TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TOÁN – TIN HỌC
TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG
ĐỀ TÀI
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM TRONG CƠNG CUỘC ĐỔI
MỚI ĐẤT NƯỚC
HỌ VÀ TÊN : TRẦN KIM TRI
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : TS TRẦN NHƯ CƯƠNG
KHOA : TỐN
LỚP : 3B
MSSV : K33101114
TÓM TẮT :
LỜI NÓI ĐẦU……………………………………………………………………………… 3
CHƯƠNG I : ………………………………………………………………………………….6
NHỮNG BƯỚC ĐẦU CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI. ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN
QUỐC LẦN THỨ VI CỦA ĐẢNG (1986)
CHƯƠNG II: ………………………………………………………………………………. 11
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LẦN THỨ VII CỦA ĐẢNG
CHƯƠNG III : ………………………………………………………………………………14
TỔNG KẾT 10 NĂM ĐỔI MỚI – ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LẦN THỨ VIII CỦA ĐẢNG
CHƯƠNG IV : ………………………………………………………………………………17
TỔNG KẾT 15 NĂM ĐỔI MỚI – ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ IX
CỦA ĐẢNG
CHƯƠNG 5 :……………………………………………………………………………… 21
PHƯƠNG HƯỚNG , NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TỂ - XÃ HỘI TRONG ĐẠI
ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ X CỦA ĐẢNG
những vết thương chiến tranh, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Đã anh dũng chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh quy mô lớn ở biên giới Tây
Nam và phía Bắc, bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa; đồng thời cũng làm
tròn nghĩa vụ quốc tế với nhân dân Campuchia và nhân dân Lào, góp phần tích cực bảo vệ
độc lập và hòa bình trên bán đảo Đông Dương.
Trên mặt trận kinh tế cũng như văn hóa, đã đạt được một số thành tựu, đáng chú ý là
đã cơ bản hoàn thành công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, bước đầu
ổn định sản xuất và đời sống.
Tuy nhiên bên cạnh nhữn thành tựu đó, còn tồn tại rất nhiều những vấn đề to lớn, đặc
biệt là các vấn đề kinh tế xã hội. Những thành tựu kinh tế mà chúng ta đạt được còn thấp so
với yêu cầu đề ra, với công sức chúng ta bỏ ra, thu nhập quốc dân chưa đảm bảo được tiêu
dùng xã hội, chưa tạo được tích lũy bên trong. Các mặt hàng tiêu dùng thường nhật, thiết yếu
như lương thực, vải mặc đều thiếu. TÌnh hình cung ứng năng lượng, giao thông vận tải, vật tư
cơ bản đều rất căng thẳng. Tình hình lạm phát ngày càng nghiêm trọng; hiện tượng mất cân
đối trong vấn đề tiền lương, hiện tượng giá cả không ổn định mất cân đối xảy ra một cách
trầm trọng. Những hiện tượng tiêu cực của xã hội còn kéo dài trên một số mặt. Tất cả nhưng
tồn tại ấy đã làm lộ ra những khiếm khuyết trong mô hinh Xã hội Chủ nghĩa nghĩa rập khuôn
theo Liên Xô, quan liêu bao cấp.
Nguyên nhân khaùch quan của những khó khăn đó đã được chỉ ra trong văn kiên Đại
hội lần thứ V của Đảng; đó là:
Nền kinh tế của nước ta nhìn chung vẫn là một nền kinh tế nhỏ lẻ, kém tập trung. Lao
động chủ yếu là trong ngành nông nghiệp, tuy nhiên nền nông nghiệp lại là một nền nông
nghiệp lạc hậu, kém hiệu quả. Bên cạnh đó còn phải gánh chịu những hậu quả hết sức nặng
nề của chiến tranh lâu dài và của sự bóc lột của thực dân, đế quốc. Thêm vào đó là thiên tai
lớn dồn dập xảy ra, kẻ địch lại không ngừng phá hoại nước ta về nhiều mặt. Nền kinh tế bị đè
nặng bơi những yêu cầu vừa cơ bản lại hết sức cấp bách.
Song, nguyên nhân chính lại là những nguyên nhân chủ quan, chúng đến từ sự lãnh
đạo của Đảng, bởi sự lãnh đạo của Đảng có tác động vô cùng quan trọng và có tính chất
quyết định đối với thành bại của sự nghiệp cách mạng. Đảng và nhà nước đã tự kiểm điểm và
4
năm đạt 17 triệu tấn, sản xuất công nghiệp tăng bình quân 9,5%một năm (giai đoạn 1976-
1980 là 0,6%), thu nhập bình quân tăng hàng năm là 6,4 % (giai đoạn 1976-1980 là 0,4%).
Về xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật Xã hội Chủ nghĩa, trong giai đoạn này, hàng trăm công
trình lớn, hàng ngàn công trình vừa và nhỏ đã hoàn thành và đưa vào khai thác, sử dụng có
hiệu quả. Công cuộc cải tạo Xã hội Chủ nghĩa đã tiến thêm một bước. Cuộc sống của nhân
dân trong thời kì kinh tế còn yếu kém đã được Đảng chú trọng chăm lo hơn; cuộc chiến đấu
bảo vệ thành quả cách mạng đảm bảo an ninh chính trị và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đã
giành được nhiều thắng lợi to lớn.
Đại hội đã khẳng định những thành tựu đã đạt được đồng thời cũng không hề phủ
nhận mà thẳng thắn chỉ ra tình hình kinh tế xã hội đất nước ta đang tồn tại nhiều vấn đề bất
cập, khó khăn. Sản xuất tăng chậm không phù hợp với thời gian, tiền bạc và công sức bỏ ra,
chưa đáp ứng được nhu cầu nhanh chóng ổn đinh đời sống của nhân dân. Nhiều chỉ tiêu của
kế hoạch 5 năm (1981-1985) không đạt đã ảnh hưởng tới toàn bộ các hoạt động kinh tế và
đời sống nhân dân…Tóm lại, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu mà đại hội V đã vạch
ra, dó là ổn định về cơ bản tình hình kinh tế xã hội và đời sống nhân dân. Về nguyên nhân
của những vấn đề trên, Đại hội đã nhấn mạnh: “Chúng ta không đánh giá thấp những khó
khăn khách quan, những khó khăn đó là rất lớn. Song việc quan trọng hơn là phân tích sâu
săc những nguyên nhân chủ quan, nêu ra những sai lầm khuyết điểm trong hoạt động của
Đảng và nhà nước. Trong nhiều năm qua, Đảng đã mắc sai lầm về “xác định mục tiêu và
bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cải tạo Xã hội Chủ nghĩa và quản lý kinh tế.”
Từ thực tiến cách mạng, Đảng đã nêu ra những bài học kinh nghiêm quan trọng:
- Một là trong toàn bộ các hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy
dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
6
- Hai là đang phải xuất phát từ thực tế; phải tôn trọng và hành động theo các quy
luật khách quan; năng lực nhận thức và hành động theo các quy luật khách quan
chính là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.
- Ba là phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện
mới.
- Bốn là: Phải xây dựng cơ cấu Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị là một Đảng
tiên giao thông vận tải đường thủy, tăng tỷ trọng vận tải đường săt, sắp xếp hợp lý vận tải
đường bộ, phát triển đường không”, bên cạnh đó cũng cần chú trọng việc phát triển màng
lưới giao thông nông thôn thông qua việc kết hợp giữa người dân, nhà nước và các tổ chức
kinh tế tập thể khác.
Đồng thời trong báo cáo; đại hội cũng chỉ ra tầm quan trọng của các ngành kinh tế
dịch vụ. Bởi trong nền kinh tế không thể thiếu đi các ngành kinh tế này. Tuy nhiên trong thực
7
tế, tỷ trọng của ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nước ta chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Đại
hội đã nêu ra cần phải đẩy mạnh việc phát triển các ngành như sản xuất hàng tiêu dùng; buôn
bán nhỏ và vừa, phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu của nhân dân.
Tựu chung lại, sự đổi mới của cơ cấu kinh tế là nhằm hướng tới thực hiện tốt kế
hoạch 5 năm trong tương lai gần và ba mục tiêu – ba chương trình trọng điểm về:
- Lương thực thực phẩm
- Sản xuất hàng tiêu dùng
- Đẩy mạnh xuất khẩu
II. Những định hướng trong việc đổi mới cơ chế quản lý
Bên cạnh công tác đổi mới cơ cấu kinh tế; Đại hội còn đưa ra quyết định mới về cải
tạo Xã hội Chủ nghĩa dựa trên 3 nguyên tắc:
Cải tạo Xã hội Chủ nghĩa nhất thiết phải tuân theo những quy luật khách quan về sự
phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định
những bước đi và hình thức thích hợp; từ đó đại hội khẳng định “ đẩy mạnh cải tạo Xã hội
Chủ nghĩa là thường xuyên, liên tục trong suốt thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội…”
Ngoài việc phát huy nội lực từ kinh tế trong nước Đảng ta còn chủ trương đẩy mạnh,
mở rộng hiệu quả của kinh tế đối ngoại. Nhiệm vụ ổn định và phát triển của kinh tế trong
chặng đường đầu tiên của con đường đổi mới toàn diện này nhanh hay chậm phụ thuộc một
phần quan trọng vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của công tác kinh tế đối ngoại. Đại
hội VI nêu rõ sự cần thiết “ công bố chính sách khuyến khích đầu tư vào nước ta dưới nhiều
hình thức nhất là đối với các ngành, cơ sơ đòi hòi trình độ kĩ thuật cao, làm hàng xuất khẩu.
Đi đôi với việc công bố luật đầu tư mới cần có các chính sách và biện pháp tạo điều kiện
thuận lợi cho người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta để kinh doanh.”
nhân của các khó khăn như chậm tổng kết thực tiễn để đưa ra những quyết sách hợp lý; nhà
nước chậm cụ thể hóa đường lối của Đảng vào thực tiến…đồng thời giữ vững lập trường
chính trị; khắc phục khó khăn, từng bước đưa nghị quyết đại hội VI vào thực tiễn.
III. Những thành tựu ban đầu
Các hội nghị trung ương khóa VI đã tập trung bàn và quyết định những bước đi quan
trọng của sự nghiệp đổi mới. Hội nghị lần 2 ban chấp hành trung ương (4-1987) bàn về vấn
đề lưu thông phân phối; các hội nghị tiếp theo cho tới hội nghị 6 (3-1989)đã quyết định
những chủ trương chính sách lớn nhằm đẩy mạnh quá trình đổi mới, đặc biệt là về vấn đề đổi
mới cơ cấu kinh tế. Nhờ có những quyết sách hợp lý của Đảng mà nền kinh tế đã có những
bước chuyển biến tích cực; mức lạm phát giảm xuống nhanh chóng chỉ còn ở mức “hai con
số” (67,4%-1990). Công thương nghiệp khởi sắc trở lại; ba chương trình kinh tế trọng điểm
đạt được những tiến bộ rõ rệt. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; dân chủ trong xã hội
được cải thiện và phát huy; quốc phòng an ninh được giữ vững; hoạt động kinh tế đối ngoại
được mở rộng, đẩy lùi thị trường bị bao vây cô lập; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có
nhiều tiến bộ. Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội có tiến bộ đáng kể. Kim ngạch xuất khẩu năm
1986 là 439 triệu rúp và 387 triệu USD nhưng tới năm 1990 đã tăng đáng kể lên 1019 triệu
rúp và 1170 triệu USD. Đã có hai mặt hàng xuất khẩu là gạo và dầu thô. Mức tăng trưởng
hàng năm trong giai độan 1986-1990 đạt 3,9%. Đời sống tinh thần của nhân dân được nâng
cao. Hệ thông luật pháp được cải thiện mang lại hiệu quả cao trong công tác quản lý.
Quả thực,qua thực tế đã chứng minh đường lối lãnh đạo của Đảng là hoàn toàn đúng
đắn; và Đảng đã chứng minh vai trò lãnh đạo tất yếu của mình thông qua việc định hướng đổi
mới cũng như lãnh đạo nhân dân ta bước những bước đầu tiên trên con đường ấy. Ngay sau
khi đại hội VI kêt thúc, Bộ chính trị và ban chấp hành khóa VI đã lập ra ban soạn thảo cương
lĩnh và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Để phát huy trí tuệ tập thể trong việc chuẩn bị
các văn kiện, 3-1990, 5 tiểu ban của trung ương đã được thành lập nhằm lấy ý kiến rống rãi
trong toàn bộ các tầng lớp nhân dân. Đó là một quá trình chuẩn bị công phu và kĩ lưỡng dựa
trên những cơ sở lý luận đúng đắn kết hợp với những kinh nghiệm thực tiến có được trong
giai đoạn 1986-1990 tiến tới Đại hội VII.
9
Chương II:
quá trình quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều khuyết điểm và các biện pháp khắc
phục trước tình hình thế giới.
Từ kết qủa nghiên cứu lí luận và tổng kết thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội đồng thời cũng
nêu ra những đặc trưng cơ bản nhất của Xã hội Chủ nghĩa ở nước ta. Đó là một xã hội:
“ - Do nhân dân lao động làm chủ
- Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công
hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
- Có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
10
- Con người được giải phóng hoàn toàn khỏi áp bức bóc lột bất công, làm theo năng
lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển
toàn diện.
- Các dân tộc trong nước bình đẳng đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
- Có quan hệ hữu hảo hợp tác với tất cả các nước trên thế giới.”
Ngoài ra cương lĩnh cũng cho rằng “Để thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh theo
con đường Xã hội Chủ nghĩa, điều quan trọng nhất là phải cải biến căn bản tình trạng kinh tế
xã hội kém phát triển, chiến thắng những lực lượng cản trở việc thực hiện mục tiêu đó, trước
hết là các thế lực thù địch chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.”
Đại hội VII của Đảng đã thông qua chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm
2000. Mục tiêu tổng quát năm 2000 là “ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế xã
hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống nhân dân,
củng cố quốc phòng an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ
21. Đề ra chiến lược về vấn đề cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý và các cơ sở lớn, xây dựng
những chỉ tiêu dựa trên những căn cứ vào kinh nghiệm thực tiễn của từng lĩnh vực.
Sau Đại hội VII, sự tan rã của Liên Xô tác động sâu sắc đến nước ta. Một số Đảng
viên cùng nhân dân đã hoài nghi về tiền đồ của chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh đó, nước ta còn bị
các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá gây mất ổn định và bạo loạn. Nước ta
một lần nữa rơi vào tình trạng hiểm nghèo.
Trước tình hình đó, Trung ương Đảng tổ chức động viên toàn dân và toàn quân tăng
cường đoàn kết, nêu cao ý chí tự lực - tự cường, độc lập - sáng tạo, vượt qua thách thức, tiếp
mặt trận dân tộc thống nhất như tinh thân của Đại hội VII đã đề ra. Đại đoàn kết đan tộc là là
đoàn kêt những người trong một đại gia dình các dân tộc Việt Nam bao gồm mọi tầng lớp,
giai cấp, tôn giáo, dân tộc,nhằm giữ vững và bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia,
đồng thời cũng là điều kiện tiên quyết để đưa nước ta ra khỏi thời kì lạc hậu tiến lên “dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”.
III. Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 1991-1995
Từ 1992, vượt qua những thử thách, công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo tiếp tục
phát triển toàn diện, vững chắc. Giá trị sản lượng công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ tăng
khá nhanh. Lạm phát năm 1992 là 17,5%, giảm xuống một cách nhanh chóng xuống còn
5,2% năm 1993. Tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này đạt bình quân 7,2%. Tốc độ tăng
trưởng công-nông nghiệp cao. Tính tới năm 1993, nước ta đã hoàn thành các chỉ tiêu về kinh
tế xã hội, bảo đảm các yêu cầu về quốc phòng và an ninh. Đồng thời cũng mở rộng quan hệ
đối ngoại.
Đặc biệt trong những năm 1991-1995, nhờ việc thực hiện cương lĩnh, chiến lược phát
triển kinh tế và những mục tiêu cụ thể do đại hội VII đề ra, công cuộc đổi mới đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng. Tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 8,2% (kế hoạch là 5,5-
6,2%). Tỷ trọng, sản lượng công nghiệp tăng cao. Sản xuất nông nghiệp không chỉ đáp ứng
đủ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu hàng năm 2 triệu tấn. Lạm phát giảm từ 67,4% năm
1991 xuống còn 12,7% năm 1995. Đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; trình độ dân trí
tăng lên, sự nghiệp giáo dục và đào tạo có những chuyển biến tích cực. An ninh, chính trị,
quốc phòng được củng cố và đảm bảo vững chắc; công tác củng cố và xây dựng Đảng đạt
được nhiều thành tựu lớn. Về mặt đối ngoại, nước ta đã khôi phục và mở rộng quan hệ hợp
tác với Trung Quốc về nhiều mặt; tăng cường quan hệ láng giềng hữu nghị vốn có với Lào,
Campuchia; trở thành thành viên ASEAN; củng cố quan hệ với Nga và các nước Đông Âu;
bình thường hóa quan hệ với Mỹ.
12
Chương III:
TỔNG KẾT 10 NĂM ĐỔI MỚI – ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VIII
CỦA ĐẢNG
I. Tổng kết 10 năm đổi mới – định hướng cho giai đoạn tiếp theo:
vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Tăng trưởng nhanh
vè kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữ gìn và phát huy
bản sắc dân tộc; bảo vệ môi trường sinh thái.
4. Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; phát huy sức mạnh dân tộc.
5. Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ va giúp đỡ của nhân dân thế
giới; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.
6. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ, là công tác
then chốt
13
Ngoài ra Đảng còn xác định “Mục tiêu của công nghiệp hóa hiện đại hóa là xây dựng
có sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân cao, quốc
phòng và an ninh vững chắc; dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Từ nay tới năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp”
Đảng chủ trương phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ; nang cao quy mô,chất lượng
của công tác giáo dục – đào tạo, đưa chúng lên làm những quốc sách hàng đầu trong sự
nghiệp đổi mới tư duy, nhân lực.
II. Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 1996-2000
Từ giữa năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ ở châu Á nổ ra, đe dọa gây
nên những ảnh hưởng xấu tới kinh tế – xã hội nước ta; điều đó buộc Đáng và nhà nước phải
đề ra những chính sách kịp thời để ngăn chặn, ổn định nền kinh tế trong giai đoạn khủng
hoảng trầm trọng này. Chính vì thế mà ngay trong thời kì khủng hoảng trầm trọng này, công
cuộc cải cách vẫn đạt được những thành tựu đáng kể.
Kinh tế tăng trưởng khá; GDP tăng bình quân 6,94%/năm. Nông nghiệp tăng trưởng
liên tục, sản lượng lương thực năm sau cao hơn năm trước một triệu tấn; công nghiệp tăng
trưởng đều 13,5%/năm về giá trị sản xuất; bộ phận kinh tế dịch vụ khởi sắc, dần chiếm tỷ
trọng cao trong cơ cấu kinh tế… nhìn chung, tới năm 2000, đã chặn được đà giảm sút mức
tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu đề ra đều đạt hoặc vượt mức kế hoạch đề ra. Cơ sở hạ tầng
có nhiều sự đổi thay đáng kể, góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế.
cũng gặp không ít những khó khăn, nguy hiểm. Đay là thời kỳ có khả năng duy trì, ổn định
nền hòa bình hiện tại trên thế giới cũng như trong nước, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển kinh tế, nâng cao đời sống xã hội. Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã và đang
diễn ra mạnh mẽ trên thế giới tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hóa
hiện đại hóa ở nước ta hướng tới mộ nền kinh tế hiện đại. Song đây cũng là thời kỳ gia tăng
những nguy cơ khó lường từ các thế lực thù địch, các âm mưu diễn biến hòa bình khó đề
phòng.
I. Đánh giá 15 năm đổi mới và thực hiện nghị quyết đại hội VIII
Đánh giá giai đoạn 15 năm phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhà nước và nhân
dân ta dã đạt được không ít những thành tựu quan trọng.
Cơ sở vật chất – kỹ thuật Xã hội Chủ nghĩa được tăng cường. Đất nước còn nhiều tiềm năng
về tài nguyên, con người đã và đang được khai thác có hiệu quả. Điều kiện thế giới hòa bình
cùng với xu thế hợp tác, đối thoại hơn đối đầu tạo điều kiện cho nước ta tranh thủ ngoại lực
củng cố nội lực, làm đà vươn xa cho nền kinh tế.
Bên cạnh đó vẫn còn tại những khó khăn nghiêm trọng. Đó là sự tụt hậu của Việt Nam
so với nhiều quốc gia và vùng lãnh thỏ trên thế giới cũng như trong khu vực. Sự sai lệch
trong định hướng Xã hội Chủ nghĩa; tệ nạn tham nhũng, quan liêu có chiều hướng gia tăng
đáng báo động và ngày một nghiêm trọng hơn. Các âm mưu diễn biến hòa bình ngày càng
khó đề phòng.
Tất cả đều đã được chỉ ra trong nghi quyết đại hội VIII (1994), cho thấy tàm nhìn
chiến lược và khả năng dự báo tình hình đã được nâng lên một bước.
Trong những khó khăn đã nêu trên, Đảng đã nhận định:
“Tình trạng tham những và và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, lối sống của một bộ
phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương và
chính sách của Đảng; gây bất bình, làm giảm lòng tin của nhân dân; nước ta vẫn là nước kinh
tế kém phát triển, mức sống nhân dân còn thấp, trong khi đó cuộc cạnh tranh quốc tế ngày
càng quyết liệt, nếu chúng ta không nhanh chón vươn lên thì sẽ càng tụt hậu xa hơn về kinh
tế.”
(Trích: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại bieru toàn quốc lần thứ IX; NXB
CTQG; H; 2001; tr.67)
kém phát triển; nang cao rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Nâng cao nguồn
lực con người về cả phẩm chất lẫn tình độ; nâng cao năng lực khoa học – công nghệ; nâng
cao cơ sở hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng; thể chế kinh tế kinh tế thị trường có sự chi
phối của nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của
Việt Nam trên trường quóc tế được nâng cao.
Trên cơ sơ đó; đại hội đã đưa ra mục tieu cụ thể là:
Đưa GDP năm 2010 gấp đôi năm 2001; ổn định và nâng cao tiềm lực kinh tế của Việt
Nam; ổn định nền kinh tế vĩ mô, phát triển ngoại thương, giảm lạm phát…
Đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng tỷ trọng của khối ngành công nghiệp dịch vụ; tiến tới
giảm dần tỷ trọng nông nghiệp; cân đối tỷ lệ lao động giữa các ngành vùng một cách hợp lý.
Nâng cao chỉ số phát triển con người của nước ta: giảm tỷ lệ sinh xuống 1,1%; xóa đói
giảm nghèo đi đôi với phát triển kinh tế nông thôn; giai quyết, cân đối vấn đề việc làm; phổ
cập giáo dục trong toàn quốc, chống mù chữ.
Tiếp thu và vận dụng hiệu quả khoa học công nghệ vào đời sống.
Không ngừng đổi mới, củng cố kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật, quốc phòng an ninh.
Nâng cao vai trò chủ đạo của nhà nước trong nền kinh tế. Phát triển nhanh phải đi đôi với
công bằng và tiến bộ xã hội; đồng thời cũng phải gắn bó chặt chẽ với quốc phòng an ninh.
III. Những thành tựu đã đạt được trong gia đoạn 2001-2005
17
Thứ nhất, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao, năm sau cao hơn năm
trước. GDP tăng 7,5%/ năm, đạt mục tiêu đề ra; năm 2005 là năm thứ 25 tăng liên tục, cao
hơn kỷ lục 23 năm do Hàn Quốc đạt được vào năm 1997 và chỉ thấp thua kỷ lục 27 năm
hiện do CHND Trung Hoa nắm giữ. Ngành nông nghiệp tiếp tục đạt được sự thần kỳ khi chỉ
sau mươi năm sản lượng lương thực đã tăng gấp đôi, đã tạo ra sản lượng tương đương với
sản lượng của hai châu thổ lớn nhất nước mà ông cha ta phải mất hàng nghìn năm mới tạo ra
được. Công nghiệp 15 năm liên tục tăng trưởng hai chữ số - một tốc độ tăng cao, tăng liên
tục, tăng trong thời gian dài mà các thời kỳ trước đó chưa bao giờ đạt được. Dịch vụ đã chặn
lại được sự sút giảm tỷ trọng trong GDP, bắt đầu từ năm 2005 đã tăng lên.
GDP bình quân đầu người năm 2005 tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái đã đạt 638
USD, vượt khá xa so với mức 288 USD của năm 1995 và 402 USD của năm 2000; tính theo
2 lần dịch cúm, mấy năm thiên tai lớn , ở ngoài nước thì liên tiếp gặp các hàng rào kỹ thuật,
nhất là các vụ kiện bán phá giá mỗi khi quy mô xuất khẩu tăng lên Trong khi đó, điểm
18
xuất phát của nền kinh tế còn thấp, hiệu quả và sức cạnh tranh còn yếu, lại thêm có một bộ
phận cán bộ hư hỏng. Đây cũng là những lý do làm cho tăng trưởng kinh tế còn ở dưới mức
tiềm năng
Tất cả đã minh chứng cho đường lối đổi mới đúng dắn của đất nước ta dưới sự lãnh đạo sáng
suốt của Đảng; vững bước tiến lên trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
19
CHƯƠNG V
PHƯƠNG HƯỚNG , NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TỂ - XÃ HỘI TRONG ĐẠI
ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ X CỦA ĐẢNG
I. Mục tiêu, nhiệm vụ và chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010
1. Mục tiêu tổng quát
Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao
hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát
triển. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân. Tạo được nền
tảng để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, đưa nước ta cơ
bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Giữ vững ổn định
chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và
an ninh quốc gia. Nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
2. Các nhiệm vụ chủ yếu
− Giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát huy mọi tiềm năng và
nguồn lực, tạo bước đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, sớm
đưa nước ta ra khỏi tình trạng của nước đang phát triển có thu nhập thấp
− Chuyển mạnh sang kinh tế thị trường, thực hiện các nguyên tắc của thị trường, hình
thành đồng bộ các loại thị trường và hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa phù hợp với đặc điểm của nước ta.
− Tích cực, chủ động đẩy nhanh hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại
Năm 2010, tốc độ phát triển dân số khoảng 1,14%/năm.
Lao động nông nghiệp năm 2010 chiếm dưới 50% lao động xã hội.
Tạo việc làm cho 8 triệu lao động; tỉ lệ thất nghiệp thành thị dưới 5%.
Tỉ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) giảm xuống còn 10 - 11% vào năm 2010
Năm 2010, hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; giáo dục đại học và cao đẳng đạt
200 sinh viên /10.000 dân; lao động đã qua đào tạo chiếm 40% tổng lao động xã hội.
Tỉ lệ bác sĩ đạt 7 người/10.000 dân.
Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam năm 2010 đạt 72 tuổi.
Tỉ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi là 16%o; tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm
xuống dưới 20%; tỉ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản dưới 60/100.000 trẻ đẻ sống.
c) Về môi trường
Đưa tỉ lệ che phủ rừng vào năm 2010 lên 42 – 43%.
Năm 2010, 95% dân cư thành thị và 75% dân cư ở nông thôn được sử dụng nước sạch.
Năm 2010, 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được
trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 50% các cơ sở sản xuất, kinh doanh
đạt tiêu chuẩn về môi trường; 100% số đô thị loại 3 trở lên, 50% số đô thị loại 4 và tất cả
các khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải; 80 - 90% chất thải rắn,
100% chất thải y tế được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường.
II. Định hướng phát triển ngàynh , lĩnh vực và vùng
1. Về kinh tế
− Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn
− Phát triển nhanh hơn công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng cao chất lượng, sức
cạnh tranh và hiện đại hoá
21
− Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội theo hướng hiện đại
− Tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ
− Tạo bước ngoặt về hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại
2. Về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ:
− Tạo được chuyển biến cơ bản về phát triển giáo dục và đào tạo
− Phát triển mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ
Có chính sách trợ giúp nhiều hơn về nguồn lực để phát triển các vùng khó khăn, nhất là các
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bổ sung chính sách,
khuyến khích các thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư, kinh
doanh tại các vùng khó khăn.
Phát triển mạnh kinh tế biển vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm với những ngành
có lợi thế so sánh để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển gắn với bảo đảm
quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế. Hoàn chỉnh quy hoạch và phát triển có hiệu quả hệ
thống cảng biển và vận tải biển, khai thác và chế biến dầu khí, khai thác và chế biến hải sản,
phát triển du lịch biển, đảo; đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp đóng tàu và phát triển
các công nghiệp, dịch vụ bổ trợ. Hình thành một số hành lang kinh tế ven biển. Nhanh
chóng phát triển kinh tế - xã hội ở các hải đảo gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Tập trung xây dựng và phát huy vai trò của thành phố Hà Nội là trung tâm kinh tế lớn đặc
biệt của phía Bắc và cả nước; xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm lớn về
tài chính, ngân hàng, viễn thông, công nghiệp công nghệ cao, thương mại, du lịch, đào tạo,
y tế chất lượng cao của phía Nam và cả nước; tiếp tục đầu tư xây dựng để phát huy vai trò
quan trọng của các thành phố biển Hải Phòng, Đà Nẵng; phát huy lợi thế là cố đô và di sản
văn hoá thế giới để phát triển thành phố Huế thành một trung tâm lớn về du lịch và dịch vụ;
xây dựng thành phố Cần Thơ sớm trở thành trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
6. Về kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh
Kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh theo phương châm: phát triển kinh tế - xã
hội là nền tảng để bảo vệ Tổ quốc; ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh vững
mạnh là điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện tốt đường lối đối ngoại, tăng
cường hợp tác quốc tế, tranh thủ mọi cơ hội củng cố hoà bình, ổn định để đẩy mạnh phát
triển kinh tế - xã hội và giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đặc biệt là vùng biển, đảo.
Bố trí thế trận quốc phòng, an ninh phù hợp với tình hình mới và kết hợp chặt chẽ với phát
triển kinh tế - xã hội. Phát huy các nguồn lực, lồng ghép các chương trình, các dự án để xây
dựng các khu kinh tế - quốc phòng ở vùng biên giới, hải đảo
Tiếp tục sắp xếp lại và nâng cao khả năng bảo đảm của công nghiệp quốc phòng; tập trung
đầu tư vào những khâu đặc thù phục vụ quốc phòng, an ninh mà công nghiệp dân sinh
không có khả năng bảo đảm.
cao. Cuối năm 2006, Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO. Và vào ngày 17/10/2007,
Việt Nam lần đầu tiên trở thành thành viên của Hội đồng Bảo an (HĐBA) Liên hiệp Quốc,
sau 30 năm kể từ khi được kết nạp vào tổ chức toàn cầu này (20.9.1977). Có được những
bước tiến thần kì ấy là nhưof có sựu lãnh đạo đúng đắn của Đảng và nhà nước trong thời kì
đổi mới; đưa kinh tế – xã hội Việt Nam tiến lên, khởi sắc. Đảng Cộng sản Việt Nam ngày
càng chứng tỏ vai trò lãnh đạo, tiên phong của mình trong vai trò của một Đảng cầm quyền.
Tuy nhiên, bên cạnh những điều đã đạt được, công tác xây dựng và tổ chức Đảng phải đảm
bảo cho vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng phải thể hiện rõ dân chủ hoá, phát huy sáng tạo
đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân. Qua đó vận dụng một cách khéo léo và hợp lý chủ
nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng hồ chí minh vào thực tiễn. Qua đó, tiếp tục lãnh đạo nhân dân
ta tiến bước đi lên trong thời kì đổi mới.
25