Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam sau thời kỳ đổi mới - Pdf 36

TIẾP TỤC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA
1.

Hoàn cảnh lịch sử

Vào những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 20 lịch sử thế giới đã có
những sự biến động mạnh mẽ. Một trong số đó là sự khủng hoảng trầm trọng của
khối xã hội chủ nghĩa, đứng đấu là Liên Xô. Là một nước xã hội chủ nghĩa lại
vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh kéo dài, Việt Nam không thể tránh khỏi ảnh
hưởng tiêu cực từ những bất ổn trong tình hình thế giới. Đất nước ta lâm vào
tình trạng khủng hoảng trầm trọng trước hết là trong lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, cũng trong giai đoạn này, Đảng và Nhà Nước ta đã nhận ra và
quyết định khắc phục những khiếm khuyết, sửa chữa những sai lầm tại đại hội
đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986). Tại đại hội này, Đảng và Nhà nước
ta đã quyết định chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong đó, thể chế kinh tế thị trường được định nghĩa: “là một tổng thể bao
gồm các bộ quy tắc, luật lệ và hệ thống các thực thể, tổ chức kinh tế được tạo lập
nhằm điều chỉnh hoạt động giao dịch, trao đổi trên thị trường”. “Kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của
kinh tế thị trường, vừa chịu sự chi phối của các yếu tố đảm bảo tính định hướng
xã hội chủ nghĩa”.
Đường lối đổi mới này đã được điều chỉnh, bổ sung trong các kỳ đại hội
Đảng tiếp theo: đại hội VII(1991), đại hội VIII(1996), đại hội IX(2000), đại hội
X(2005), đại hội XI(2011) với tên gọi “tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
2.

Mục tiêu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa.

trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân trong quản
lý, phát triển kinh tế - xã hội.
3.

Quan điểm về hoàn thiện thể chế

Nhận thức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan
của kinh tế thị trường, thông lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam,
bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế.
Bảo đảm tính đồng bộ giữa các bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế, giữa
các yếu tố thị trường và các loại thị trường; giữa thể chế kinh tế với thể chế
chính trị, xã hội; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Gắn kết hài hòa giữa tăng
trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi
trường.

2


Kế thừa có chọn lọc thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loài và
kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn đổi mới ở nước ta, chủ động và tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, giữ vững
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Chủ động, tích cực giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng, bức
xúc, đồng thời phải có bước đi vững chắc, vừa làm vừa tổng kết, rút kinh
nghiệm.
Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà
nước, phát huy sức mạnh cá hệ thống chính trị trong quá trình hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
4.


kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội trông từng bước, từng chính sách phát
triển.
4.3. Hoàn thiện thể chế đảm bảo đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển
đồng bộ các loại thị trường
Hoàn thiện thể chế về giá, cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh
doanh.
Hoàn thiện khung pháp lí cho việc kí kết và thực hiện hợp đồng.
Hoàn thiện cơ chế giám sát, điều tiết thị trường và và xúc tiến thương mại,
đầu tư và giải quyết tranh chấp phù hợp với kinh tế thị trường và cam kết quốc
tế.
4.4. Hoàn thiện thể chế gắn chặt tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa,
thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát
triển và bảo vệ môi trường
Thực hiện chính sách khuyến khích làm giàu đi đôi với tích cực giảm
nghèo.
Xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa dạng, linh hoạt, phát triển đa dạng
các hình thức thiện nguyện, nhân đạo.
Hoàn thiện luật pháp, chính sách về bảo vệ môi trường.
4.5. Hoàn thiện thể chế vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lí Nhà nước và tham
gia của các tổ chức quần chúng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Đổi mới và nâng cao vai trò, hiệu quả quản lý kinh tế của nhà nước.
Khẳng định vai trò của các tổ chức dân cử, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã
hội và nhân dân trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy vậy, qua mỗi kỳ đại hội, với hoàn cảnh, sự biến động của tình hình trong
và ngoài nước, Đảng và Nhà Nước ta lại có những quan điểm, chỉ đạo mới để
đạt được những thành tựu mới. Ta có thể nhắc đến một số quan điểm trên các
lĩnh vực nổi bật như kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội qua các kỳ đại hội như
sau:
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VII (1991) diễn ra trong bối cảnh đất nước
đang thực hiện công cuộc đổi mới được đề ra từ Đại hội VI và đạt được những

Trong kỳ đại hội này, Đảng ta chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu
lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền
vững đồng thời khẳng định, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu
quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa.
5.

Kết quả và ý nghĩa, hạn chế, nguyên nhân

5.1. Kết quả, ý nghĩa
Sau hơn hai thập niên thực hiện đường lối “tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nước ta đã đạt được những thàn tựu sau:
5


Một là, sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế
kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu – bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa:
Hai là, chế độ sở hữu với nhiều hình thức và cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
được hình thành: từ sở hữu toàn dân và tập thể, từ kinh tế quốc doanh và hợp tác
xã là chủ yếu đã chuyển sang nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế
đan xen, hỗn hợp, trong đó sở hữu toàn dân những tư liệu sản xuất chủ yếu và
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Ba là, các loại thị trường cơ bản đã ra đời và từng bước phát triển thống nhất
trong cả nước, gắn với thị trường khu vực và thế giới. Cơ chế thị trường có sự
quản
lý của Nhà nước. Các doanh nghiệp, doanh nhân được tự chủ sản xuất, kinh
doanh, cạnh tranh lành mạnh.
Bốn là, việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, xóa đói,
giảm nghèo đạt nhiều kết quả tích cực.

lên 41,7%, còn khu vực dịch vụ được duy trì ở mức gần như không thay đổi:
38,6% năm 1990 và 38,3% năm 2007. Trong từng nhóm ngành, cơ cấu cũng có
sự thay đổi tích cực. Trong cơ cấu công nghiệp, tỷ trọng của ngành công nghiệp
chế biến tăng, chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao. Cơ cấu của khu
vực dịch vụ thay đổi theo hướng tăng nhanh tỷ trọng của các ngành dịch vụ có
chất lượng cao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch…2
Từ sau đổi mới, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mỗi năm tăng
khoảng 20%, nhờ đó đã đưa tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam từ mức khoảng
nửa tỷ USD/năm trong những năm trước đổi mới lên 48,4 tỷ USD năm 2007 và
62,7 tỷ USD năm 2008. Kim ngạch nhập khẩu năm 2008 của Việt Nam là 80,4 tỉ
USD. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển dịch tiến bộ. Trong giai đoạn
1991-1995, hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam gồm dầu thô, thủy sản, gạo,
dệt may, cà phê, lâm sản, cao su, lạc, hạt điều. Đến năm 2008, các mặt hàng xuất
khẩu chủ yếu là dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, sản phẩm gỗ, điện tử, máy
tính và gạo. Cơ cấu này phản ánh xu hướng gia tăng các chủng loại mặt hàng chế
biến, chế tạo, và sự giảm đi về tỷ trọng của các mặt hàng xuất khẩu thô, chủ yếu
là các mặt hàng nông, lâm, hải sản và khoáng sản. Dù vậy, các mặt hàng xuất
khẩu thô của Việt Nam đến nay vẫn còn chiếm tỷ trọng cao, đòi hỏi sự nỗ lực
hơn nữa để tăng nhanh các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu.
5.2. Hạn chế, nguyên nhân
Có thể thấy rõ quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc
đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, biểu hiện cụ thể ở các điểm
sau:
1, 3 : />2

7


Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa đầy đủ, chưa đồng bộ và chưa

phát triển giữa các vùng, miền, các thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư
còn cao.

8


Năng lực thể chế hoá và quản lý, tổ chức thực hiện của các cơ quan quản
lý Nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức còn hạn chế, nhất là trong việc giải
quyết các vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc.
Vai trò tham gia hoạch định chính sách, thực hiện và giám sát thực hiện
chính sách của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng,
các tổ chức.
6.

Kết luận

Đổi mới là quá trình tất yếu của sự phát triển. Tuy nhiên, đây cũng là quá
trình lâu dài và nhiều khó khăn. Quá trình này đòi hỏi sự lãnh đạo tài tình, sáng
suốt từ phía Đảng và Nhà nước, thêm vào đó là sự đồng lòng, nhất trí của nhân
dân.
Sau hơn 20 năm đổi mới, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam đã hình thành và từng bước hoàn thiện, thay cho thể chế kế
hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp. Tuy rằng trong quá trình thực hiện đổi
mới, đâu đó vẫn còn những thiếu sót, hạn chế nhưng với sự kiên định trên con
đường xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước,
sự giám sát của nhân dân, thể chế kinh tế mới đã đi vào cuộc sống và phát huy
hiệu quả tích cực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, khắc phục
được khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo ra những tiền đề cần thiết đẩy nhanh quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém
phát triển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status