BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
======= ======
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI: Phép biện chứng duy vật với đường lối
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam
GIẢNG VIÊN: Th.S NGUYỄN THỊ HỒNG
NHÓM SINH VIÊN:
LỚP: ĐIỆN TỬ VIỄN THÔNG
Hà Nội, 3– 2015
MỤC LỤC
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
I. PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 3
1.1. Khái niệm nền kinh tế thị trường 3
1.2. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - sự ra đời và
phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 6
* Sự ra đời của mô hình KTTT định hướng xã hội chủ
nghĩa 7
* Các giai đoạn phát triển của mô hình kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 8
1.3. Các đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 10
1.3.1. Khái quát các đặc trưng cơ bản 10
a) Vị trí đặc thù của KTTT trong công cuộc xây dựng CNXH
10
b) Mục tiêu phát triển của nền kinh tế 11
c) Lực lượng sản xuất của nền kinh tế thị trường định hướng
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán
tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng
hang hoá, dịch vụ trên thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, nếu lượng cầu
hàng hoá cao hơn lượng cung thì giá cả hàng hoá sẽ tăng lên, mức lợi nhuận
cũng tăng khuyến khích người sản xuất tăng lượng cung. Người sản xuất nào có
cơ chế sản xuất hiệu quả hơn, thì cũng có tỷ suất lợi nhuận cao hơn cho phép
tăng quy mô sản xuất, và do đó các nguồn lực sản xuất sẽ chảy về phía những
người sản xuất có hiệu quả. Những người sản xuất có cơ chế sản xuất kém hiệu
quả sẽ có tỷ suất lợi nhuận thấp, khả năng mua nguồn lực sản xuất thấp, sức
cạnh tranh kém sẽ bị đào thải. Từ trước tới nay, nó tồn tại và phát triển chủ yếu
dưới xã hội tư bản, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư
bản. Tuy nhiên, kinh tế thị trường cũng có nhiều mặt tiêu cực, tồn tại nhiều mâu
thu•n bên trong bản chất của chủ nghĩa tư bản, đó là xu thế phân hoá giàu
nghèo, phân tầng xã hội găy gắt, tâm lý sùng bái đồng tiền, vì đồng tiền mà chà
đạp lên đạo đức. Nó có nguy cơ tiềm tàng để phá vỡ hoặc mâu thu•n trong mối
quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tên gọi một cơ chế
quản lý kinh tế được đảng cộng sản Việt Nam tạo ra và triển khai tại Việt Nam
từ thập niên 1990 cho đến nay. Việc áp dụng cơ chế này cũng được ghi vào Hiến
pháp Việt Nam mới nhất.
Cho đến nay, chính Đảng cộng sản Việt Nam cũng thừa nhận rằng chưa
có nhận thức rõ ràng cụ thể và đầy đủ thế nào là nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa mà chỉ có giải thích nguyên lý chung rằng, đó là một
nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Nguyên nhân của tình trạng này là hệ thống kinh
tế này là hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử, thêm vào đó công tác lý
Nhóm 4 - lớp Điện tử Viễn thông
1
2
Tiểu luận triết học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Vân
Trong giới hạn kiến thức còn hạn hẹp cùng với thời gian ngắn, bài viết sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót, nhóm rất mong nhận được sự đóng góp của cô
để bài viết được hoàn thiện hơn.
PHẦN 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
1.1. Khái niệm nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường được coi như một hệ thống các quan hệ kinh tế.
Khi các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể biểu hiện qua mua, bán hàng hoá, dịch
vụ trên thị trường (người bán cần tiền, người mua cần hàng và họ phải gặp nhau
trên thị trường) thì nền kinh tế đó gọi là nền kinh tế thị trường.
Theo C. Mác, kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu của
lịch sử mà bất cứ nền kinh tế nào cũng phải trải qua để đạt tới nấc thang cao hơn
trên con đường phát triển và nền kinh tế TBCN chính là nền kinh tế thị trường
phát triển đến trình độ phổ biến và hoàn chỉnh. Nấc thang cao hơn chính là nền
kinh tế cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là nền kinh tế XHCN. Để chuyển
lên nấc thang này, nền kinh tế thị trường phải phát triển hết mức, phải trở thành
phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội.
Đây là một kết luận lý luận quan trọng. Nó khái quát quá trình phát triển
của lịch sử nhân loại, trong đó, kinh tế thị trường được xác định là một nấc
thang tất yếu, mang tính phổ biến. Tính phổ biến của kinh tế thị trường thể hiện
ở cấu trúc khung chung cho mọi nền kinh tế thị trường.
* Những yếu tố cơ bản của kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường nói chung bao hàm những yếu tố chủ yếu cơ bản như sau:
Thứ nhất, độc lập của các chủ thể trong nền kinh tế
Nhóm 4 - lớp Điện tử Viễn thông
3
năng và của cả nền kinh tế.
Bên cạnh đó, sự vận hành đồng bộ của các thể chế thị trường đòi hỏi phải
thực hiện đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của thị trường (chủ thể sở hữu độc lập,
mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp, cơ chế phân bổ nguồn lực do
các lực lượng thị trường quyết định là chính, thông qua cạnh tranh tự do, v.v.)
trên cơ sở được sự bảo đảm của luật pháp. Nếu không được bảo vệ bằng các đạo
Nhóm 4 - lớp Điện tử Viễn thông
4
Tiểu luận triết học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Vân
luật cơ sở như luật cạnh tranh, luật về các quyền sở hữu, luật chống độc quyền,
luật chống bán phá giá thì nền kinh tế không thể hoạt động bình thường.
Thứ ba, hệ thống giá cả được xác lập thông qua tương quan cung-cầu
quyết định sự vận hành của nền kinh tế thị trường
Giá cả trên các loại thị trường được xác định dựa trên tương quan cung và
cầu của từng thị trường đó. Tín hiệu giá cả là căn cứ khách quan đối với các chủ
thể kinh tế đưa ra các quyết định sản xuất-kinh doanh của mình trong môi
trường cạnh tranh thị trường.
Nền kinh tế thị trường chỉ vận hành được một khi hệ thống giá cả được
quyết định khách quan bởi thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu tối
đa hoá lợi nhuận là động lực chủ yếu thúc đẩy nỗ lực hoạt động và hiệu quả kinh
doanh của các doanh nghiệp. Để phục vụ mục tiêu đó, giá cả phải được thiết
định trên các cơ sở khách quan và được điều tiết bằng cơ chế tự điều tiết (cạnh
tranh tự do).
Thứ tư, cơ chế căn bản vận hành của nền kinh tế thị trường là cạnh
tranh tự do
Không có cạnh tranh tự do, không thể nói đến kinh tế thị trường. Về bản
chất, cơ chế cạnh tranh thị trường là cơ chế tự điều chỉnh. Do vậy, nó còn được
gọi là “bàn tay vô hình”. Cơ chế này giúp nền kinh tế tạo lập sự cân bằng mỗi
khi bị trục trặc.
- Hỗ trợ nhóm người nghèo các điều kiện tối thiểu để tham gia thị trường
bình đẳng.
Năm yếu tố nói trên là 5 yếu tố cấu thành cơ bản khung thể chế chung của
mọi nền kinh tế thị trường. Chúng hình thành một tổng thể, quy định l•n nhau.
Thiếu bất cứ yếu tố nào trong số đó đều không thể có nền kinh tế thị trường bình
thường, vận hành hiệu quả. Tuy nhiên, trong mỗi nền kinh tế thị trường, tuỳ theo
các điều kiện phát triển cụ thể, vai trò, vị trí và chức năng của từng yếu tố không
hoàn toàn giống nhau. Điều này tạo nên đặc thù của các mô hình kinh tế thị
trường và nền kinh tế thị trường ở những quốc gia cụ thể.
1.2. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - sự ra đời và phát
triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Cho đến cuối thế kỷ XX, kinh tế thị trường hầu như chỉ có một phương án
phát triển duy nhất là biến thành kinh tế TBCN. Song thực tế cho thấy kinh tế thị
trường không phát triển theo một mô hình duy nhất mà được thực hiện dưới
nhiều mô hình khác nhau (thị trường tự do, thị trường - xã hội, v.v).
Nhằm làm rõ những nét khái quát chung của quá trình phát triển kinh tế
thị trường, có thể trừu tượng hoá một số đặc điểm cụ thể, phản ánh sự giao thoa,
chuyển tiếp và đan xen giữa các mô hình để quy về ba mô hình chủ yếu sau:
• Mô hình kinh tế thị trường tự do (ở Mỹ).
Nhóm 4 - lớp Điện tử Viễn thông
6
Tiểu luận triết học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Vân
• Mô hình kinh tế thị trường - xã hội (ở Đức).
• Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) -
(ở Việt Nam) hay kinh tế thị trường XHCN (ở Trung Quốc).
Có thể nói ba mô hình kinh tế thị trường nói trên đang bao trùm tất cả các
nền kinh tế trên thế giới, trừ một vài ngoại lệ như Bắc Triều tiên. Điều này xác
nhận kết luận của Mác: kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển tất yếu; là
hình thức phổ biến của mọi nền kinh tế ở một trình độ xác định.
quan.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt
Nam đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả
hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là quan niệm về công nghiệp
hoá xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, thừa nhận sự tồn tại khách quan của
sản xuất hàng hoá và thị trường, phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp, và khẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh tế. Như vậy, kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được khẳng định là tồn tại trong cả lý
thuyết và thực tiện.
* Các giai đoạn phát triển của mô hình kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Khái niệm “kinh tế thị trường định hướng XHCN” được khẳng định tại
Đại hội Đảng IX năm 2001. Đây là kết quả của quá trình 15 năm đổi mới tư duy
và thực tiễn ở nước ta, được đúc kết lại trên cơ sở kiểm điểm, đánh giá và rút ra
các bài học lớn tại các kỳ Đại hội Đảng.
Quá trình đổi mới tư duy lý luận về kinh tế thị trường định hướng XHCN
được xác định trên cơ sở khái quát lại quá trình đổi mới qua ba nấc thang nhận
thức về nền kinh tế XHCN, tương ứng với ba giai đoạn phát triển của nền kinh
tế: Trước Đại hội Đảng VI (năm 1986); Từ Đại hội Đảng VI đến Đại hội Đảng
IX (1986-2000) và Từ Đại hội Đảng IX đến nay.
Giai đoạn trước Đại hội VI (1986)
● Năm 1979: Hội nghị TƯ 6 (khoá IV): Nghị quyết về lưu thông - phân
phối, mở đường áp dụng cơ chế “kế hoạch 3 phần” trong các DNNN, cho
phép DNNN vươn ra thị trường tự do với phần vượt ra ngoài kế hoạch pháp
lệnh.
● Năm 1981: Khoán 100 trong nông nghiệp. Hộ nông dân nhận khoán sản
phẩm và được quyền bán sản phẩm vượt khoán trên thị trường tự do. Đây là
hai điểm đột phá thị trường đầu tiên ở hai lĩnh vực kinh tế chủ chốt, tạo động
lực phát triển mạnh mẽ cho doanh nghiệp, tập thể và người lao động.
giai đoạn tiến lên CNXH. Đặt vấn đề xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN.
Đại hội IX khái quát mô hình nền kinh tế thị trường thể hiện sự phát triển
tư duy hệ thống về mô hình tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên
CNXH. “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính
Nhóm 4 - lớp Điện tử Viễn thông
9
Tiểu luận triết học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Vân
sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính
là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Giai đoạn từ Đại hội X tới nay
Nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong thập kỷ
gần đây. Điều đó đã được đánh giá và khẳng định trong các kỳ Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ X và XI.
Đại hội X - Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Đất nước ta đã ra
khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế
tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường định
hướng XHCN được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt”.
1.3. Các đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam
Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là tiền đề quan trọng thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô
hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, là một trong ba đột phá chiến lược trong
10 năm tới.
1.3.1. Khái quát các đặc trưng cơ bản
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; vừa vận động theo những quy
cao hơn về chất so với tiêu chuẩn đặt ra trong quan niệm truyền thống về
CNXH. Trình độ đó không chỉ đo bằng chuẩn “đại CN cơ khí” mà còn được đo
bằng chuẩn công nghệ cao. Trong nền kinh tế này, yếu tố ngày càng có vai trò
quyết định là khoa học - kỹ thuật và trí tuệ con người
2
.
Do có sự thay đổi như vậy, quan niệm truyền thống về công nghiệp hoá
XHCN, vốn gắn với cơ chế kế hoạch hoá tập trung và bị nguyên lý tự cấp - tự
túc chi phối, đã không còn thích hợp. Cần phải có một cách thức, một mô hình
CNH mới phù hợp có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển mới này. Trong thời
đại ngày nay, CNH không chỉ gắn với các mục tiêu, giải pháp truyền thống mà
phải đạt tới mục tiêu hiện đại, được thực hiện dựa trên các công cụ và giải pháp
hiện đại. Theo nghĩa đó, CNH cũng chính là và phải là quá trình HĐH. Khái
niệm CNH, HĐH, vì vậy, được hiểu là quá trình CNH với các mục tiêu và giải
pháp phù hợp với điều kiện và xu hướng phát triển hiện đại. Đây là một trong
những nội dung - đặc điểm quan trọng bậc nhất của nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta.
1
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)
2
Điều này đúng với dự đoán của C. Mác trước đây: sau giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, tức là sau
CNTB, khoa học kỹ thuật sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Nhóm 4 - lớp Điện tử Viễn thông
11
Tiểu luận triết học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Vân
d) Đa dạng hình thức sở hữu
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn
hợp, bao gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại
trong một thể thống nhất, trong đó, chế độ công hữu ngày càng trở thành nền
Nhóm 4 - lớp Điện tử Viễn thông
12
Tiểu luận triết học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Vân
trường định hướng XHCN ở nước ta, hình thức đơn nhất của công hữu có xu
hướng giảm nhưng ý nghĩa nền tảng của công hữu ngày càng được củng cố
vững chắc và được tăng cường ở những lĩnh vực then chốt, thể hiện ở:
- Vốn của kinh tế công hữu (bao gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và
phần công hữu trong kinh tế hỗn hợp) v•n đóng vai trò quan trọng trong tổng
vốn đầu tư XH.
- Kinh tế nhà nước nắm giữ các vị trí then chốt trong nền kinh tế.
Một yêu cầu khách quan của thị trường và kinh tế thị trường là phải xác
nhận và xác định quyền sở hữu dưới dạng tiền tệ những đóng góp tài sản, tiền
vốn, trí tuệ, v.v. vào kinh doanh nhằm lượng hoá quyền sở hữu của từng chủ sở
hữu. Không có quyền sở hữu chung chung, vô chủ, cũng không có quyền sở hữu
như nhau cho tất cả mọi người trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
e) Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế
Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành
phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”
3
.
Kinh tế nhà nước phải nắm giữ vai trò chủ đạo ở một số lĩnh vực then
chốt. Đó là những "đài chỉ huy", là huyết mạch chính của nền kinh tế. Đây là
điều kiện có tính nguyên tắc bảo đảm tính định hướng XHCN. Nó thể hiện sự
khác biệt về bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN so với
các mô hình kinh tế thị trường khác.
Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được thể hiện trước hết và chủ yếu ở
sức mạnh định hướng, hỗ trợ phát triển và điều tiết nền kinh tế chứ không phải ở
quy mô và sự hiện diện của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở tất cả hoặc
trường ở nước ta. Tăng trưởng kinh tế đồng thời với phát triển xã hội, văn hoá,
giáo dục, vì mục tiêu phát triển con người và mang đậm bản sắc của đất nước và
con người Việt Nam là những nội dung cấu thành của phát triển nhanh, hiệu
quả, hiện đại và bền vững trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta.
Bản chất của CNXH là công bằng. Song, cũng cần nhấn mạnh công bằng
XH trong kinh tế thị trường định hướng XHCN khác chất với chủ nghĩa bình
quân, cào bằng thu nhập và chia đều đói nghèo cho mọi người. Không thể có
CNXH và định hướng XHCN trong tình trạng đói nghèo và chậm phát triển.
Trước đây, CNXH "hiện thực" đã giải quyết không tốt vấn đề công bằng
kinh tế. Trong thực tiễn, cơ chế thực hiện công bằng (kế hoạch hoá tập trung) có
khuynh hướng d•n tới sự cào bằng, "bình quân". Cách hiểu này là cơ sở lý luận
của thực tế phân phối bình quân sự đói nghèo và thiếu hụt, thủ tiêu động lực
phát triển của chính CNXH.
Ngược lại, trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, cách thức
phân phối ngày càng ít bình quân - cào bằng đã giúp giải quyết cả hai vấn đề:
4
Đảng cộng sản Việt Nam. Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020.
Nhóm 4 - lớp Điện tử Viễn thông
14
Tiểu luận triết học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Vân
tăng trưởng và phát triển nhanh; đồng thời nâng cao phúc lợi cho tất cả mọi
người, đưa nhiều người thoát khỏi cảnh đói nghèo. Với hai kết quả này, quá
trình chuyển sang kinh tế thị trường thật sự đồng hướng với CNXH.
Tuy nhiên, v•n còn một vấn đề là sự phân hoá giàu nghèo, cơ sở sâu xa
của những bất bình đẳng xã hội tiềm tàng khác. Xu hướng này, xét "tĩnh tại",
không phù hợp với mục đích tối cao (cuối cùng) của CNXH. Vì vậy, trên quan
điểm định hướng XHCN, có hai vấn đề đặt ra.
Một là, hiểu thế nào về công bằng trong nền kinh tế thị trường.
mỗi bước phát triển của đất nước là một thực tế khách quan trong phát triển ở
nước ta hiện nay.
- Thứ ba, cần trả lời câu hỏi nhà nước phải làm gì và làm như thế nào để
thị trường phục vụ người nghèo hiệu quả; hỗ trợ các vùng chậm phát triển, và
chặn đứng, xoá bỏ nạn tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân. Đây là cách đặt
vấn đề tích cực để giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng và công bằng xã hội.
g) Đa hình thức phân phối thu nhập
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, thu nhập của cộng đồng dân cư được
phân phối theo nhiều kênh và hình thức khác nhau. Trong đó, phân phối thu
nhập theo hiệu quả kinh doanh và năng suất lao động là chính, các hình thức
phân phối thu nhập theo vốn, tài sản, trí tuệ và phúc lợi xã hội cùng tồn tại và
phát triển.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam
xác định: "Chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế,
đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông
qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội"
(5)
.
Lao động là nguồn gốc chính tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã
hội, tạo ra sự giàu có của quốc gia. Vì thế, để thực hiện công bằng, phải lấy phân
phối theo hiệu quả kinh doanh và năng suất lao động làm hình thức phân phối
chính. Người lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao phải có thu
nhập cao hơn.
Nhưng mặt khác, phải tạo mọi điều kiện và môi trường thuận lợi để mọi
người đều có thể làm giàu chính đáng bằng lao động của chính mình. Vì vậy,
mở rộng cơ hội phát triển và nâng cao năng lực lựa chọn cơ hội cho mọi người
dân để họ từng bước sống khá giả, sau đó, giàu có cả về vật chất lẫn tinh thần
là mục tiêu và là nét đặc trưng thuộc về bản chất của sự phát triển kinh tế thị
trường định hướng XHCN hiện nay ở nước ta.
Thu nhập theo vốn, tài sản và trí tuệ bỏ ra kinh doanh đã được luật pháp
kinh tế quốc tế dưới tác động của toàn cầu hoá.
Trên đây là một số đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở VN. Các đặc trưng này vừa phản ánh tính phổ biến, vừa thể
hiện những nét đặc thù trong mô hình phát triển mà Việt Nam lựa chọn.
1.4. Tính tất yếu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
Phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam không những là khách quan mà
còn mang lại nhiều lợi ích to lớn đó là:
+ Thúc đẩy chuyên môn hoá, xã hội hoá lao động, thúc đẩy tăng NSLĐ,
phát triển LLSX.
+ Góp phần làm cho nền kinh tế nước ta phát triển năng động.
Nhóm 4 - lớp Điện tử Viễn thông
17
Tiểu luận triết học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Vân
Dưới sự tác động của các quy luật kinh tế buộc những người sản xuất
hàng hoá phải năng động, tính toán cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, phải
nghiên cứu thị trường, chủ động sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao,
m•u mã đẹp, chi phí sản xuất hợp lý nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị
trường. Vì thế mà nền kinh tế trở nên năng động hơn so với nền kinh tế tự nhiên.
+ Phát triển nền KTTT sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội, tạo ra
nhiều ngành nghề, nhờ đó sản phẩm xã hội ngày càng phong phú, đáp ứng nhu
cầu đa dạng của mọi người.
+ Trên cơ sở phát triển KTTT sẽ hình thành đội ngũ cán bộ quản lý kinh
doanh và đội ngũ lao động có trình độ cao, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho
sự phát triển của đất nước.
Nhận thức được tính khách quan và lợi ích to lớn của phát triển KTHH,
KTTT, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng cộng sản Việt nam chủ trương phát triển
nền KTHH nhiều thành phần ở nước ta. Và những thành tựu phát triển kinh tế xã
hội trong nhữnh năm qua đã chứng minh tính đúng đắn của chủ trương nói trên.
Như vậy, phát triển kinh tế thị trường ở nước ta là một tất yếu kinh tế, một
Trong phép biện chứng duy vật, mối liên hệ phổ biến dùng để khái quát
mối liên hệ, sự tác động qua lại, chuyển hóa l•n nhau giữa các sự vật, hiện tượng
hay giữa các mặt, các giai đoạn phát triển của một sự vật, hiện tượng. Mối liên
hệ được hiểu là sự thống nhất của 3 phương diện: tính quy định, quá trình tương
tác và d•n tới là quá trình biến đổi. Trong 3 phương diện trên, tính quy định là
cơ sở khách quan của các quá trình tương tác, là các yếu tố, điều kiện ban đầu
tham gia vào quá trình tương tác. Vì vậy, quá trình tương tác với các điều kiện,
yếu tố ban đầu là cơ sở, là nguyên nhân d•n tới quá trình biến đổi. Việc thay đổi
các điều kiện, yếu tố ban đầu này trong quá trình tương tác có thể làm quá trình
biến đổi khác đi.
Từ đó, ta có thể thấy quá trình nhận thức về mối liên hệ thì ngược lại: từ
quan sát đến những sự biến đổi, trên cơ sở đó xác định nguyên nhân và sự tương
tác có được là do tính quy định. Mối liên hệ phổ biến chính là những mối liên hệ
của nó được thể hiện ở các mối liên hệ đặc thù trong mỗi trường hợp đặc thù, có
2 tính chất cơ bản là tính khách quan và tính phổ biến.
Nhóm 4 - lớp Điện tử Viễn thông
19
Tiểu luận triết học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Vân
Tính khách quan là cái vốn có của các tồn tại thế giới, được hiểu là không
có sự vật đồng nhất, giữa các sự vật hiện tượng không có tồn tại biệt lập tuyệt
đối. Ví dụ như cùng những yếu tố đấy nhưng tương tác trong điều kiện khác thì
quá trình biến đổi cũng phải thay đổi. Còn tính phổ biến được hiểu trên ba nội
dung sau:
Thứ nhất: Mọi sự vật hiện tượng, mọi lĩnh vực của thế giới luôn tồn tại
các mối liên hệ và liên hệ phổ biến. Theo nghĩa đó là không có sự tồn tại độc lập
riêng rẽ một cách tuyệt đối giữa các sự vật (mối liên hệ), và luôn tồn tại sự tác
động qua lại giữa các sự vật, với những điều kiện nhất định thì sẽ có những
tương tác nhất định (liên hệ phổ biến).
Thứ hai: Với mỗi sự vật có vô vàn các mối liên hệ khác nhau bởi tính
tượng cũ mất đi, sự vật, hiện tượng mới về chất ra đời. Phát triển là tự thân,
động lực của sự phát triển là mâu thu•n giữa các mặt đối lập bên trong sự vật,
hiện tượng. Phát triển đi theo đường xoáy ốc, cái mới dường như lặp lại một số
đặc trưng, đặc tính của cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn, thể hiện tính quanh co,
phức tạp, có thể có những bước thụt lùi tương đối trong sự phát triển.
Vận động và phát triển là hai khái niệm không đồng nhất nhau. Vận động
là phương thức tồn tại của vật chất, là đặc tính cố hữu của vật chất, gắn với mọi
dạng vật chất bất kể trong điều kiện, hoàn cảnh nào.
Sự phát triển là một kiểu vận động đặc biệt, được đặc trưng bởi tính xu
hướng, tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Vì thế, không phải sự
vận động nào cũng được cọi là sự phát triển.
Nguyên lý về sự phát triển cung cấp cho ta phương pháp nhận thức khoa
học về thế giới, chỉ cho chúng ta con đường đúng đắn để cải tạo tự nhiên và xã
hội. Nếu phát triển là một quá trình đổi mới không ngừng thì nhiệm vụ của khoa
học là phải nghiên cứu xem xét các sự vật, hiện tượng của thế giới đang vận
động, biến đổi từ dạng này sang dạng khác, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp
đến cao như thế nào. Điều đó đòi hỏi phải xem xét sự vật, hiện tượng trong sự
phát triển, phải hành động để đưa đến sự phát triển của sự vât. Phải thấy phát
triển là quá trình trong đó, tất yếu có sự ra đời của cái mới. Song sự diệt vong
của cái cũ và sự ra đời của cái mới là cả một quá trình đấu tranh gay go, phức
tap. Vì thế, phép biện chứng yêu cầu chúng ta phải hướng tới cái mới, phát hiện
Nhóm 4 - lớp Điện tử Viễn thông
21
Tiểu luận triết học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Vân
cái mới một cách nhạy bén, nhìn về tương lai phát triển của nó. Đồng thời, trong
phát triển hướng tới cái mới phải phân biệt cái mới thực sự với những cải giả
danh để kịp thời ngăn chặn, loại trừ. Chỉ những cái nào ra đời hợp với quy luật,
mang nội dung mới trên cơ sở kế thừa có chọn lọc loại bỏ cái cũ, có sự phát triển
cao hơn về chất so với cái cũ thì mới được coi là cái mới.