THẢO LUẬN MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM.
A- LÍ THUYẾT CHUNG.
I- TÌM HIỂU CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
1, Khái niệm và kết cấu của hệ thống chính trị.
a, Khái niệm.
Hệ thống chính trị là một hệ thống cơ cấu gồm nhà nước, các đảng phái, đoàn
thể, các tổ chức chính trị xã hội và hoạt động trên khuôn khổ pháp luật hiện
hành được chế định theo tư tưởng của giai cấp cầm quyền và tất nhiên là nó có
sự tác động vào kinh tế xã hội duy trì và phát triển xã hội đó.
b, Kết cấu.
Bên cạnh đó, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp
quyền. Hệ thống chính trị hiện nay ra đời từ khi thiết lập Nhà nước Việt Nam
Dân chủ cộng hòa, gồm các cấu thành quyền lực chính trị sau: Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa, Nhân dân trong hệ thống
chính trị, Hiến pháp.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Là đội tiên phong của giai cấp
công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và của cả dân tộc, vừa là lực lượng hợp thành, vừa là lực lượng
lãnh đạo hệ thống chính trị XHCN, bảo đảm cho hệ thống chính trị giữ
được bản chất giai cấp công nhân và bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân
dân.
- Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa : là tổ chức trung tâm
và là trụ cột của hệ thống chính trị, thực hiện ý chí, quyền lực của nhân
dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ
hoạt động của đời sống xã hội và thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại.- Các tổ chức chính trị-xã hội và đoàn thể nhân dân: Đây là
những tổ chức đại diện cho lợi ích của các cộng đồng xã hội khác nhau
quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Đây là
những cơ quan do nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của
nhân dân.Hiến Pháp trao cho mọi công dân (dù là nam hay nữ) quyền bình
đẳng như nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình;
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào;
quyền tự do đi lại và cư trú ở trên đất nước Việt Nam; quyền ra nước ngoài
và từ nước ngoài trở về theo quy định của pháp luật
2, Đặc điểm và vai trò của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay.
a, Đặc điểm.
Một là,các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đều lấy chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành
động. Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh đều được tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta vận dụng, ghi rõ
trong hoạt động của từng tổ chức.
Hai là,hệ thống chính trị ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Đảng là một tổ chức trong hệ thống chính trị nhưng có vai trò lãnh
đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị. Trong điều kiện cụ thể ở nước ta, do
những phẩm chất của mình - Đảng là đại biểu cho ý chí và lợi ích thống nhất
của các dân tộc; do truyền thống lịch sử mang lại và do những thành tựu rất to
lớn đạt được trong hoạt động thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo
của Đảng làm cho Đảng ta trở thành Đảng chính trị duy nhất có khả năng tập
hợp quần chúng lao động đông đảo để thực hiện lý tưởng của Đảng, nhân dân
tự nguyện đi theo Đảng, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực tế. Đây
là đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta.
Ba là,hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc
tập trung dân chủ. Nguyên tắc này được tất cả các tổ chức trong hệ thống chính
trị ở nước ta thực hiện.
quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời Đảng là người
lãnh đạo và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng.
- Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nhà nước và các
đoàn thể quần chúng. Đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được
Nhà nước tiếp nhận, thể chế hoá cụ thể bằng pháp luật và những chủ
trương, chính sách, kế hoạch, chương trình cụ thể. Vì vậy, Đảng luôn quan
tâm đến việc xây dựng Nhà nước và bộ máy của Nhà nước, đồng thời kiểm
tra việc Nhà nước thực hiện các Nghị quyết của Đảng.
- Đảng lãnh đạo xã hội thông qua hệ thống tổ chức Đảng các
cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Đảng lãnh đạo công tác cán bộ
bằng việc xác định đường lối, chính sách cán bộ, lựa chọn, bố trí, giới thiệu
cán bộ có đủ tiêu chuẩn vào các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và các
đoàn thể quần chúng và các tổ chức chính trị - xã hội.
- Ngoài ra, Đảng lãnh đạo bằng phương pháp giáo dục, thuyết
phục và nêu gương, làm công tác vận động quần chúng, lãnh đạo thực hiện
tốt quy chế dân chủ
o Nhà nước:
- Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công
cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân,
chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống
xã hội. Đó chính là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thực hiện
đường lối chính trị của Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm
bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.
- Như vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền
lực, vừa là bộ máy chính trị, hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn
hoá, xã hội của nhân dân. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân
công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền
mình đối với các cơ quan khác của Nhà nước. Thực hiện các quyền khởi tố,
kiểm sát các hoạt động điều tra, truy tố Với ý nghĩa đó, các tổ chức Toà
án, Viện kiểm sát được gọi là cơ quan tư pháp.
- Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời
coi trọng giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân. Vì
vậy, cần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
o Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội
- Đây là những tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp được tổ chức
để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự
quản đại diện cho lợi ích của nhân dân, tham gia vào hệ thống chính trị, tuỳ
theo tính chất, tôn chỉ, mục đích của mình nhằm bảo vệ quyền lợi dân chủ
của nhân dân.
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò
rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và
bảo vệ đất nước; phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân của các
hội viên, đoàn viên, giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi
mới, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân là cơ sở
chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng;
phát huy khả năng tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân, tuyên
truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước, thực hiện giám sát của nhân dân với cán bộ, công chức và giải
quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.
- Các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân: giữ vững và tăng
cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần
thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện
cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
- Hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức theo một hệ thống
có những đổi mới đáng kể như: . Trình độ và năng lực làm chủ
của nhân dân từng bước được nâng lên.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước được
phân định rõ hơn, phân biệt quản lý nhà nước với quản lý sản
xuất kinh doanh. Nhà nước được từng bước kiện toàn, từ cơ cấu
tổ chức đến cơ chế hoạt động trên các lĩnh vực lập pháp, hành
pháp và tư pháp.
Đảng đã được củng cố cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức; vai trò lãnh đạo của
Đảng trong xã hội ngày càng tăng; Nhà nước tiếp tục được xây dựng và hoàn
thiện theo hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì
dân; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội từng bước đổi mới nội
dung và phương thức hoạt động, đem lại hiệu quả thiết thực; quyền làm chủ của
nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, tư tưởng được
phát huy
Song, bên cạnh đó, hệ thống chính trị ở nước ta còn bộc lộ nhiều nhược
điểm đó là: Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý, điều
hành của Nhà nước, hiệu quả hoạt động của các đoàn thể chính trị-xã hội chưa
nâng lên kịp với đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ mới. Bộ máy Đảng, Nhà nước,
đoàn thể chậm được sắp xếp lại cho đơn giản và nâng cao chất lượng, còn
nhiều biểu hiện quan liêu, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân. Công tác
tuyển chọn, bồi dưỡng, thay thế, trẻ hoá, chuẩn bị cán bộ kế cận còn lúng túng,
chậm trễ. Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị
chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ. Một số cán bộ, đảng viên phai nhạt
lí tưởng cách mạng, tha hóa về phẩm chất đạo đức, sức chiến đấu của một số tổ
chức cơ sở của đảng chưa cao. Ngoài ra, hệ thống chính trị ở cơ sở nước ta hiện
nay còn nhiều mặt yếu kém, bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức
thực hiện và vận động quần chúng. Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất đoàn
kết nội bộ, vừa vi phạm quyền làm chủ của dân, vừa không giữ đúng kỷ cương,
phép nước xảy ra ở nhiều nơi, có những nơi nghiêm trọng. Chức năng, nhiệm
vụ của các bộ phận trong hệ thống chính trị chưa được xác định rành mạch,
thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi
đổi mới trong lĩnh vực chính trị.
Ngoài ra, sự tác động của đổi mới hệ thống chính trị tới sự phát triển kinh tế rất
to lớn vì chính trị đụng chạm đến các mối quan hệ đặc biệt phức tạp và nhạy
cảm trong xã hội ví dụ như là mối quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam và Mĩ ảnh
hưởng như thế nào tới việc xuất nhập khẩu giữa hai nước mà ta sẽ nói ở phần
kế tiếp.
Cũng có thể nói đổi mới hệ thống chính trị là điều kiện để thúc đẩy phát triển
kinh tế xã hội và thực hiện dân chủ.
Đại hội X năm 2006 có nhiệm vụ là tổng kết 20 năm đổi mới. Với sự từng trải
của đội tiền phong dẫn dắt đất nước, dân tộc vượt qua khủng hoảng và nhiều
thách thức lịch sử, Đảng ta khẳng định: “ Đổi mới toàn diện đồng bộ, có kế
thừa, có bước đi, hình thức và chách làm phù hợp đổi mới tất cả các mặt xã hội
của đời sống xã hộ nhưng phải có trọng tâm, có trọng điểm đó là lấy phát triển
kinh tế. Do hệ thống chính trị có tác động trực tiếp tới sự phát triển kinh tế nên
ta cần phải xây dựng và vận hành nền kinh tế thị trường cho phù hợp với chế độ
chính trị xã hội chủ nghĩa. Toàn bộ lịch sử kinh tế thị trường trong suốt hàng
trăm năm qua đã chứng minh rằng bản thân nền kinh tế rất cần sự quản lí và
điều tiết của nhà nước, bàn tay vô hình của cơ chế thị trường hoàn toàn không
đủ để vận hành nền kinh tế thị trường mà cần phải có bàn tay hữu hình của bộ
máy nhà nước do từng chế độ chính trị, chế độ xã hội xây dựng nên.
III- QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ MĨ
TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC XUẤT NHẬP KHẨU GIỮA HAI
NƯỚC.
Trong khi thực hiện đường lối đối ngoại độc lập ,tự chủ và rộng mở với phương
châm “sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng động
quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, thêm bạn bớt thù, chúng
ta đã nỗ lực bình thường hoá quan hệ với Mỹ. Với việc đó , chúng ta đã khẳng
định và tăng cường rõ rệt vị thế của đất nước Việt Nam. Từ chỗ bị bao vây cấm
vận, quan hệ kinh tế thương mại bị hạn chế, ngày nay cùng một lúc nước ta đã
Theo số liệu cập nhật của Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC), kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong 2 tháng đầu năm 2008 đạt
1,96 tỷ USD, tăng 27% so với cùng kỳ năm ngoái.
Đây là tốc độ tăng trưởng cao nhất trong số các nền kinh tế ở Đông Á có xuất
khẩu lớn sang Hoa Kỳ. Chỉ có Ấn Độ là cũng đạt mức gia tăng ấn tượng ở con
số 20%, còn Trung Quốc, Hàn Quốc và Malaysia đều có sự suy giảm rõ rệt về
tốc độ tăng trưởng.
Như vậy, đứng trước sự suy giảm về kinh tế ở Hoa Kỳ, hàng xuất khẩu của
Việt Nam sang thị trường này vẫn tiếp tục đi lên một cách mạnh mẽ so với
nhiều nền kinh tế khác trong khu vực.
Ngoại trừ sự suy giảm của cà phê và sự tăng chậm của máy móc thiết bị, các
nhóm hàng xuất khẩu khác đều có tốc độ tăng trên hai chữ số. May mặc và đồ
nội thất, hai nhóm hàng chủ lực, tăng tới 45% và 29%. Thủy sản, sau khi chững
lại trong năm 2007, cũng tăng trở lại với tốc độ 24,5%.
Kết quả là kim ngạch xuất khẩu của Việt nam sang Hoa Kỳ trong hai tháng đầu
năm 2008 đã bằng gần 19% tổng kim ngạch của cả năm 2007.
Tuy nhiên, số liệu của USITC mới chỉ có đến hết tháng 2 năm 2008. Đó là
thời điểm trước khi Chính phủ chỉ thị thắt chặt tín dụng nội địa để chống lạm
phát và các ngân hàng thương mại đẩy lãi suất cho vay lên cao.
Tín hiệu khả quan về xuất khẩu trong 2 tháng đầu năm cho thấy trong khi chi
tiêu công cũng như tín dụng cho các lĩnh vực đầu tư bất động sản và chứng
khoán phải được kiềm chế một cách kiên quyết thì Chính phủ vẫn phải đảm bảo
các danh nghiệp sản xuất hàng xuất không bị cắt khỏi nguồn vốn vay ngân
hàng.
Nền kinh tế Việt Nam trong năm 2008 chắc chắn sẽ không nhận được nhiều
cú huých mạnh mẽ từ việc gia tăng đầu tư như những năm trước. Nhưng nếu
xuất khẩu vẫn được duy trì ngay cả khi kinh tế toàn cầu đi xuống, thì tăng
trưởng GDP cũng sẽ không bị suy giảm nhiều.
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ
Nhưng xuất khẩu vào Mỹ giảm 6,4%, hay giảm khoảng 157 triệu USD; xuất
khẩu vào EU giảm 9,8% , hay giảm 239 triệu USD (chủ yếu là giày dép,
thuỷ sản, gỗ và sản phẩm gỗ); xuất khẩu vào ASEAN giảm 5,8%, hay giảm 129
triệu USD (trong đó dầu thô giảm 41,6%, điện tử, máy tính và linh kiện giảm
26,1%, dây điện và cáp điện giảm 47,1%, gỗ và sản phẩm gỗ giảm 10,3%,
riêng gạo tăng 104%, hàng dệt may tăng 27,7%); Nhật Bản giảm tới 35%, hay
giảm 700 triệu USD.
Chỉ có 5 thị trường trên đạt 7,9 tỷ USD, chiếm 55,9% tổng kim ngạch xuất
khẩu, giảm 13,4% hay giảm trên 1,2 tỷ USD. Các thị trường còn lại đạt trên 6,2
tỷ USD, tăng khoảng 54%.
Quan hệ phát triển
Một loạt các lĩnh vực hợp tác mà ông Thanh và Michalak được cho là bày tỏ sự
hài lòng còn có chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và
công nghệ.
Một báo cáo của Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội (CRS) Hoa Kỳ ra hồi mùa hè
nhận định Việt Nam muốn nâng cấp quan hệ với Washington do mong muốn
vào thị trường Mỹ và cũng do lo ngại về ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung
Quốc ở Đông Nam Á.
Trong năm 2008, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam
và mang về cho Hà Nội hơn 12,6 tỷ đô la so với khoản nhập khẩu hơn 2,6 tỷ đô
la từ Mỹ.
Báo cáo của CRS nhận định về khả năng phát triển quan hệ Việt Mĩ: "Cuối
cùng thì tốc độ và mức độ của việc cải thiện quan hệ song phương hầu như sẽ
bị giới hạn bởi một số yếu tố trong đó có sự lo ngại của Hà Nội rằng họ sẽ làm
phật lòng Bắc Kinh, sự giám sát tình hình nhân quyền ở Việt Nam từ phía Hoa
Kỳ, sự ngần ngại của những người bảo thủ khi quan hệ với Mỹ và mối nghi
ngại của giới bảo thủ Việt Nam rằng mục tiêu dài hạn của Hoa Kỳ là kết thúc
sự độc quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền lực thông qua chiến lược
"diễn biến hòa bình".
(TTXVN) Bộ Thương mại Mỹ vừa công bố số liệu chính thức cho thấy kim