma chay,
cưới xin, nạn cờ bạc dần được xóa bỏ.
Cuộc đấu tranh chống ảnh hưởng của văn hóa, văn nghệ nô dịch và
chống các khuynh hướng của quan điểm tư sản trong nghệ thuật cũng bắt đầu

và xã, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở các ủy ban phải luôn luôn nhận rõ và
làm đúng. Qua đó nhân dân nhận rõ nhà nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh
đạo là nhà nước của mình, sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ nhà nước.
Để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và đập tan những luận điêu
xuyên tạc của kẻ thù, mặc dầu chính quyền non trẻ đang đứng trước muôn vàn
khó khăn, nhưng với lòng tin vững chắc vào sự ủng hộ của toàn dân, Đảng và
Chính phủ vẫn quyết tổ chức Tổng tuyển cử tự do dân chủ trong cả nước vào
ngày 6/1/1946 để bầu Quốc hội, lập Chính phủ chính thức, xây dựng Hiến
pháp của nước Việt Nam độc lập.
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử lịch sử này là một đòn chí mạng đánh
vào âm mưu chia rẽ, lật đổ, xâm lược của bọn đế quốc và tay sai, nâng cao uy
tín của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc tế. Đây cũng là
dịp giáo dục lòng yêu nước, ý thức làm chủ và nghĩa vụ của một người công
dân một nước độc lập. Đây là cuộc tổng động viên chính trị rộng lớn và sâu
sắc trên phạm vi cả nước nhằm biểu dương sức mạnh và ý chí của khối đoàn
kết toàn dân, quyết hy sinh để giữ quyền độc lập tự do, sẵn sàng đánh bại kẻ
thù xâm lược. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử tạo cơ sở pháp lý cho cuộc
đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao với kẻ thù và tranh thủ sự đồng tình
ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới đối với sự nghiệp kháng chiến của
nhân dân ta.
Cùng với việc ra sức ổn định tình hình, xây dựng củng cố Chính quyền
cách mạng, đặt cơ sở đầu tiên của chế độ mới, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch
Hồ Chí Minh lãnh đạo cả nước đấu tranh chống lại hành động xâm lược của

24


thực dân Pháp ở Miền Nam và âm mưu lật đổ chính quyền của quân Tưởng
và tay sai của chúng ở miền Bắc. Thực hiện chủ trương tránh chiến đấu với
nhiều kẻ thù trong cùng một lúc, lợi dụng mâu thuẫn giữa các tập đoàn đế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status