m ti: ng li lónh o ca ng Cng sn Vit Nam trong vic xõy dng nn kinh t th
trng nh hng xó hi ch ngha
M U
1. Lý do chn ti
Trong quỏ trỡnh hc tp, nhim v lm bi tiu lun l rt cn thit i vi
mi sinh viờn, to cho sinh viờn cú c hi tỡm hiu thờm v mụn hc nhng vn
cũn cha nm c trong quỏ trỡnh hc tp, v õy cng chớnh l tin to
c s bc u cho sinh viờn lm quen vi cỏch hc tp t nghiờn cu, tỡm tũi
sau ny cú c s khi lm bi bỏo cỏo chuyờn , bỏo cỏo tt nghip hay nhng
ti nghiờn cu.
Nhn thc c iu ú, vi mụn hc ng li lónh o ca ng Cng
sn Vit Nam em chn ti ng li lónh o ca ng cng sn Vit
Nam trong vic xõy dng nn kinh t th trng nh hng xó hi ch
ngha tỡm hiu.
2. Mc ớch nghiờn cu
Trên thực tế vấn đề nhà nớc và thị trờng là mối quan tâm hàng đầu của nhiều
nhà kinh tế trong nhiều thập kỷ qua. Do đó mà ở nớc ta cũng nh các nớc khác
trên thế giới muốn tìm tòi mô hình quản lý kinh tế vĩ mô thích hợp và hiệu quả
hơn. Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ơng khoá VIII trình đại
hội IX của Đảng ta có đề cập : Nhà nớc quản lý kinh tế bằng pháp luật, chiến l-
ợc, qui hoạch, kế hoạch, chính sách nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu
cực của nền kinh tế thị trờng, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động
Chính vì vậy mà xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa là
một yếu tố tất yếu cơ bản của quá trình đổi mới quản lý kinh tế ở nớc ta, và nhờ
có đờng lối đúng đắn kinh tế nớc ta đã thoát khỏi những khủng hoảng đạt tốc độ
tăng trởng nhanh, đời sống nhân dân đợc cải thiên đáng kể, chính trị xã hội ổn
định, quốc phòng an ninh quốc gia đợc giữ vững. Nớc ta từ một nứoc có nên kinh
tế quan liêu, bao cấp đã từng bớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã
hội chủ nghĩa dựa trên quy luật giá trị và tín hiệu cung cầu của thị trờng.
Qua ú em xỏc nh mc ớch nghiờn cu gm nhng vn sau:
- Nghiờn cu c s lý lun v nn kinh t nh hng xó hi ch ngha
động lực cho nền kinh tế phát triển.
Tại Việt Nam kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chúng ta đã xác định
xây dựng nền kinh tế thị trờng nhng theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Tức là có
sự can thiệp của nhà nớc vào nền kinh tế nhng không phải can thiệp vào nền kinh
tế theo kiểu mệnh lệnh hành chính mà can thiệp thông qua các chính sách kinh tế
vĩ mô nhằm ổn định nền kinh tế và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham
gia vào sản xuất và kinh doanh. Sự can thiệp này đợc xem là cần thiết nhằm thiết
lập khuôn khổ pháp luật phù hợp, sữa chữa những khuyết tật của thị trờng, đảm
bảo sự công bằng xã hội và ổn định nền kinh tế vĩ mô ( Kinh tế học
Samuelson). Đây là lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp đã đợc Samuelson đa ra/ Theo
ông phát triển kinh tế phải dựa trên hai bàn taylà cơ chế thị trờng và nhà nớc:
điều hành một nền kinh tế không có cả chính phủ lẫn thị trờng thì cũng nh định
vỗ bằng một bàn tay. Tuy nhiên trong hoàn cảnh nớc ta thì sự can thiệp của nhà
nớc còn đóng vai trò giữ cho nền kinh tế đi theo đúng định hớng xã hội chủ
nghĩa.
2) Sự cần thiết tồn tại kinh tế thị trờng:
Việt Nam đang tồn tại đủ các điều kiện cần thiết là cơ sở tồn tại của nền kinh
tế hàng hoá. Phân công lao động đang phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
nhiều ngành nghề mới đã ra đời, đặc biệt là những ngành công nghiệp có hàm l-
ợng kỹ thuật kết tinh trong sản phẩm cao nh điện tử, tin học Bên cạnh đó các
làng nghề cổ truyền cũng đang phát triển mạnh mẽ. Các sản phẩm của ngành
đang từng bớc khẳng định thơng hiệu trên thị trờng trong nớc và quốc tế. Đây
chính là những thế mạnh củaViệt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế
giới.Sự phát triển này đã kéo theo sự phát triển nhanh chóng của lực lợng sản
xuất.
Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần VI. Việt Nam đã chính thức thừa nhận
sự tồn tại của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Nhờ đó các thành phần
kinh tế này đã có những điều kiện cần thiết để phát triển. Từ đó xuất hiện sự khác
m ti: ng li lónh o ca ng Cng sn Vit Nam trong vic xõy dng nn kinh t th
trng nh hng xó hi ch ngha
cải thiện, nâng cao tích luỹ xã hội, tạo tiền đề cho sự phát triển trong tơng lai.
3) Bản chất kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa:
Nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta có một số điểm nh
sau:
m ti: ng li lónh o ca ng Cng sn Vit Nam trong vic xõy dng nn kinh t th
trng nh hng xó hi ch ngha
Thứ nhất , quá trình chuyển nền kinh tế nớc ta sang nền kinh tế thị trờng đồng
thời cũng là quá trình thực hiện nền kinh tế mở, nhằm hoà nhập với thị trờng thế
giới.
Thứ hai, bản chất của quá trình chuyển nền kinh tế nớc ta sang nền kinh tế thị
trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa là quá trình chuyển nền kinh tế còn mang
nặng tính chất tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá tiến tới nền kinh tế thị tr-
ờng và qua trình chuyển cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng
có sự quản lý của nhà nớc.
Sự phát triển của chủ nghĩa t bản đã khẳng định nền kinh tế hàng hoá đã làm
cho thị trờng dân tộcgắn bó và hoà nhập với thị trờng thế giới, Chính giao lu hàng
hoá đã làm cho quan hệ quốc tế đợc mở rộng khỏi phạm vi quốc gia, thúc đẩy nền
kinh tế phát triển một cách nhanh chóng.
Trong quan hệ quốc tế chúng ta có nhiều đổi mới quan trọng. Chúng ta đã
chuyển quan hệ quốc tế từ đơn phơng sang đa phơng, quan hệ với tất cả các nớc
không phân biệt chế độ chính trị, theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi và không
can hệ vào chuyện nội bộ của nhau.
4) Đặc trng của kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta:
Mục đích của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa là phát triển
lực lợng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân lao động và tất cả các thành viên trong
xã hội. Phát triển lực lợng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản
xuất mới phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối.
Về sở hữu sẽ phát triển theo hớng còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác
nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò
phát triển của lực lợng sản xuất. Đây là mô hình kinh tế tổng quát của nớc ta
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
II/Thực trạng việc hình thành và phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã
hội chủ nghĩa ở nớc ta:
1)Trớc đổi mới:
Từ năm 1975 đất nớc Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất, cách mạng
Việt Nam hoàn toàn chuyển sang giai đoạn mới, cả nớc xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Đất nớc đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp lại chịu ảnh hởng
nặng nề do chiến tranh kéo dài. Trong 15 năm nhân dân ta đã không ngừng phấn
đấu vựot qua bao khó khăn thử thách mới giành đợc độc lập thống nhất đất nớc.
Chúng ta đã có nhiều cố gắng trong việc hàn gắn vết thơng chiến tranh, khôi phục
nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, từng bớc xác lập quan hệ sản xuất mới bớc đầu
xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, phát triển sự nghiệp văn
hoá giáo dục y tế, thiết lập củng cố chính quyền nhân dân trong cả nớc. Tuy
nhiên, nền kinh tế vẫn ở trong tình trạng kém phát triển, sản xuất nhỏ là phổ biến
và nặng nề tính tự cung tự cấp. Trình độ
trang thiết bị kỹ thuật trong sản xuất cũng nh trong kết cấu hạ tầng kinh tế văn
hoá xã hội lạc hậu, mất cân đối, cha tạo đợc tích luỹ trong nớc và lệ thuộc nhiều
vào bên ngoài. Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp để lại nhiều hậu quả
tiêu cực do đó nền kinh tế hoạt động với hiệu quả thấp.
m ti: ng li lónh o ca ng Cng sn Vit Nam trong vic xõy dng nn kinh t th
trng nh hng xó hi ch ngha
Khủng hoảng kinh tế xã hội diễn ra nhiều với đặc trng sản xuất chậm và
không ổn định, lạm phát lên đến 774,7% năm 1986. Tài nguyên thiết bị lao động
và tài năng mới đợc sử dụng thấp. Đời sống nhân dân thiếu thốn, nếp sống văn
hoá tinh thần và đạo đức kém lành mạnh, trật tự an toàn xã hội không đợc đảm
bảo, tham nhũng nhiều và tệ nạn xã hội phát triển.
Trên thực tế nền kinh tế nớc ta từ nghị quyết hội nghị lần thứ 6 ban chấp hành
Trung ơng khoá IV (năm 1979) các quan hệ hàng hoá tiền tệ đã đợc chấp nhận
nhng mới ở mức độ thứ yếu. Đó là do qua nhiều thập kỷ qua, t tởng kinh tế xã hội
thị trờng nớc ta cũng đợc hình thành và phát triển. Xem xét khái quát về thị trờng
nớc ta trong những năm qua vẫn thấy còn là thị trờng ở trình độ thấp, tính chất
của nó vẫn còn hoang sơ, dung lợng còn yếu và có phần rối loạn. Chúng ta mới
có thị trờng hàng hoá nói chung, trớc hết là thị trờng hàng tiêu dùng thông thờng
với hệ số giá cả và quan hệ mua bán bình thờng. Về cơ bản chúng ta cha có thị tr-
ờng sức lao động, thị trờng tiền vốn trong khu vực kinh tế nhà nớc. Thực trạng
này của thị trờng nớc ta là do kết quả của nhiều nguyên nhân khác nhau. Về mặt
khách quan là do trình độ phát triển của phân công lao động xã hội còn thấp, nền
kinh tế còn mang nặng tính tự cấp tự túc. Về mặt chủ quan là do những nhận thức
cha đúng đắn của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, là do sự phân biệt duy ý chí giữa
thị trờng có tổ chức và thị trờng tự do.
Điều cần thiết phải rút ra từ thực trạng của thị trờng trên đây là: với tất cả tính
phức tạp và các mặt tiêu cực xảy ra trên thị trờng, việc chuyển nền kinh tế nớc ta
sang kinh tế thị trờng vẫn đa tới mức tiến bộ về mật kinh tế hơn hẳn trớc đây và
tạo khả năng dẫn tới bớc ngoặt quyết định. Nhiệm vụ đặt ra hiện nay là phải tiếp
tục thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển của thị trờng ngày càng đầy đủ và
thông suốt, thống nhất trên phạm vi cả nớc, phải gắn thị trờng trong nớc với thị tr-
ờng quốc tế.
Thứ hai về thực trạng của nền kinh tế nớc ta khi chuyển sang nền kinh tế thị
trờng là ảnh hởng của mô hình kinh tế chỉ
huy với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Hai cơ chế kinh tế cũ và mới ( cơ
chế tập trung quan liêu bao cấp và thị trờng) có nhiều đặc điểm khác nhau, điểm
khác nhau cơ bản nhất là: cơ chế cũ hình thành trên cơ sở thu hẹp hoặc gần nh
xoá bỏ quan hệ hàng và tiền tệ, làm cho nền kinh tế bị hiện vật hoá còn cơ chế
mới hình thành trên cơ sở mở rộng quan hệ hàng hoá tiền tệ.
Quy luật tồn tại trong cơ chế giao nộp và cấp phát chỉ là hình thức, việc mở
rộng sản xuất và lu thông hàng hoá là một tất yếu lịch sử cho nên hạn chế quuan
hệ hàng hoá tiền tệ và quy luật giá trị trở thành sự cản trở tiến bộ kinh tế, kìm
hãm nhân tố mới. Do đó làm cho nhà nớc không thể làm chủ những quá trình
kinh tế khách quan mặc dù trong tay nhà nớc có thực lực kinh tế to lớn. Vì vậy,
hình kinh tế khái quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta. Mô
hình kinh tế đó có những đặc trng riêng , làm cho nó khác với kinh tế thị trờng ở
các nớc t bản chủ nghĩa.
3)Hạn chế trong phát triển kinh tế
Măc dù nớc ta đã đạt đợc nhng thành tựu nhất định trong phát triển kinh tế và
ổn định tình hình chính trị xã hội nhng không phải không còn nhng tồn tại cần đ-
ợc giải quyết nhất là những tồn tại trong việc điều hành nền kinh tế và giải quyết
các vấn đề thơng mại .Tuy những khó khăn này chỉ là tạm thời nhng chúng ta vẫn
phải giải quyết để làm lành mạnh hoá nền kinh tế và đẩy nhanh công cuộc phát
triển kinh tế nớc nhà .
Một trong những hạn chế lớn hiện nay là Việt Nam còn thiếu quá nhiều thông
tin , đặc biệt là thông tin trong lĩnh vực kinh tế. Không có các thông tin cần thiết
về thị trờng , về Luật kinh tế dẫn đến nhiều thất bại. Đáng chú ý là vấn đề thơng
m ti: ng li lónh o ca ng Cng sn Vit Nam trong vic xõy dng nn kinh t th
trng nh hng xó hi ch ngha
hiệu và gần đây là những khó khăn trong việc thâm nhập thị trờng Mỹ. Chính từ
hai nguyên nhân này mà Việt Nam thất bại trong vụ kiện cá ba sa.Về mặt nào đó
vụ kiện này có mặt thiên vị cho Hiệp hội chủ trại cá nheo Mỹ nhng phải thừa
nhận chúng ta đã không có nhng thông tin cần thiết và cũng không tiến hành
những hoạt động mà đáng ra chúng ta phải thực hiện trớc khi thâm nhập và thành
công trên thị trờng khó tính này. Một hạn chế khác là chúng ta vẫn còn tồn tại
những nghành kinh tế còn quá yếu kém khi mà chúng ta đã và đang dỡ bỏ một số
hạn ngạch thuế quan cho một số mặt hàng để chuẩn bị cho quá trình tham gia tổ
chức thơng mại quốc tế WHO. Nguyên nhân của sự khó khăn này một phần là do
còn có nhng ngành kinh tế hoạt động không hiệu quả đặc biệt trong sử dụng vốn.
Một phần là do một phần những ngành khác có tỷ lệ nội địa hoá thấp. Ngoài ra
vẫn phải thừa nhận là các ngành kinh tế Việt Nam phát triển phần lớn là dựa vào
sự tăng lên về vốn. Theo thống kê gần đây thì trong cơ cấu một đồng sản phẩm
tăng lên thì có tới 74% là do tăng về vốn , 14% do lao động và chỉ có 12% là do
sự tăng lên về năng suất thôi. Trong những nghành có tỷ lệ nội địa hoá thấp thì có
hoàn thiện và thiếu sự ổn định. Đặc biệt là hệ thống luật kinh tế nói chung luôn
thay đổi gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp. Gần đây các phơng tiện thông
tin đại chúng liên tục đa ra những kiến nghị của các doanh nghiệp xung quanh
vấn đề mua hoá đơn GTGT. Theo ý kiến của các chuyên gia nớc ngoài tham gia
giúp đỡ Việt Nam trong việc soạn thảo các văn bản luật thì nguyên nhân chính là
do Việt Nam có quá nhiều văn bản chồng chéo. Ngoài luật còn có thông t, chỉ thị,
hớng dẫn.Đôi khi chính những văn bản này lại hạn chế lẫn nhau, mâu thuẫn với
nhau. Bộ máy hành chính còn cồng kềnh cũng hạn chế khả năng hoạt động của
các nhà đầu t. Cái khó nhất ở đây là bộ máy hành chính càng cồng kềnh càng tạo
ra nhiều khâu trung gian, càng làm mất thời gian của doanh nghiệp trong khi đó
có không ít khâu còn có sự chồng chéo nhau không phân định rõ phạm vi hoạt
động.
III/ Một số giải pháp cơ bản tiếp tục phát triển kinh tế thị tròng định hớng xã
hội chủ nghĩa:
Muốn phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,
cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp.
1.Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần:
Thừa nhận trên thực tế tồn tại nhiều thành phần kinh tê trong thời kỳ quá độ là
một trong những điềukiện cơ sở để thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, nhờ đó
mà sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế.
Cùng với việc đổi mới, củng cố kinh tế nhà nớc và kinh tế hợp tác, thừa nhận
việc khuyến khích các thành phần kinh tế cá thế, t nhân phát triển là nhận thức
quan trọng về xây dựng chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ. Theo hớng đó mà khu
vực kinh tế nhà nớc, kinh tế tập
thể, kinh tế cá thể và các hình thức kinh tế hỗn hợp khác đều đợc khuyến
khích phát triển theo định hớng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tất cả các thành phần
kinh tế đều bình đẳng trớc pháp luật, tuy vị trí, quy mô, tỷ trọng, trình độ có khác
nhau nhng tất cả đều là nội lực của nền kinh tế phát triển theo định hớng xã hội
chủ nghĩa.
m ti: ng li lónh o ca ng Cng sn Vit Nam trong vic xõy dng nn kinh t th
năng cạnh tranh của hàng hoá nớc ta so với hàng hoá nớc ngoài trên thị trờng cả
nội địa và thế giới còn kém. Bởi vậy, để phát triển kinh tế hàng hoá, chúng ta phải
đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở và dịch vụ hiện đaị, đồng bộ cũng đóng vai trò
quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội. Hệ thống đó ở nớc ta đã quá lạc hậu,
không đồng bộ mất cân đôí nghiêm trọng nên đã cản trở nhiều đến quyết tâm của
các nhà đầu t trong cả nớc lẫn nớc ngoài, cản trở phát triển hàng hoá ở mọi miền
m ti: ng li lónh o ca ng Cng sn Vit Nam trong vic xõy dng nn kinh t th
trng nh hng xó hi ch ngha
đất nứơc. Vì thế cần gấp rút xây dựng và củng cố các yếu tố của hệ thống kết cấu
đó. Trớc mắt, nhà nớc cần tập trung u tiên xây dựng nâng cấp một số yêu tố thiêt
yếu nh đờng sá, cầu cống, bến cảng, sân bay, điện, nớc hệ thống thông tin liên
lạc, ngân hàng dịch vụ bảo hiểm
4.Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống luật pháp, đổi mới các chính
sách tài chính tiền tệ giá cả
Sự ổn định chính trị bao giờ cũng là nhân tố quan trọng để phát triển. Nó là
điều kiện để các nhà sản xuất kinh doang trong nớc và nớc ngoài yên tâm đầu t.
Giữ vững ổn định chính trị ở nớc ta hiện nay là giữ vững vai trò lãng đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, tăng cờng hiệu lực và hiệu quả quản lý của nhà nớc,
phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân.
Hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ rất quan trọng để quản lý nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần. Nó tạo nên hành lang pháp lý cho tất cả mọi hoạt
động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong và ngoài nớc. Với hệ
thống pháp luật đồng bộ và pháp chế nghiêm ngặt, các doanh nghiệp chỉ có thể
làm giàu trên cơ sở tuân thủ luật pháp.
Đổi mới chính sách tài chính tiền tệ, giá cả nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển,
huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, bảo đảm quản lý thống nhất nền
tài chính quốc gia, giảm bội chi ngân sách, góp phần khống chế và kiểm soát lạm
phát; xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng.
5.Xây dựng và hoàn thiện hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô, đào tạo đội ngũ
quả giữa nhà nớc và t nhân là cần thiết, làm cho các chién lợc phát triển nền kinh
tế nớc nhà có thể thực hiện đợc.
Nhà nớc ta cần xây dựng đợc hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và có tính đồng
bộ . Hệ thống pháp luật cần đợc bổ sung và hoàn thiện trên các lĩnh vực: sử dụng,
chuyển nhợng và cho thuê đất đai, thị trờng bất động sản, thị trờng vốn Bổ
sung, điều chỉnh bộ luật thuế tránh bị chồng chéo, khuyến khích đầu t trong nớc,
xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của cá nhân, xây dựng bộ luật thơng mại,
luật ngân sách, luật hành chính nhà nớc
Cải cách gằn liền với đổi mới kinh tế là một nhân tố quyết định đảm bảo nền
kinh tế tăng trởng nhanh và ổn định, bền vững ở nớc ta.
Đổi mới cơ chế quản lý và sáp xếp lại doanh nghiệp Nhà nớc đồng thời xác
định lại mục tiêu chiến lợc phát triển kinh tế xã hội phù hợp với kinh tế xã hội n-
ớc ta trong bối cảnh quốc tế hiện nay.
Những giải pháp nói trên tác động qua lại với nhau, sẽ tạo nên sức mạnh thúc
đẩy nền kinh tế hàng hoá nứơc ta phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
m ti: ng li lónh o ca ng Cng sn Vit Nam trong vic xõy dng nn kinh t th
trng nh hng xó hi ch ngha
Kết luận
Tóm lại để đa đất nớc có thể đuổi kịp các nớc phát triển trên thế giới trong
một tơng lai không xa đồng thời cũng không để chệch hớng theo con đờng xã hội
chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã chọn thì nhất thiết chúng ta phải xây dựng
đợc một nền kinh tế thị trờng vững mạnh theo định hớng xã hội chủ nghĩa và
mang bản sắc của ngời Việt Nam. Những vấn đề đựơc đề cập trên đây mới chỉ là
một vài biện pháp mà chúng ta cần làm trong thời gian trớc mắt để tiếp tục ổn
định và khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trờng và sau này trong quá
trình phát triển lâu dài của đất nớc.
Nhất là trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới theo xu hớng toàn cầu
hoá nền kinh tế thế giới thì khi đó sẽ mở ra rất nhiều cơ hội cũng nh những thách
thức đòi hỏi chúng ta phải thật sáng suốt nếu không muốn bị lâm vào tình thế bị
động trớc những diễn biến của nền kinh tế thị trờng. Nó có thể gây ra những hậu