Đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường, định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa - Pdf 27

Đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tiểu luận:
“ Đường lối xây dựng nền kinh tế thị
trường, định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”
1
Đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
I. Mở đầu ( lý do chọn đề tài ).
Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế – kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn thấp, lại
bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý tưởng của những
người cộng sản và nhân dân Việt Nam, là khát vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dân
tộc Việt Nam. Nhưng đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào ? Đó là câu hỏi lớn và cực
kỳ hệ trọng, muốn trả lời thật không đơn giản. Suốt một thời gian dài, Việt Nam, cũng
như nhiều nước khác, đã áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết, mô hình kinh
tế kế hoạch tập trung mang tính bao cấp. Mô hình này đã thu được những kết quả quan
trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau
mô hình này bộc lộ những khuyết điểm; và trong công tác chỉ đạo cũng phạm phải một
số sai lầm mà nguyên nhân sâu xa của những sai lầm đó là bệnh giáo điều, chủ quan,
duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, không tôn trọng quy luật
khách quan, nhận thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực tế Việt Nam.
Cùng say mê và quan tâm đến vấn đề này cả nhóm đã quyết định chọn đề tài làm
tiểu luận để có thể có một cái nhìn tổng thể, toàn diện và rõ ràng sâu sắc hơn về đường
lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa.
II. Nội dung
2
Đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.Thời kỳ trước đổi mới trước năm 1986
Giai đoạn, đầu thập niên 1980, khủng hoảng kinh tế-xã hội nổ ra, lạm phát
tăng lên mức phi mã đặc biệt sau hai cuộc tổng điều chỉnh giá-lương-tiền.Nền kinh
tế nước ta bắt đầu được xây dựng với những công tác đầu tiên là công cuộc công
nghiệp hóa đất nước đẩy mạnh kinh tế.
a. Bối cảnh

như đại hội III. Xác định chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ ở nước ta phải
lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp sản xuất hàng
tiêu dùng; việc xây dựng và phát triển công nghiệp nặng trong giai đoạn này cần
làm có mức độ, vừa sức, nhằm phục vụ thiết thực, có hiệu quả cho nông nghiệp và
công nghiệp nhẹ. Đây là sự điều chỉnh đúng đắn bước đi của công nghiệp hóa, phù
hợp với thực tiễn Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế chúng ta lại không làm đúng sự
điều chỉnh chiến lược quan trọng này.
Có thể thấy trước đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta là cơ chế kế
hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp. Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng
3
Đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên
xuống dưới, giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn đầu tư…. Các cơ quan hành chính
can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng
lại không chịu trách nhiệm gì về vật chât và pháp lý đối với các quyết định của
mình. Vì nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “ cấp phát - giao nộp” nên
quan hệ hàng hóa tiền tệ bị coi nhẹ. Bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung
gian, phong cách cửa quyền. quan liêu nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn
người lao động. Nhà nước bao cấp từ giá cả ( định giá trị vật tư, thiết bị), bao cấp
qua tem phiếu bằng cách quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán
bộ, công nhân viên theo định mức; bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách.
Ở thời kỳ đó thì cơ thế này nó cho phép tận dụng tối đa các nguồn lực kinh
tế vào các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể nhưng đồng
thời nó lại thủ tiêu, cạnh tranh kìm hãm sự tiến bộ của khoa học công nghệ, triệt
tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, không kích thích tính năng động, sáng
tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Do thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế
thị trường, chúng ta xem kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng nhất của kinh tế xã
hội chủ nghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu; coi thị trường chỉ
là một công cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch. Không thừa hận sự tồn tại của nền
kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ. Nền kinh tế nước ta rơi vào tình

- Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết là một kiểu tổ chức xã hội, tổ chức kinh
tế muốn sớm khắc phục những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản, muốn nhanh chóng xây
dựng một chế độ xã hội tốt đẹp hơn, một phương thức sản xuất văn minh, hiện đại hơn chủ
nghĩa tư bản. Đó là một ý tưởng tốt đẹp, và trên thực tế suốt hơn 70 năm tồn tại, chủ nghĩa
xã hội hiện thực ở Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu vĩ đại, làm thay đổi hẳn bộ mặt
của đất nước và đời sống của nhân dân Liên Xô. Nhưng có lẽ do nôn nóng, làm trái quy
luật (muốn xóa bỏ ngay kinh tế hàng hóa, áp dụng ngay cơ chế kinh tế phi thị trường),
không năng động, kịp thời điều chỉnh khi cần thiết cho nên rút cuộc đã không thành công.
- Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế – kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn thấp, lại bị
chiến tranh tàn phá nặng nề. Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý tưởng của những người
cộng sản và nhân dân Việt Nam, là khát vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dân tộc Việt
Nam .
Mặt khác “cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp từ nhiều năm nay không tạo
được động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sử dụng và
cải tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng,
hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông, và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong
xã hội”
1
. Chính vì vậy mà việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trở thành nhu cầu cần thiết
và cấp bách.
c. Chủ trương xây dựng
• Trước tình hình đó Đảng ta đã bắt đầu đề cập đến sự cần thiết đổi
mới cơ chế quản lý kinh tế tại đại hội VI. Đại hội đã thảo luận và thông qua các
nghị quyết về các văn kiện như :báo cáo chính trị; phương hướng; mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội năm năm 1986-1990; báo cáo về bổ sung điều lệ Đảng.Đại hội
đã đánh giá những thành tựu những khó khăn của Việt Nam do cuộc khủng hoảng
kinh tế - xã hội tạo ra. Những sai lầm kéo dài của Đảng về chủ trương, chính sách
lớn về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của
nhũng sai lầm đó, đặc biệt sai lầm về kinh tế là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy
nghĩ về hành động đơn giản, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan là khuynh

xuất. Một cơ cấu kinh tế phù hợp là cơ cấu được hình thành dựa trên cơ sở những tiền đề
hiện thực, tuân thủ các qui luật kinh tế khách quan, chứ không phải là sự áp đặt của ý
muốn chủ quan. Tuy vậy, trong mỗi giai đoạn, sự hình thành và biến đổi của cơ cấu kinh tế
lại thông qua sự tác động của nhân tố chủ quan, của chủ thể lãnh đạo, quản lý nền kinh tế
quốc dân.
Đại hội VI là bước phát triển về chất, là quá trình đổi mới tư duy của Đảng về xác
lập đường lối phát triển kinh tế, là sự tổng kết thực tiễn. Ngay từ Đại hội IV (1976), Đảng
ta đã xác định: Phải ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát
triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; kết hợp xây dựng công nghiệp với nông nghiệp trên
phạm vi cả nước thành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp, vừa xây dựng kinh tế Trung
ương, vừa phát triển kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, kết
hợp phát triển lực lượng sản xuất với việc xác lập và từng bước hoàn thiện quan hệ sản
xuất mới. Tiếp đó, đến Đại hội V (1982), Đảng ta tiếp tục xác định: phải xây dựng cơ cấu
kinh tế công - nông nghiệp hiện đại, chú trọng xây dựng hệ thống công nghiệp nặng tương
đối phát triển làm nòng cốt củng cố nền kinh tế quốc dân.
Trong những năm 1976-1986, trên cơ sở cơ cấu kinh tế đã được xác định, trong
chỉ đạo thực hiện, đã thiên về tập trung phát triển công nghiệp nặng qui mô lớn, mà không
chú ý phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, không tính tới những điều kiện và khả
năng thực tế đất nước; “Chưa kiên quyết khắc phục tư tưởng nóng vội và bảo thủ, thể hiện
chủ yếu trong các chủ trương về cơ cấu kinh tế, cải tạo XHCN và cơ chế quản lý kinh tế”.
Do vậy, khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra những năm cuối thập niên 70 đầu thập niên
6
Đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
80 của thế kỷ XX ở nước ta có nguyên nhân từ bố trí cơ cấu kinh tế và cũng có nguyên
nhân bắt nguồn từ những nhận thức chưa đầy đủ về thời kỳ quá độ lên CNXH là một quá
trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường, nên trong chỉ đạo thực hiện đã
xuất hiện tư tưởng chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết. Tuy nhiên,
đánh giá một cách khách quan, mặc dù còn không ít những khiếm khuyết, nhưng từ 1976
đến trước Đại hội VI (tháng 12 - 1986) Đảng ta đã tìm tòi, thể nghiệm và chuẩn bị những
điều kiện, tiền đề cần thiết để đi tới xác lập một cơ cấu kinh tế phù hợp.

Thứ hai, phải bố trí lại cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư
trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp với đặc thù tự nhiên, kinh tế - xã hội của Việt Nam trong
chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ: phải phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp,
tiểu công nghiệp và công nghiệp nhẹ tới một mức nhất định mới có đủ điều kiện phát triển
7
Đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
công nghiệp nặng. Mức nhất định ở đây là giải quyết về cơ bản các nhu cầu của đời sống
xã hội và tạo ra được nguồn tích lũy cần thiết để xây dựng công nghiệp nặng.
Căn cứ vào những quan điểm nêu trên, Đại hội VI đã đề ra mục tiêu phải thực hiện trong 5
năm (1986-1990): “Về lương thực, thực phẩm: Bảo đảm lương thực đủ ăn cho toàn xã hội
và có dự trữ. Đáp ứng một cách ổn định nhu cầu thiết yếu về thực phẩm. Mức tiêu dùng
lương thực, thực phẩm phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động; Về hàng tiêu dùng: sản
xuất đáp ứng được nhu cầu bình thường của nhân dân thành thị và nông thôn về những sản
phẩm công nghiệp thiết yếu; Về hàng xuất khẩu: tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ
lực, đạt kim ngạch xuất khẩu đáp ứng được phần lớn nhu cầu nhập khẩu vật tư, máy móc,
phụ tùng và những hàng hóa cần thiết”.
Để thực hiện thắng lợi 3 chương trình kinh tế lớn, phải tạo ra cơ cấu hợp lý giữa công
nghiệp và nông nghiệp, kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu giữa 2 ngành kinh tế này nhằm đảm
bảo cho nền kinh tế phát triển cân đối với nhịp độ tăng trưởng ổn định. Nhưng ở mỗi giai
đoạn, trong từng chặng đường, vị trí của nông nghiệp, công nghiệp có khác nhau. Trong
chặng đường hiện nay, xuất phát từ “yêu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm, về
nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng, về hàng xuất khẩu quyết định vị trí hàng đầu của
nông nghiệp”.
Đối với công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, Đại hội cũng chỉ rõ: “đáp ứng cho được
nhu cầu của nhân dân về những loại hàng hóa thông thường, bảo đảm yêu cầu chế biến
nông, lâm, thủy sản, tăng nhanh việc làm hàng gia công xuất khẩu và các mặt hàng xuất
khẩu khác, đồng thời mở rộng mặt hàng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu
dùng”. Với công nghiệp nặng và xây dựng kết cấu hạ tầng, quan điểm của Đại hội VI rất
rõ ràng: “phải nhằm phục vụ các mục tiêu kinh tế, quốc phòng trong chặng đường đầu tiên,
và theo khả năng thực tế... sản phẩm nào mà công nghiệp nặng nhất thiết phải tạo ra trong

tế” bởi vì nó “cho phép sử dụng nhiều hình thức kinh tế qui mô và trình độ kỹ thuật thích
hợp trong từng khâu của quá trình sản xuất và lưu thông nhằm khai thác mọi khả năng của
các thành phần kinh tế liên kết với nhau, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo”.
Mọi hình thức cải tạo quan hệ sản xuất chỉ được coi là hợp qui luật khi nó thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển và đưa tới năng suất lao động cao hơn, tạo điều kiện mở rộng tái
sản xuất và nâng cao đời sống cho nhân dân.
Như vậy, một mặt Đảng ta thừa nhận còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, mặt
khác đặt vấn đề cải tạo XHCN đối với thành phần kinh tế cá thể, tư bản tư nhân, nhưng
không phải trong một thời gian ngắn vài ba năm, thậm chí một vài kế hoạch 5 năm, mà coi
đó là nhiệm vụ tiến hành trong suốt thời kỳ quá độ. Đại hội VI phân tích rõ: “Mười năm
qua, hai kỳ đại hội Đảng đều ghi vào nhiệm vụ căn bản hoàn thành cải tạo XHCN trong
nhiệm kỳ đại hội đó, song đều chưa thực hiện được. Cuộc sống cho ta một bài học thấm
thía là không thể nóng vội làm trái quy luật. Nay phải sửa lại cho đúng như sau: “đẩy mạnh
cải tạo XHCN là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH,
với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất
và trình độ của lực lượng sản xuất”. Vấn đề cải tạo và sử dụng các thành phần kinh tế được
thực hiện theo phương châm: sử dụng để cải tạo, cải tạo để sử dụng tốt hơn. Đây là 2 mặt
của một vấn đề trong thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần theo định hướng XHCN. Việc thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế và
phương châm kết hợp cải tạo với sử dụng đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển,
dần ổn định tình hình kinh tế - xã hội như mục tiêu đã định.
Tuy nhiên, để tiến hành cải tạo XHCN một cách vững chắc và khai thác có hiệu quả những
tiềm năng của các thành phần kinh tế phi XHCN, Đại hội VI nhấn mạnh: “làm cho kinh tế
quốc doanh thật sự giữ vai trò chủ đạo, chi phối được các thành phần kinh tế khác”. Đây là
điều kiện tiên quyết trong sử dụng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của thời kỳ quá độ đi
lên CNXH ở nước ta.
Cùng với quan điểm đổi mới bố trí cơ cấu kinh tế, Đại hội VI cũng nhấn mạnh phải kiên
quyết đổi mới cơ chế quản lý kinh tế (bao gồm hệ thống các đòn bẩy kinh tế, các hình
thức và biện pháp quản lý kinh tế cụ thể), nhằm giải quyết hiệu quả những mục tiêu, nhiệm
vụ ổn định tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. Việc đồng thời đổi mới cơ chế quản lý

nước ngoài đứng hàng thứ 2,3 trên thế giới. Mức lạm phát 3 con số thì bị đẩy lùi và tiến tới
điều chỉnh lạm phát, hàng tiêu dùng ngày 1 nhiều,SX được đẩy mạnh. Xã hội, đất nước
còn người thì ngày càng đổi mới. Với những tồn tại: Phân hóa giàu nghèo ngày càng xa,
các tiêu cực xã hội đã xuất hiện và phát triển nhanh. Sau 5 năm tiến hành đổi mới, nhân
dân ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là về mặt kinh tế:
+ Nông nghiệp đã phát triển mạnh mẽ do có chủ trương "khoán" thích hợp. Sản lượng
lương thực, thực phẩm tăng nhanh. Từ 1 nước thiếu lương thực triền miên, nay không
những đủ ăn mà còn trở thành 1 nước xuất khẩu gạo với số lượng lớn, đứng hàng thứ 3 về
xuất khẩu gạo trên TG.
+ Lạm phát trước đây ở mức rất cảo, nay đã khống chế được.
+ Nền kt hàng nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường đã được hình thành, có
tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ cả sx và phân phối, lưu thông;
+ Đời sống vật chất và văn hóa của đông đảo nhân dân có nhiều thay đổi lớn. Sự phát triển
của xây dựng có những tiến bộ rõ rệt. . .
+ Kt đối ngoại đã có những tiến bộ đáng kể. Tuy nước ta vẫn bị đế quốc mỹ áp đặt chính
sách cấm vận và bao vây kt, nhưng do chính sách kt quốc tế thông thoáng: "đa phương
hóa", "đa dạng hóa" các quan hệ đối ngoại, nên đã thu hút được nhiều tổ chức kt của các
10
Đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
nước đến đầu tư...
+ Văn hóa, giáo dục, y tế...cũng có những bước phát triển nhanh. Nhưng, quan hệ xh, trật
tự kỷ cương xh và lối sống có nhiều diễn biến phức tạp. Tiêu cực xh và tệ nạn xh có chiều
hướng gia tăng và nẩy sinh nhiều vấn đề bức xúc.
Thì Đại hội 7 diễn ra từ ngày 27-6-1991 tại Hà nội với những nội dung cơ bản là: kiểm
điểm, tổng kết tình hình 5 năm thực hiện nghị quyết đại hội đảng lần thứ VI, đánh giá
thành tựu, tồn tại, rút ra các bài học kinh nghiệm lớn. Thông qua "cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN " và chiến lược ổn định và phát triển kt-xh đến
năm 2000.
+ Về kiểm điểm đánh giá tình hình, đại hội khẳng định: công cuộc đổi mới đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng. Nền kt đã có những chuyển biến tích cực, bước đầu hình thành

phát triển toàn diện, đồng bộ hơn và ngày càng khẳng định trong thực tế góp phần đưa đất
nước vượt qua khủng hoảng kinh tế-xã hội, ổn định chính trị trên con đường đi lên xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương từ sau Đại hội VII đến
11
Đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
trước Đại hội VIII, theo thời gian: 27-6-1991; từ 21- 11 đến 4-12-1991; 18 đến 29-6-1992;
10 đến 14-1-1993; 3 đến 10-6-1993; 24-11 đến 1-12-1993; từ 17 đến 18-1-1994; từ 20 đến
25-1-1994 (Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ tổng kết những thực tiễn của đổi
mới từ Đại hội VI, khẳng định kiên trì đổi mới đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội...giữ
vững ổn định chính trị. Hội nghị này đã bổ sung 20 ủy viên Trung ương Đảng); 25 đến 30-
7-1994; 16 đến 23-1-1995; 6 đến 14-11-1995.
Tiếp tục đường lối trên đất nước ta đã trải qua việc thực hiện công cuộc đổi mới hơn 10
năm và đạt được những thắng lợi to lớn, được nhân dân ủng hộ đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ 8 diễn ra từ ngày 28/06 – 01/07/1996 tại Hà Nội nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi
mới toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng đã
tổng kết đánh giá và kiểm điểm 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của đại hội 6 và 5
năm thực hiện nghị quyết đại hội 7, đề ra nhiệm vụ, chủ trương nhằm thừa kế, phát huy
những thành tựu và ưu điểm đã đạt được; tiếp tục điều chỉnh, bổ sung, phát triển đường lối
đổi mới để đưa sự nghiệp đất nước tiến lên.
Xuất phát từ đặc điểm tình hình đất nước và nhận định Việt Nam đã thoát khỏi khủng
hoảng kinh tế xã hội cũng như căn cứ vào cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH, đại hội khẳng định tiếp tục nắm vững 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và
bảo vệ Tổ Quốc XHCN, nhấn mạnh đất nước đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đề ra và thực hiện kế hoạch 5 năm
1996 – 2000 với mục tiêu: đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển toàn diện đồng bộ; phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và phấn đấu đạt, vượt mục tiêu tăng trưởng
kinh tế nhanh hiệu quả cao, bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc của xã
hội; cải thiện đời sống của nhân dân, nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Kế hoạch 5
năm do đại hội đề ra đã đạt được những thành tựu trên các lĩnh vực của sự nghiệp đổi mới:

triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống
nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất
mới, tiên tiến. Đại hội chỉ rõ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình
thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh
tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước xã hội chủ
nghĩa quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật, và
bằng cả sức mạnh vật chất của lực lượng kinh tế nhà nước; đồng thời sử dụng cơ chế thị
trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để
kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục
mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân
dân.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả
lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn
lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn
liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Tăng trưởng
kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát
triển nguồn nhân lực của đất nước. Cũng có thể nói, kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa là một kiểu tổ chức kinh tế của một xã hội đang trong quá trình chuyển biến từ
nền kinh tế còn ở trình độ thấp sang nền kinh tế ở trình độ cao hơn hướng tới chế độ xã hội
mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Đây là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, được định hướng cao về mặt
xã hội, hạn chế tối đa những khuyết tật của tính tự phát thị trường, nhằm phục vụ tốt nhất
lợi ích của đại đa số nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước.

Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thể
hiện tư duy, quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất
với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status