Quan hệ giữa cái chung và cái riêng trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Pdf 44

a/đặt vấn đề
Trong tiến trình phát triển của lịch sử loài ngời , phạm trù kinh tế thị trờng đợc gắn liền với sự
tồn tại của mọi quốc gia. Nó đợc ví nh sợi dây hay con đờng dẫn tới sự giàu có văn minh và tiến
bộ của nhân loại. Nền kinh tế thị trờng đã đem lại cho chúng ta một khối luợng hàng hoá dịch vụ
khổng lồ. Giúp bộ máy kinh tế hoạt động trơn tru. Tuy nhiên quá trình xây dựng và phát triển nền
kinh tế thị trờng cần đợc xem xét và nhìn nhận trong mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung.
Vấn đề này đã đợc nhiều nhà khoa học đa ra bạn luận, nghiên cứu và đợc thực tế kiểm nghiệm và
chứng minh. Nhng chủ đề đó vẫn còn nhiều khía cạnh cần tranh luận.
Trớc thềm Đại hội X, vấn đề kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa đang đợc d luận
quần chúng quan tâm. Trong các tổ chức đảng, đội ngũ bán bộ, đảng viên đã có những cuộc đấu
tranh sôi nổi. ý kiến còn khác nhau về khái niệm chủ nghĩa xã hội, định hớng xã hội chủ
nghĩa, những giải pháp đổi mới là điều bình thờng, nhất là khi mỗi buớc tiến của công cuộc đổi
mới xây dựng chủ nghĩa xã hội đặt ra hàng loạt vấn đề không có sẵn lời giải đáp. Tuy nhiên cũng
có nhiều tiếng nói hoài nghi, thậm chí bác bỏ con đờng xã hội chủ nghĩa. Tiếng nói phủ định con
đờng xã hội chủ nghĩa, trên internet, trên một số phơng tiện đại chúng, dờng nh cao giọng hơn
tiếng nói khẳng định. ý kiến bác bỏ con đờng xã hội chủ nghĩa đợc diễn đạt bằng những cách
khác nhau, thờng là quanh co, không trực tiếp, điển hình là đối lập đổi mới với định hớng xã
hội chủ nghĩa; cho rằng quan tâm đến định hớng xã hội chủ nghĩa là do dự, chập chờn trong
đổi mới; giữ vững định hớng xã hội chủ nghĩa là cản trở sự phát triển; tiếp tục con đờng xã hội
chủ nghĩa chỉ làm cho đất nớc ta lạc điệu trong tiến trình phát triển của thế giới. Nền kinh tế thị
trờng vần còn tồn tại nhiều tiêu cực ảnh hởng xấu đến nền kinh tế... Dù đứng trớc những khó khăn
đó, nhng nhân dân ta vẫn một lòng kiên đinh, vững tin đi theo đờng lối của đảng. Xây dựng nền
kinh tế thị trờng đinh hớng xã hội chủ nghĩa là con đờng duy nhất đa nớc ta đổi mới, đem lại cuộc
sông ấm no hạnh phúc cho nhân dân.
Qua đề tài: Quan hệ giữa cái chung và cái riêng trong việc xây dựng nền kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cá nhân em cũng muốn đóng góp một tiếng nói đồng
tình với đờng lối phát triển kinh tế thị trờng của Đảng. Và đó cũng chính là lý do em chọn đề tài
cho tiểu luận của mình.
Em xin bày tỏ lòng biết chân thành đối với các thầy, cô giáo bộ môn triết học đã truyền đạt cho
em những kiến thức quý giá về triết học, đặc biệt em chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Bích
Liên đã giúp em hoàn thành bài tiểu luận này.

của triết học. Việc giải quyết mối quan hệ này đã từng hình thành hai loại quan điểm đối lập nhau
là quan điểm của phái duy thực và quan điểm của phái duy danh thời Trung cổ Tây Âu.
Phái duy thực khẳng định rằng chỉ có cái chung mới tồn tại thực tế, tồn tại khách quan, độc lập
với cái riêng. Và chính từ cái chung mà cái riêng đợc hình thành; cái chung là cơ sở, nguồn gốc
sản sinh ra cái riêng. Mỗi cái riêng có quá trình sinh ra, tồn tại rồi mới mất đi, còn cái chung thì
bất biến và tồn tại vĩnh viễn. Ngợc lại phải duy danh thì tuyên bố rằng chính cái riêng mới tồn tại
thực tế còn cái chung chỉ thuần túy là tên gọi (từ ngữ) trống rỗng do con ngời đặt ra để gọi tên các
sự vật (cái riêng) mà thôi. Theo họ, trong thực tế không tồn tại cái chung nào cả.
Vậy thực chất hai quan điểm trên đây là thế nào
Nếu đứng trên quan điểm của phép biện chứng duy vật chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng thực
chất quan điểm của hai phái duy thực và duy danh chính là quan điểm duy tâm và siêu hình trong
triết học. Nếu coi cái chung (bản chất) đợc khái quát trong phạm trù nh là cái có trớc cái riêng,
độc lập với cái riêng thì đó là quan điểm duy tâm và chính đó cũng là biểu hiện của t duy siêu
hình, đã tuyệt đối hóa cái chung, tách nó ra khỏi cái riêng và biến nó thành một thực thể độc lập.
Còn ngợc lại, chỉ thấy cái riêng, tuyệt đối hóa cái riêng, phủ định cái chung, coi cái chung chỉ là
cái tên gọi trống rỗng không chứa đựng (phản ánh) một cái gì của thế giới hiên thực, thì đó cung
là biểu hiện của một kiểu t duy siêu hình.
Quan điểm của phép biện chứng duy vật có thể đợc khái quát nh sau:
* Thứ nhất: cái riêng và cái chung đều tồn tại một cách khách quan, nghĩa là tồn tại tự nó,
không phụ thuộc vào ý thức con ngời. Tuy nhiên cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua
cái riêng. Không thể có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng, độc lập với cái riêng.
Chẳng hạn không thể có con ngời với t cách là một khái niệm ngời thuần túy có trớc rồi từ đó
mới sản sinh ra những con ngời cụ thể, cũng nh không có thể có khái niệm quả đất tồn tại trớc
rồi từ đó biểu hiện ra thành quả đất hiện thực. Khái niệm ngời là kết quả nhận thức phản ánh
những thuộc tính chung (bản chất) có thật (tồn tại) trong mỗi con ngợi cụ thể. Nh vậy , cũng
không thể nói rằng khái niệm phạm trù (cái chung) chỉ là những tên gọi (từ ngữ) trống rỗng không
phản ánh một cái gì trong hiện thực. Sở dĩ nh vậy là vì cái chung là thuộc tính đặc điểm của
những cái riêng. Chúng đều tồn tại khách quan.
* Thứ hai: Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung. Nghĩa là mỗi cái riêng
3

chung, thì kẻ đó, trên mỗi bớc đi sẽ không sao tránh khỏi vấp phải những vấn đề chung đó một cái
không tự giác. Mà mù quáng vấp phải những vấn đề có trong từng trờng hợp riêng, thì có nghĩa là
đa chính sách đến chỗ có những sự dao động tồi tệ nhất và mất hẳn tính nguyên tắc.( V.I.Lenin
toàn tập, NXB Tiến bộ M-1979, t.15, tr437)
Nhng để nhận thức đợc cái chung thì phải bắt đầu từ những cái riêng, vì cái chung là một bộ
phận của cái riêng, tồn tại trong cái riêng, không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái
riêng. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng khi cái chung đã đợc nhận thức, đợc phản ánh trong các
4
khái niệm, phạm trù, trong các hệ thống lý luận, thì đó là những cái chung đã đợc trừu tợng hóa,
đã đợc tách khỏi cái riêng, là những cái chung màu xám đồng nhất. Vì vậy, khi áp dụng
những cái chung (lý luận) ấy và thực tiễn xã hội để cải tạo cái riêng đòi hỏi phải tính đến đặc
điểm của mỗi cái riêng những cái vốn phong phú xanh tơi - thì mới đem lại kết quả mong
muốn. Cố nhiên, cũng không đợc tuyệt đối hóa cái riêng, tách cái riêng ra khỏi cái chung, vì trong
hiện thực không thể có cái riêng nào tồn tại tách khỏi cái chung đợc.
Đồng thời, nếu trong quá trình phát triển của hiện thực với những điều kiện nhất định, cái đơn
nhất có thể chuyển hóa thành cái chung, cái chung cũng có thể chuyển hóa thành cái đơn nhất, thì
trong hoạt động thực tiễn xã hội phải biết tạo những điều kiện cần thiết cho các quá trình chuyển
hóa ấy đợc thực hiện theo yêu cầu phát triển của các sự vật, đạt đợc lợi ích mong muốn của con
ngời. Việc nhân rộng các sáng kiến trong sản xuất kinh doanh là một tất yếu trong sự phát triển.
Quá trình chuyển từ lợi nhuận siêu ngạch sang lợi nhuận bình quân là một thí dụ điển hình cho
luận điểm này.
II/ Thực trạng và gii phỏp phỏt trin kinh t th trng Vit Nam trờn c
s nguyờn lý v cỏi riờng v cỏi chung
2.1.Khỏi nim kinh t th trng:
Kinh tế thị trờng là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá, trong đó từ sản suất đến tiêu
dùng đều thông qua thị trờng, nói cách khác, kinh tế hàng hoá phát triển, trong đó mọi quan hệ
kinh tế đều đợc tiền tệ hoá thì gọi là kinh tế thị trờng.
Kinh tế thị trờng là kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trờng, cơ chế tự điều tiết nền
kinh tế hàng hoá do sự tác động của các quy luật kinh tế vốn có của nó, cơ chế đó giải quyết ba
vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế là gì, nh thế nào và cho ai. Một cơ chế bao hàm các nhân tố cơ

Nền kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa hiện đại đang ngày càng thể hiện xu hớng tự phủ định và tự
tiến hóa để chuẩn bị chuyển sang giai đoạn hậu công nghiệp, theo xu hớng xã hội hóa. Đây là tất
yếu khách quan, là quy luật phát triển của xã hội. Nhân loại muốn tiến lên, xã hội muốn phát triển
thì dứt khoát không thể dừng lại ở kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa.
2 - Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết là một kiểu tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế muốn
sớm khắc phục những khuyết tật của chủ nghĩa t bản, muốn nhanh chóng xây dựng một chế độ xã
hội tốt đẹp hơn, một phơng thức sản xuất văn minh, hiện đại hơn chủ nghĩa t bản. Đó là một ý t-
ởng tốt đẹp, và trên thực tế suốt hơn 70 năm tồn tại, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô đã đạt
đợc nhiều thành tựu vĩ đại, làm thay đổi hẳn bộ mặt của đất nớc và đời sống của nhân dân Liên
Xô. Nhng có lẽ do nôn nóng, làm trái quy luật (muốn xóa bỏ ngay kinh tế hàng hóa, áp dụng
ngay cơ chế kinh tế phi thị trờng), không năng động, kịp thời điều chỉnh khi cần thiết cho nên rút
cuộc đã không thành công.
Thực ra, khi mới vận dụng học thuyết Mác vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc Nga sau Cách
mạng Tháng Mời, V.I.Lê-nin cũng đã từng chủ trơng không áp dụng mô hình kinh tế thị trờng mà
thực hiện "chính sách cộng sản thời chiến". Nhng chỉ sau một thời gian ngắn, Ngời đã phát hiện
ra sai lầm, khắc phục sự nóng vội bằng cách đa ra thực hiện "chính sách kinh tế mới" (NEP) mà
nội dung cơ bản của nó là khuyến khích phát triển kinh tế hàng hóa, chấp nhận ở mức độ nhất
định cơ chế thị trờng. Theo V.I.Lê-nin, để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nớc còn tơng đối lạc
hậu về kinh tế nh nớc Nga, cần phải sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ và phát triển kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần, đặc biệt là sử dụng chủ nghĩa t bản nhà nớc để phát triển lực lợng sản xuất.
Tuy chỉ mới thực hiện trong thời gian ngắn nhng NEP đã đem lại những kết quả tích cực cho nớc
Nga: hồi phục và phát triển nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, nhiều ngành kinh tế bắt đầu hoạt
động năng động, nhộn nhịp hơn. Tiếc rằng, t tởng của V.I.Lê-nin về xây dựng chủ nghĩa xã hội
6
với chính sách NEP đã không đợc tiếp tục thực hiện sau khi Ngời qua đời. Sự thành công và sự
phát triển mạnh mẽ suốt một thời gian khá dài của Liên Xô trong công cuộc công nghiệp hóa đất
nớc bằng mô hình kinh tế dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất, kế hoạch hóa tập trung cao
độ; phân phối thu nhập mang tính bình quân; kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trờng bị loại bỏ đã có
sức hấp dẫn lớn đối với nhân loại và làm cho giới lý luận kinh tế các nớc xã hội chủ nghĩa và các
nớc đang phát triển tuyệt đối hóa, biến thành công thức để áp dụng cho tất cả các nớc đi theo con

biệt là quan niệm về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, về cơ cấu kinh tế,
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status