TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
***************
VŨ THỊ LOAN
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TRONG VIỆC XÂY DỰNG HẬU PHƢƠNG MIỀN BẮC
THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM
LƢỢC (1954 – 1975)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Lê Trung Nghĩa
HÀ NỘI – 2012
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện khóa luận cũng như học tập tại trường, em đã
nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy cô giáo trong khoa
Giáo dục chính trị, nhất là của các thầy cô giáo trong tổ Đường lối cách mạng của
Đảng Cộng Sản Việt Nam, cùng với sự động viên khích lệ của gia đình và các bạn
sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này.
Đặc biệt em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo – giảng viên
Lê Trung Nghĩa, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do điều kiện hạn hẹp về thời gian và
: Chủ nghĩa xã hội
HN
: Hà Nội
HTX
: Hợp tác xã
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. ..................................................................................................Lý
do
chọn đề tài .......................................................................................... 1
2. ..................................................................................................Lịch sử
nghiên cứu vấn đề .............................................................................. 3
3. ..................................................................................................Mục
đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu .............................................. 3
4. ..................................................................................................Nguồn
tư liệu và phương pháp nghiên cứu .................................................. 4
5. ..................................................................................................Bố cục
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đã hơn ba mươi năm trôi qua, nhưng đại thắng mùa Xuân năm 1975 vẫn còn
in đậm trong tâm trí và là niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam. Đó cũng là
niềm tự hào của những người có lương tri và yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Đánh giá về ý nghĩa lịch sử to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đại
hội IV của Đảng khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân
ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử
dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự
toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử
Thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng
quốc tế to lớn và có tính chất thời đại sâu sắc” [5, tr.471]. Để làm nên thắng lợi vĩ
đại đó thì phải kể đến một nhân tố có vai trò hết sức quan trọng là hậu phương của
cuộc chiến tranh. Hậu phương là nơi xây dựng và dự trữ tiềm lực của chiến tranh cả
về chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa, khoa học kĩ thuật. Là nơi chi viện chủ yếu
sức người, sức của cho tiền tuyến, là chỗ dựa tinh thần của tiền tuyến. Muốn đánh
thắng địch ở tiền tuyến thì phải có hậu phương vững mạnh về mọi mặt. Việc xây
dựng hậu phương là một vấn đề có tính chất chiến lược và quyết định sống còn đối
với thắng lợi của toàn bộ cuộc chiến. Đó là qui luật của các loại chiến tranh từ xưa
đến nay.
Tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về chiến tranh cách mạng, xây
dựng lực lượng vũ trang cách mạng, kế thừa những kinh nghiệm quý báu của dân
tộc, Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng nhiệm vụ xây dựng hậu
phương, coi đó là một trong những nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của
1
chiến tranh giải phóng dân tộc. Đảng đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của
việc xây dựng hậu phương căn cứ địa kháng chiến, coi đó là một chiến lược của
nghiên cứu chung về hậu phương trong chiến tranh cụ thể như: “Tầm quan trọng
của hậu phương trong chiến tranh cách mạng” của V.I.Lênin – Xtalin, Nxb Quân
đội nhân dân, Hà nội, 1970; “Hậu phương trong chiến tranh nhân dân Việt Nam
(1945 – 1975) của GS.PTS Hoàng Phương (chủ biên);.… Ngoài ra còn rất nhiều
bài báo, tạp chí nói về hậu phương trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược,
cụ thể như: bài viết của PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc về “Sự chi viện của miền Bắc
đối với miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” đăng trên tạp chí Lịch
Sử Đảng (tháng 4/2005) của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; tác giả
Phùng Hữu Phú đã “Nghiên cứu vai trò miền Bắc trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu
nước” đăng trên tạp chí Lịch Sử Đảng số 4 (1988) của Viện Mác – Lênin, Viện
Lịch Sử Đảng.
Có thể nói rằng, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một
cách hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng hậu phương miền Bắc
trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954 – 1975).
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong việc xây dựng hậu
phương miền Bắc trên tất cả các mặt: chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội.
Trên cơ sở đó thấy được tầm quan trọng của hậu phương trong chiến tranh
cách mạng. Đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng hậu
phương.
3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích những điều kiện, hoàn cảnh của miền Bắc để Đảng Cộng Sản Việt
Nam quyết định xây dựng hậu phương miền Bắc trở thành hậu phương lớn trong
kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Nêu lên đường lối chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong việc xây
Trong chiến tranh bên nào có sức mạnh áp đảo thì bên đó giành thắng lợi.
Sức mạnh trong chiến tranh được tạo nên từ một hậu phương vững vàng. Hậu
phương chính là nơi cung cấp sức mạnh cho tiền tuyến.
Theo quan điểm của Lênin: “Hậu phương là nơi đối xứng với tiền tuyến, có
sự phân biệt rạch ròi bằng yếu tố không gian là lãnh thổ ngoài vùng chiến sự phía
sau chiến tuyến có dân cư và tiềm lực mọi mặt nhất là về nhân lực, vật lực. Là nơi
xây dựng và huy động sức người, sức của đáp ứng nhu cầu của lực lượng vũ trang
ngoài tiền tuyến” [18, tr.231].
Lênin cho rằng: “Trong chiến tranh ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn ai có
nhiều nguồn lực, ai kiên trì đi sâu vào quần chúng nhân dân thì người đó thu được
thắng lợi…và muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự phải có một hậu
phương có tổ chức vững chắc, một quân đội giỏi nhất, những người trung thành
nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều lập tức bị kẻ thù tiêu diệt nếu không được
vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ” [21, tr.497].
Đánh giá về vai trò của hậu phương Ănghen viết: “Toàn bộ việc tổ chức và
phương thức chiến đấu của quân đội và do đó thắng lợi, thất bại đều tỏ ra là phụ
thuộc vào những điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế, vật chất của con
người và những vũ khí, nghĩa là vào chất lượng và số lượng của dân cư và của cả
kĩ thuật” [20, tr.84].
5
Xtalin cho rằng: “Lịch sử chiến tranh dạy rằng chỉ có những nước nào mạnh
hơn đối phương nước mình về mặt phát triển, tổ chức kinh tế, về kinh nghiệm tài
nghệ và tinh thần chiến đấu của quân đội về tinh thần kiên cường và đồng chí nhân
dân trong suốt quá trình chiến tranh thì mới chịu được sự thử thách đó” [23,
tr.113].
Hồ Chí Minh khẳng định: “Khi có chiến tranh phải huy động tất cả lực
lượng trong nước để chống giặc” [9, tr.473].
của lực lượng vũ trang, sức mạnh của lực lượng vũ trang quyết định hoạt động của
tiền tuyến, hoạt động của tiền tuyến quyết định đến kết cục của chiến tranh.
Thứ hai, hậu phương là nguồn lực của tiền tuyến. Ngoài vật chất thông
thường, chiến tranh còn cần đến nhân lực. Nhân lực của hậu phương thế nào thì
nhân lực quốc phòng như vậy; nhân lực quốc phòng thế nào thì sức mạnh của lực
lượng vũ trang như vậy; sức mạnh của lực lượng vũ trang thế nào thì hoạt động ở
tiền tuyến như vậy; hoạt động của tiền tuyến thế nào thì kết cục của chiến tranh như
vậy.
Thứ ba, hậu phương cũng chính là nguồn sức mạnh tinh thần của tiền tuyến.
Chiến tranh là cuộc đọ sức toàn diện trước hết là về ý chí tinh thần, sức mạnh chiến
đấu của quân đội ở tiền tuyến phụ thuộc rất nhiều vào ý chí, tinh thần của họ. Lênin
cho rằng: “Chiến tranh phụ thuộc vào tâm trạng của quần chúng đang đổ máu trên
chiến trường”. Song tâm trạng ấy không tách rời hậu phương. Lực lượng chiến đấu
ở tiền tuyến là một bộ phận có quan hệ chặt chẽ với dân cư hậu phương nên sức
mạnh chính trị, tinh thần của người lính ở tiền tuyến một phần do sức mạnh, ý chí
tinh thần của hậu phương quyết định. Nghĩa là: Sức mạnh chính trị, tinh thần của
hậu phương quyết định sức mạnh chính trị, tinh thần của quân đội, sức mạnh tinh
7
thần của quân đội quyết định tới sức mạnh của quân đội; sức mạnh của quân đội
quyết định đến sức mạnh của tiền tuyến; sức mạnh của tiền tuyến quyết định đến
kết cục của chiến tranh.
Thứ tư, hậu phương luôn đứng về tiền tuyến đảm bảo cho tiền tuyến chiến
thắng. Tiền tuyến có thể thiếu về vật chất song không thể thiếu về sự động viên tinh
thần, sự nhất trí về chính trị tinh thần, bản lĩnh trí tuệ của hậu phương.
Thứ năm, hậu phương là địa bàn đứng chân, là cơ sở lãnh đạo, tổ chức của
tiền tuyến. Để hoạt động của tiền tuyến có phương hướng đúng, tinh thần cao, phải
có đường lối chiến tranh, đường lối quân sự đúng đắn, có sự phối hợp chặt chẽ giữa
23/10/1955 họ tổ chức trưng cầu dân ý để phế truất Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm
lên làm tổng thống.
Miền Bắc đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và đi vào xây
dựng CNXH. Song hậu quả của chiến tranh hết sức nặng nề trong tất cả mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội.
Năm 1954, giá trị tổng sản lượng công nghiệp chỉ chiếm 1,5% giá trị tổng
sản lượng công nông nghiệp. Kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu, song sản
xuất nông nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn. Nông nghiệp vốn lạc hậu lại bị tàn phá
nặng nề bởi chiến tranh. Thiếu sức kéo, máy móc, công cụ, đê điều hư hại nhiều, kĩ
thuật canh tác lại lạc hậu. Ruộng đất bị bỏ hoang bởi số lượng đồng bào công giáo
di cư vào Nam.
Các tệ nạn xã hội, tàn dư của chế độ phong kiến, đế quốc chưa được xóa bỏ.
Trình độ dân trí thấp, nạn mù chữ còn phổ biến. Hệ thống y tế lạc hậu. Năm 1955, ở
miền Bắc mới có 78 cơ sở điều trị với 115 bác sĩ, 3.786 y sĩ và y tá.
9
Miền Bắc đang đứng trước những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt
qua. Trong khi đó, ở miền Nam, Mỹ dốc sức, huy động phương tiện cho chiến
tranh, thi hành luật 10/59, thẳng tay đàn áp những người cộng sản và người dân yêu
nước.
Đứng trước tình hình cách mạng miền Nam như vậy, miền Bắc đã vừa xây
dựng CNXH, vừa tích cực chi viện, ủng hộ cho cách mạng miền Nam trong suốt 21
năm đánh Mỹ. Đây cũng là nét đặc thù của cách mạng miền Bắc trong suốt cuộc
kháng chiến chống Mỹ, mà giai đoạn này là những bước đi đầu tiên.
Từ đặc điểm đặc biệt này, nhằm phục vụ cho mục tiêu chung của cách mạng
cả nước và mục tiêu cụ thể của từng miền trong mỗi giai đoạn kháng chiến, phục
vụ trực tiếp cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, Đảng xác
định: “Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thời kì này (1954- 1975),
hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương chiến lược, căn cứ địa cách mạng
- chỗ dựa vững chắc cho tiền tuyến miền Nam là nhân tố hết sức quan trọng. Nó có
ảnh hưởng trực tiếp đến thành - bại của cuộc kháng chiến. Đề cập đến mối quan hệ
giữa cách mạng hai miền, đồng chí Lê Duẩn khái quát: “Nếu không xây dựng
CNXH ở miền Bắc thì không thể đánh thắng Mỹ ở miền Nam. Ngược lại, nếu
không đánh Mỹ ở miền Nam thì cũng không thể xây dựng được CNXH ở miền
Bắc”. Trong suốt cuộc kháng chiến, nhân dân ta vừa đẩy mạnh các hoạt động đấu
tranh với Mỹ, Ngụy ở miền Nam, vừa từng bước xây dựng CNXH ở miền Bắc.
Đảng đặc biệt quan tâm chỉ đạo xây dựng củng cố hậu phương căn cứ địa cách
11
mạng, tạo chỗ dựa vững chắc, tạo nguồn sức mạnh to lớn, cung cấp kịp thời sức
người, sức của cho miền Nam đánh Mỹ. Ngay sau khi miền Bắc được giải phóng,
đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ, nhận thức rõ vai trò của miền
Bắc trong đấu tranh thống nhất đất nước, Đảng quyết định đưa miền Bắc đi lên xây
dựng CNXH. Đây là chủ trương đúng đắn, là cơ sở quan trọng đầu tiên cho xây
dựng căn cứ địa cách mạng, hậu phương vững chắc của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước.
Đảng đã xác định miền Bắc là hậu phương lớn và miền Nam là tiền tuyến
lớn. Miền Bắc tiến lên CNXH, thực hiện cải tạo CNXH và bước đầu phát triển kinh
tế, xã hội, làm cơ sở tiền đề vững chắc cho cách mạng miền Nam phát triển. Hậu
phương lớn miền Bắc, có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của cách
mạng cả nước, đối với sự nghiệp thống nhất đất nước. Vì thế, cách mạng miền Bắc
phải có mối quan hệ gắn bó, phối hợp với cách mạng miền Nam tạo điều kiện cho
nhau phát triển. Thắng lợi giành được ở mỗi miền là thắng lợi chung cho cách
mạng hai miền.
sách kinh tế - tài chính, trong công tác sản xuất và tiết kiệm”. Chúng ta cần chấp
hành với một tinh thần hết sức tích cực nghị quyết của Trung ương, ra sức xây
dựng và củng cố miền Bắc về mọi mặt.
Tại Hội nghị lần thứ mười ba (12- 1957), Ban Chấp hành Trung ương Đảng
đã đánh giá thắng lợi về khôi phục kinh tế và đề ra nhiệm vụ soạn thảo đường lối
cách mạng trong giai đoạn mới. Đến tháng 11- 1958, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng họp Hội nghị lần thứ mười bốn đề ra kế hoạch ba năm phát triển kinh tế văn hóa và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư
doanh (1958- 1960).
13
Tháng 4- 1959, Hội nghị lần thứ mười sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(Khóa II) thông qua hai nghị quyết quan trọng: Nghị quyết về vấn đề hợp tác hóa
nông nghiệp và Nghị quyết về vấn đề cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh.
Chủ trương đưa miền Bắc lên CNXH đã tạo nên những chuyển biến cách
mạng trong nền kinh tế và xã hội ở miền Bắc nước ta. Miền Bắc được củng cố,
từng bước đi lên CNXH, trở thành hậu phương ổn định, vững mạnh đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Trên cơ sở đó thì Đảng cũng chủ trương tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Tháng 1- 1959, Hội nghị lần thứ mười lăm (Khóa II) của Ban Chấp hành
Trung ương họp ở Hà Nội. Nghị quyết 15 xác định: Cách mạng Việt Nam lúc này
có hai nhiệm vụ chiến lược song song tiến hành: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai cuộc cách mạng có quan hệ
hữu cơ với nhau. Ngoài ra, Hội nghị lần thứ mười lăm của Trung ương Đảng còn
khẳng định phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách
mạng và giao cho quân đội chủ động mọi mặt, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu phát triển
của cuộc chiến tranh cứu nước; phát huy vai trò của miền Bắc đối với miền Nam.
Từ đó, cùng với việc xây dựng quân đội cách mạng chính quy, từng bước hiện đại
• Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
• Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay
sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
+ Mục tiêu chiến lược: "Nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và nhiệm vụ cách
mạng ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết
yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt. Hai nhiệm
15
vụ đó lại nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước giữa nhân dân ta với đế
quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng, thực hiện mục tiêu chung trước mắt là hoà bình
thống nhất Tổ quốc".
+ Mối quan hệ của cách mạng hai miền: Do cùng thực hiện một mục tiêu
chung nên "Hai nhiệm vụ chiến lược ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác
dụng thúc đẩy lẫn nhau".
+ Vị trí, tác dụng:
• Cách mạng XHCN ở miền Bắc có nhiệm vụ xây dựng tiềm lực và bảo vệ
căn cứ địa của cả nước, hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam, chuẩn bị cho cả nước
đi lên CNXH về sau, nên giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn
bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất cả nước.
• Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định
trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ
và bọn tay sai, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
+ Con đường thống nhất đất nước: Trong khi tiến hành đồng thời hai chiến
lược cách mạng, Đảng kiên trì con đường hoà bình thống nhất theo tinh thần Hiệp
định Giơnevơ, sẵn sàng thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử hoà bình thống nhất
Việt Nam, vì đó là con đường tránh được sự hao tổn xương máu cho dân tộc ta và
phù hợp với xu hướng chung của thế giới. "Nhưng chúng ta phải luôn luôn nâng
quan chính quyền đều được kiện toàn một bước để đảm đương nhiệm vụ xây dựng
miền Bắc. Tính giai cấp, tính nhân dân của Nhà nước được khẳng định mạnh mẽ,
nhằm củng cố hơn nữa nền tảng liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh
đạo. Các thiết chế dân chủ cũng được xây dựng, hoàn thiện hơn, nhằm đảm bảo cho
18