tiểu luận đường lối xây dựng hệ thống đối ngoại của đảng cộng sản việt nam trong thời kỳ đổi mới - Pdf 24

Đường lối xây dựng hệ thống đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
1. MỞ RỘNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI VÀ CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP QUỐC
TẾ LÀ ĐÒI HỎI KHÁCH QUAN CỦA ĐẤT NƯỚC VÀ XU THẾ CHUNG
CỦA THẾ GIỚI
1.1 Nền tảng của việc mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế
1.1.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của chính sách đối
ngoại
1.1.2. Truyền thống ngoại giao của dân tộc
1.2 Đòi hỏi bức thiết của tình hình trong nước và xu thế của thế giới
1.2.1. Đòi hỏi bức thiết của tình hình trong nước
1.2.2 .Đòi hỏi bức thiết của tình hình thế giới
2: QUÁ TRÌNH ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO MỞ RỘNG
CÁC QUAN HỆ ĐỐI
NGOẠI
2.1. Thực trạng đối ngoại của Đảng, Nhà nước trước đổi mới
2.2. Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước từ (1986-1995)
2.3. Chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước từ (1996– đến nay)
3: MỞ RỘNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI, CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ TRONG THỜI GIAN
TỚI
3.1 Chủ trương, nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong thời gian tới
3.2. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
3.3. Một số bài học bước đầu về chính sách đối ngoại
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN MỞ ĐẦU

trị, kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng của Đảng đã kịp thời đổi mới chính sách đối
ngoại phù hợp với chính sách đối nội và xu thế thời đại để hội nhập với cộng đồng
quốc tế vì hoà bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển.
• Nhiệm vụ:
+ Trình bày những cơ sở dẫn đến sự xác định chính sách đối ngoại theo
đường lối đổi mới
+ Trình bày các giai đoạn phát triển của đường lối đối ngoại đổi mới, cái
mới, cái sáng tạo của Đảng trong việc hoạch định chính sách đối ngoại đổi mới.
+ Thông qua việc phân tích những thành tựu, tồn tại khẳng định chủ trương
"độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá" quan hệ quốc tế là quyết sách đúng
đắn, nhạy bén của Đảng, từ đó bước đầu nêu lên những kinh nghiệm thực hiện
chính sách đối ngoại.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Theo phương pháp luận sử học, đồng thời dựa vào phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và kết hợp
chặt chẽ các phương pháp lịch sử với so sánh, thống kê nhằm làm nổi bật những
thắng lợi trong đường lối chính sách đối ngoại của Đảng gần 20 năm qua
4. Phạm vi nghiên cứu ( cục dạng thời đại và nội dung):
Chính sách đối ngoại của Đảng là một đề tài rộng khoá luận đề cập tới những vấn
đề sau.Thời gian và không gian đề cập là từ năm (1986 – đến nay) ở Việt Nam.
Đây là thời kỳ Đảng lãnh đạo và tiến hành đổi mới toàn diện nhằm đáp ứng những
yêu cầu cấp thiết của đất nước và đáp ứng xu thế thời đại.
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình làm bài, chúng em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ mọi
người, đặc biệt là thầy Ngô Văn Duẩn. Chúng em rất cảm ơn thầy đã có những
hướng tận tình và kịp thời trong quá trình chúng em làm tiểu luận. Đồng thời,
chúng em cũng xin cảm ơn các cô trong bộ phận thư viện nhà trường và các thầy
cô trong khoa lí luận chính trị thuộc trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí
Minh đã tạo điều kiện cho nhóm chúng em tìm kiếm thông tin,tài liệu…và hoàn
thành bài này.Tuy chúng em đã cố gắng làm thật tốt,nhưng cũng không thể tránh

chức phi chính phủ nước ngoài để phát triển kinh tế – xã hội.Chủ động tham gia
cuộc đấu tranh chung vì quyền con người, sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ
chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền. Kiên quyết làm thất
bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề “dân chủ, nhân
quyền, dân tộc, tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập,
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam.
Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể
chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, phục vụ lợi ích đất nước làm mục
tiêu .Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến
lược phát triển đất nước. Chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết các hiệp định thương
mại tự do song phương và đa phương. Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện có hiệu
quả với các nước ASEAN, châu Á – Thái Bình Dương… Tiếp tục đổi mới thể chế
kinh tế, rà soát lại các văn bản pháp quy, sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống
pháp luật bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, ổn định và minh bạch.
Phát huy vai trò chủ thể và tính năng động của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế. Xúc tiến thương mại đầu tư, phát triển thị
trường, sản phẩm và thương hiệu mới. Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam
hợp tác liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài và mạnh dạn đầu tư ra nước
ngoài.Đẩy mạnh công tác văn hoá – thông tin đối ngoại, góp phần tăng cường sự
hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước. Đào tạo, bồi
dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại vững vàng về chính trị, có
trình độ ngoại ngữ và năng lực nghiệp vụ cao, có đạo đức và phẩm chất tốt.Tăng
cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu về đối ngoại với sự tham gia và
phát huy trí tuệ của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học.
Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối
với các hoạt động đối ngoại. Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà
nước và nhân dân; chính trị và kinh tế đối ngoại; đối ngoại, quốc phòng và an ninh;
thông tin trong và ngoài nước.
1.1.2. Truyền thống ngoại giao của dân tộc
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam luôn

nước, những khu vực và về một số vấn đề mà ngoại giao chính thức của nhà nước
chưa có điều kiện triển khai.
Hồ Chí Minh chủ trương đối ngoại rộng mở, mở rộng lực lượng theo phương châm
“thêm bạn, bớt thù”, tránh đối đầu “không gây thù oán với một ai”, tìm ra những
điểm tương đồng, khai thác mọi khả năng có thể nhằm tập hợp lực lượng, hình
thành mặt trận đoàn kết ủng hộ Việt Nam theo nhiều tầng, nhiều nấc. Người từng
nói: “Đường lối tấn công vào lòng người, chinh phục bằng đạo lý, chuyển hóa
bằng nhân tình, thuyết phục lòng người để nhân lên sức mạnh của chính nghĩa”.
Như vậy, với Hồ Chí Minh, ngoại giao không chỉ là sự nghiệp của toàn dân, mà
còn phải lôi kéo, thuyết phục bằng chính nghĩa để nhân dân và bạn bè thế giới ủng
hộ, giúp đỡ mình.
Ngoại giao Việt Nam hiện đại bắt đầu từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa ra đời (1945) và vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp dẫn dắt và rèn
luyện. Ngoại giao Việt Nam hiện đại là sự kết hợp tài tình giữa ngoại giao truyền
thống Việt Nam với những tư tưởng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh được
vận dụng linh hoạt và sáng tạo trong từng hoàn cảnh cụ thể. Trải qua những giai
đoạn khác nhau, trong thời chiến cũng như trong thời bình, ngoại giao Việt Nam
hiện đại đã kế thừa xứng đáng truyền thống cha ông, góp phần không nhỏ vào bảo
vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng đất nước ngày càng phồn thịnh.
1.2. Đòi hỏi bức thiết của tình hình trong nước và xu thế của thế giới
1.2.1. Đòi hỏi bức thiết của tình hình trong nước
Năm 1975 nước ta hoàn toàn giải phóng, tổ quốc hòa bình, thống nhất cả nước tiến
lên chủ nghĩa xã hội với khí thế của một dân tộc vừa giành được thắng lợi vĩ đại.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được một số thành tựu quan trọng.
Chiến tranh vừa kết thúc thì nước ta phải tập trung vào công cuộc khắc phục hậu
quả nặng nề của hơn 30 năm chiến tranh, thì lại xảy ra hai cuộc chiến là chiến
tranh biên giới Tây Nam với Campuchia, và cuộc chiến biên giới phía Bắc với
Trung Quốc. Hai cuộc chiến này đã làm suy giảm tiềm lực của đất nước. Bên cạnh
đó, các thế lực thù địch sử dụng những âm mưu thâm độc phá hoại nước ta. Đại hội
Đảng lần V (3-1982) nhận định “Nước ta đang ở trong tình thế vừa có hòa bình

lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa Việt Nam với tất cả các nước trên cơ sở
tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi.
Từ giữa năm 1978, Đảng đã điều chỉnh một số chủ trương, chính sách đối ngoại
như: chú trọng củng cố, tăng cường hợp tác về mọi mặt với Liên Xô là hòn đá tảng
trong chính sách đối ngoại của Việt Nam; nhấn mạnh yêu cầu ra sức bảo vệ mối
quan hệ đặc biệt Việt - Lào trong bối cảnh vấn đề Campuchia đang diễn biến phức
tạp; chủ trương góp phần xây dựng khu vực Đông Nam Á hoà bình, tự do, trung
lập và ổn định; đề ra yêu cầu mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.
Đại hội lần thứ V của Đảng (3/1982)xác định: Công tác đối ngoại phải trở thành
một mặt trận chủ động, tích cực trong đấu tranh nhằm làm thất bại chính sách của
các thế lực hiếu chiến mưu toan chống phá cách mạng nước ta.Về quan hệ với các
nước, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô là
nguyên tắc, là chiến lược và luôn luôn là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại
của Việt Nam; xác định quan hệ đăc biệt Việt Nam-Lào-Campuchia có ý nghĩa
sống còn đối với vận mệnh của ba dân tộc; kêu gọi các nước ASEAN hãy cùng các
nước Đông Dương đối thoại và thương lượng để giải quyết các trở ngại; nhằm xây
dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình và ổn định; chủ trương khôi phục quan
hệ bình thường với Trung Quốc trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình;
chủ trương thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường về mặt nhà nước, kinh tế, văn
hóa, khoa học, kỹ thuật, với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị.
Thực tế cho thấy ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn (1975-
1986) là xây dựng quan hệ hợp tác.Từ năm 1975 đến năm 1977, nước ta đã thiết
lập thêm quan hệ ngoại giao với 23 nước; ngày 15-9-1976, Việt Nam tiếp nhận
ghế thành viên chính thức Qũy tiền tệ quốc tế (IFM); ngày 21-9-1976, tiếp ghế
thành viên chính thức Ngân hàng thế giới (WB); ngày 23-9-1976, gia nhập Ngân
hàng phát triển châu Á (ADB); ngày 20-9-177, tiếp nhận ghế thành viên Liên hợp
quốc; tham gia tích cực các hoạt động trong phong trào không liên kết… Kể từ
năm 1977, một số nước tư bản mở quan hệ hợp tác kinh tế với Việt Nam.Với các
nước khác thuộc khu vực Đông Nam Á: Cuối năm 1976, Philippin và Thái Lan là
nước cuối cùng trong tổ chức ASEAN thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

toàn quốc lần thứ VI, Đảng nhấn mạnh : “Ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với
sức mạnh của thời đại, giữ hòa bình ở Đông Dương, góp phần giữ vững hòa bình ở
Đông Nam Á và trên thế giới, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp
xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ Quốc…”. Hòa bình ở khu vực và thế giới
có quan hệ gắn kết với nhau, thế giới có hòa bình thì các khu vực mới có hòa bình
và ngược lại. Đổi mới toàn diện, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-
1986) của Đảng đề ra chính sách đối ngoại phù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển
đất nước. Đại hội khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta kiên trì thực hiện chính sách
đối ngoại hoà bình và hữu nghị”. Về quan hệ với các nước khu vực Đông Nam Á:
“Chúng ta mong muốn và sẵn sàng cùng các nước trong khu vực thương lượng để
giải quyết các vấn đề ở Đông Nam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hoà bình, xây
dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định và hợp tác”. Đại hội VI nhấn
mạnh nhiệm vụ hàng đầu là " tranh thủ điều kiệnquốc tế thuận lợi cho sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc" và "cần hoà bình để phát triển
kinh tế". Nghị quyết của Đại hội VI và các nghị quyết của Trung ương đã chuyển
hướng chính sách ngoại giao, chủ trương đẩy mạnh và mở rộng quan hệ với tất cả
các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, thi
hành chính sách hữu nghị, phù hợp với lợi ích của nhân dân ta và xu thế phát triển
chung của thế giới. Nó trở thành tư tưởng chủ đạo, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình
đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đồng thời là một dấu mốc quan
trọng trong tiến trình từng bước gia nhập ASEAN của Việt Nam.
Trên cơ sở đổi mới tư duy đối ngoại, Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu và
những chính sách đối ngoại lớn. Mục tiêu của ngoại giao Việt Nam lúc này là hòa
bình và phát triển. Đảng và Nhà nước ta quyết tâm giải quyết vấn đề Campuchia,
từ đó giải quyết vấn đề bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, ASEAN và Hoa
Kỳ.
Từ giữa những năm 80, các nước lớn và ASEAN đi vào hòa hoãn, hợp tác giải
quyết các vấn đề khu vực, trong đó có vấn đề Campuchia. Đại hội VI đã khẳng
định “chúng ta mong muốn và sẵn sàng cùng các nước trong khu vực thương lượng
để giải

dọa đối với Philipin. Tiếp đó tháng 2/1989 Bộ trưởng Ngoại giao Philipin tuyên bố
“ không chống lại việc Việt Nam gia nhập ASEAN”. Còn thủ tướng Thái Lan
Chatichai, khi lên cầm quyền tháng 8/1988, đã đưa ra chủ trương “ Biến Đông
Dương từ chiến trường thành thị trường”. Chính sách trên của Thái Lan đã được
thủ tướng Malaysia tuyên bố ủng hộ (6/1989). Thực hiện đường lối đổi mới do
Đại hội Đảng VI, Nhà nước ta cũng luôn khẳng định lập trường của Việt Nam là
được chung sống hoà bình với các nước trong khu vực, sẵn sàng hợp tác để xây
dựng Đông Nam Á thành một khu vực hoà bình, ổn định và phát triển. Tháng
1/1989, tại Hội nghị bàn tròn các nhà báo châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại
thành phố Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh
một lần nữa nhấn mạnh: Việt Nam sẵn sàng phát triển quan hệ hữu nghị với các
nước ASEAN và các nước trong khu vực.Tại Hội nghị này, Bộ trưởng Ngoại giao
Nguyễn Cơ Thạch tuyên bố: “Việt Nam sẵn sàng gia nhập Hiệp hội các nước
Đông Nam Á”. Những phát biểu trên một lần nữa nhấn mạnh quan điểm trước sau
như một của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề gia nhập ASEAN. Quan hệ Việt
Nam – ASEAN đã được đẩy mạnh trong năm 1989 và các năm tiếp theo. Sự kiện
chính trị nổi bật và quan trọng nhất trong quan hệ hai bên đó là Tổng thống
Indonexia Xuhacto, nguyên thủ của một nước ASEAN đầu tiên, thăm hữu nghị
chính thức Việt Nam tháng 10/1990. Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng lần lượt thăm
hữu nghị chính thức Indonexia, Vương quốc Thái Lan và Cộng Hòa Singapore từ
ngày 24/10 đến ngày 01/11/1991.
Kể từ giai đoạn này, các nước ASEAN tách dần khỏi lập trường của Trung
Quốc về vấn đề Campuchia, vượt qua chính sách bao vây cấm vận của Hoa Kỳ đối
với Việt Nam để đi vào cải thiện quan hệ với Việt Nam - Đông Dương. Buôn bán
hai chiều Việt Nam - ASEAN đã tăng từ 107 triệu đô la Mỹ năm 1985 lên 740 triệu
đô la Mỹ năm 1991.
Chúng ta đã giải quyết được vấn đề Campuchia trên cơ sở giữ vững một số
thành quả của cách mạng Campuchia, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc,
khai thông quan hệ với các nước ASEAN tạo dựng tiền để để ta tham gia tổ chức
này nhằm xây dựng khu vực Đông Nam Á hòa bình, ổn định, hợp tác để phát triển,

và hồi hương người Việt di tản. Thái Lan tiếp tục giải quyết thuận lợi việc cho Việt
kiều ngập quốc tịch, khai thông sự hợp tác về sông Mekong, lập quỹ khu vực, duy
trì viện trợ linh hoạt hơn trong đàm phán về vùng chồng lấn, thỏa thuận về lập lại
trật tự trên Vịnh Thái Lan. Chúng ta cũng kiên trì thúc đẩy đàm phán phán về thềm
lục địa với Indonexia.
Tháng 07/1992, Việt Nam đã tham gia Hiệp ước Bali, trở hành quan sát viên
của ASEAN. Với tư cách là quan sát viên ASEAN , từ năm 1992 ,Việt Nam đã
được mời tham dự các cuộc họp hàng năm Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao
ASEAN. Từ tháng 2/1993, Việt Nam đã tuyên bố “sẵn sàng tham gia ASEAN vào
thời điểm thích hợp”. Điều này đã được các nước ASEAN, dư luận khu vực và
quốc tế đánh giá cao. Đáp lại ,các nước ASEAN tuyên bố “ muốn Việt Nam sớm
gia nhập ASEAN”. Tháng 10/1993, chúng ta tuyên bố chính sách 4 điểm định
hướng quan hệ với ASEAN . Tại hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ
27 tại Băng cốc 1994, các nước ASEAN đã nhất trí tuyên bố sẵn sàng công nhận
Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN. Ngày 28/07/1995, tại Banda Xeri
Beegaoan (Vương quốc Bruney) lễ kết nạp Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
thành thành viên thứ 7 của ASEAN đã được tổ chức trọng thể. Quốc Hội nước ta
cũng gia nhập Liên minh Quốc hội ASEAN (AIPO).Hội nghị đại biểu toàn quốc
giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994) và Đại hội VIII (tháng 6-1996) của Đảng
đã khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa quan hệ
với tinh thần "Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới,
phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".
Năm năm tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới trên mặt trận
đối ngoại, Việt Nam đã giữ vững được môi trường hòa bình, phá
được thế bị bao vây cấm vận về kinh tế và cô lập về chính trị, đã
bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc – nước láng giềng lớn và
Hoa Kỳ - cường quốc số 1 thế giới, gia nhập ASEAN và đã mở
rộng quan hệ với hầu hết các nước ở khắp năm châu ( riêng từ
1991 – 1995 Việt Nam đã lập thêm quan hệ ngoại giao với 42
nước , nâng tổng số các nước có quan hệ ngoại giao với ta lên

Việt Nam trên trường quốc tế được cải thiện. Tuy nhiên, chúng ta còn phải đối phó
với nhiều khó khăn, thử thách “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều
nước trong khu vực vẫn là thách thức to lớn và gay gắt do điểm xuất phát của ta
quá thấp, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh quyết liệt”.
Đại hội VIII (tháng 6-1996) và Đại hội IX (tháng 4-2001) của Đảng tiếp tục
hoàn thiện đường lối đối ngoại thông qua việc khẳng định "Việt Nam sẵn sàng là
bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình,
độc lập và phát triển". Ngoài ra, Đại hội còn nhấn mạnh, Việt Nam chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao
hiệu quả hợp tác quốc tế. Tháng 11-2001, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết riêng về
hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị quyết đề ra 9 nhiệm vụ cụ thể và 6 biện pháp tổ
chức thực hiện quá trình hội nhệp kinh tế.Hội nghị Trung ương 8, khóa IX (tháng
7-2003) đã ra Nghị quyết về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới nhằm
đánh giá toàn diện, sâu sắc cục diện thế giới, khu vực từ 1991 đến nay; chỉ ra một
cách có hệ thống những thành tựu, bài học kinh nghiệm về đối ngoại. Đây là một
mốc hết sức quan trọng trong nhận thức, định hướng cho chính sách đối ngoại và
hoạt động quốc tế của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian tới.
Những thành tựu của công tác đối ngoại thời kỳ đổi mới trong chính sách và
hoạt động đối ngoại đã hòa nhịp cùng với đổi mới trên mọi lĩnh vực của đất nước,
đem lại những thành tựu rất to lớn, được thể hiện trên các mặt: “Từ chỗ bị bao vây
cấm vận, đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 169 nước; đặc biệt, lần
đầu tiên trong lịch sử, nước ta có quan hệ với tất cả các nước, trung tâm chính trị
- kinh tế lớn trên thế giới”. Chúng ta đã tạo được khuôn khổ quan hệ hợp tác hữu
nghị, ổn định lâu dài và đan xen lợi ích với tất cả các nước láng giềng, khu
vực: Quan hệ đặc biệt và hợp tác toàn diện với Lào không ngừng được củng cố và
mở rộng, hợp tác kinh tế ngày càng chặt chẽ, hiệu quả. Quan hệ với Cam-pu-
chia được đổi mới theo hướng mở rộng, nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế, phối
hợp giải quyết các vấn đề an ninh, biên giới, lãnh thổ trong khuôn khổ các tổ chức
khu vực và quốc tế. Quan hệ với Trung Quốc được bình thường hóa hoàn toàn và
nâng lên tầm cao mới theo phương châm 16 chữ "láng giềng hữu nghị, hợp tác

9 ban chấp hành Trung ương khóa IX ( 5-1-2004) nhấn mạnh yêu cầu chuẩn bị tốt
cá điều kiện trong nước để sớm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Hoạt động đối ngoại đã có những đóng góp to lớn trong công cuộc phát triển đất
nước thông qua việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định. Đặc biệt là công tác
nghiên cứu, tham mưu, thông tin, vận động viện trợ, thu hút đầu tư; tham gia giải
quyết vướng mắc trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với các nước khác.
Hoạt động ngoại giao đa phương có bước trưởng thành vượt bậc kết hợp chặt chẽ
với các mối quan hệ song phương, góp phần nâng cao hơn nữa vai trò và uy tín của
Việt Nam tại các tổ chức quốc tế như: Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết,
ASEAN, ASEM, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp ; tạo điều kiện cho
Việt Nam mở rộng quan hệ đối ngoại, phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời đóng
góp bảo vệ hòa bình và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.
Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng được coi trọng. Về nhận
thức, Đảng khẳng định rõ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận
không thể tách rời của dân tộc Việt Nam. Gần đây, Nghị quyết 36 của Bộ Chính
trị về đổi mới công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã được ban hành,
nhằm xóa bỏ ngăn cách giữa người Việt ở nước ngoài và người Việt ở trong nước;
tạo điều kiện cho bà con hướng về cội nguồn và tham gia đóng góp xây dựng đất
nước; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài, cũng như
hỗ trợ kiều bào hội nhập với nước sở tại.
2.3.2. Chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước từ (2004 – đến nay)
Đại hội lần thứ X (6-2006), Đảng nêu quan điểm: thự hiện nhất quán đường lối
đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại đa
phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Đồng thời để ra chủ trương “chủ
động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”.
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn chủ động quyết định đường
lối,chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung, chủ trương, chính sách hội
nhập kinh tế quốc tế nói riêng, phân tích lực chọn phương án hành động đúng, dự
báo được tình huống thuận lợi và khó khăn khi hội nhập kinh tế quốc tế.
Tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là khẩn trương chuẩn bị, điều chỉnh, đổi mới bên

trù, Kho mộc bản triều Nguyễn và nhiều thắng cảnh, như Cù Lao Chàm, Mũi Cà
Mau v.v đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Tháng 10-2009,
Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng Chấp hành UNESCO nhiệm kỳ 2009 - 2013.
Qua 25 năm thực hiện đổi mới trên mặt trận đối ngoại, ngoại giao phối hợp với các
cơ quan liên quan khác đã đạt được những thành tựu to lớn, ghi đậm dấu ấn của
trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh trên thế giới.
Một là, hình ảnh và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế đã được cải thiện. Việt
Nam không những là đất nước hòa bình hữu nghị mà còn là một nước đã ra khỏi
đói nghèo và đang phát triển đầy ấn tượng. Chúng ta đã hoàn thành xuất sắc trọng
trách ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 -
2009 và đang hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch ASEAN 2010.
Hai là, đã làm công tác ngoại giao kinh tế, là thành viên của ủy ban quốc gia về
hợp tác kinh tế quốc tế, ngoại giao đã chủ động và tích cực tham gia công tác tham
mưu về chính sách kinh tế đối ngoại, nhất là kinh nghiệm của các nước về chính
sách thị trường, đối tác, kinh nghiệm về hội nhập quốc tế, và luật chơi quốc tế. Đã
tranh thủ được một số nước và các tổ chức quốc tế giúp ta công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại v.v
Ba là, ngoại giao đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ an ninh biên giới lãnh
thổ. Các hiệp định biên giới trên đất liền với Trung Quốc cũng như với Lào và
Campuchia đã tạo cơ sở cho việc xây dựng một khu vực biên giới hòa bình và phát
triển với các nước láng giềng.
Bốn là, thế giới đã đánh giá cao những cố gắng của Việt Nam trong việc thúc đẩy
và bảo về quyền con người ở Việt Nam. Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc
đã chính thức thông qua Báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện quyền con người
ở Việt Nam và hoan nghênh các cố gắng của Việt Nam trong việc trao đổi, đối
thoại cởi mở với nhiều nước về vấn đề này. Với chính sách "người Việt Nam ở
nước ngoài là một bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam" và với tinh thần
hòa hợp dân tộc, Nhà nước ta đã tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở
nước ngoài ngày càng hướng về Tổ quốc. Ngoài ra, ta tiếp tục thảo luận với các
nước ASEAN cũng như với các quốc gia đối tác để sớm thông qua Bộ Quy tắc ứng

diện trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng cùng có lợi,
vì lợi ích mỗi nước và lợi ích chung của hòa bình phát triển trong khu vực và trên
thế giới.
Cùng với ngoại giao kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế, ngoại giao kinh tế
trong những năm sắp tới cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tham mưu đề
xuất cho Chính phủ theo năm nhiệm vụ mà Thủ tướng đã giao. Đó là: Tham
mưu giúp Chính phủ quản lý kinh tế vĩ mô; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường,
kiềm chế lạm phát, duy trì tăng trưởng, cải cách hành chính, xây dựng hệ thống
chính trị vững mạnh; mở rộng thị trường xuất khẩu; vận động viện trợ ODA; thúc
đẩy đầu tư trực tiếp vào Việt Nam và đầu tư của doanh nghiệp ra nước ngoài.
Tham gia tích cực nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, kể cả trên
biển, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho công cuộc xây dựng
và phát triển đất nước. Trong tình hình mới, âm mưu và các hoạt động của các
thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền chống phá nước ta ngày càng
gia tăng. Bộ Ngoại giao cần phải chủ động, linh hoạt và sáng tạo hơn nữa trong
công tác đấu tranh về các vấn đề này.
Ngoại giao toàn diện được triển khai trong ngoại giao văn hóa, công tác đối
với người Việt Nam ở nước ngoài, công tác bảo hộ công dân. Ngoại giao văn
hóa sẽ đẩy mạnh việc quảng bá văn hóa, hình ảnh đất nước với thế giới, để nhân
dân thế giới thấy một đất nước Việt Nam hòa bình, thân thiện, là bạn, đối tác tin
cậy và là điểm đến cho du lịch và đầu tư. Từ nhiệm vụ đó, ngoại giao văn hóa phải
gắn kết chặt chẽ, biện chứng với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và công
tác củng cố, nâng cao uy tín và vị thế của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành và địa phương để kết hợp tổng thể
sức mạnh các nguồn lực trong nước với sức mạnh của ngoại giao nhân dân
phục vụ cho công tác đối ngoại của nước nhà; nhằm phát huy sức mạnh tổng thể
đó, công tác thống nhất quản lý đối ngoại sẽ được chú trọng; công tác thông tin đối
ngoại sẽ được tăng cường hơn nữa, bảo đảm thông tin chính xác kịp thời, tạo đồng
thuận trong xã hội trên các vấn đề lớn của đất nước.
Những nhiệm vụ trên đã được Hội nghị cụ thể hóa thành Chương trình hành động,

chủ nghĩa, mở cửa và tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài vào làm ăn,
giảm và đi đến xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi quan thuế và các rào cản khác
để việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ, vốn, công nghệ, nhân công… giữa Việt Nam và
các nước được dễ dàng, phù hợp với những quy định của các tổ chức/thể chế kinh
tế khu vực và thế giới mà Việt Nam tham gia.
Trong những năm vừa qua nước ta cũng đã lần lượt tham gia
vào nhiều tổ chức kinh tế và thương mại quốc tế: chính thức gia
nhập ASEAN ngày 25/7/1995 và tham gia Khu vực Thương mại
Tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996. Từ đó đến nay, Việt Nam cũng
lần lượt cùng các nước ASEAN tham gia vào các cơ chế liên kết
ASEAN trong các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, công
nghệ thông tin…
• Tháng 11/1998, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn
Hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) – khối kinh tế khu vực lớn nhất
thế giới, chiếm hơn 80% kim ngạch buôn bán, gần 2/3 đầu tư và hơn 50% viện trợ
nước ngoài (ODA) của Việt Nam.
• Tháng 12/1994, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập tổ chức Hiệp định chung về
Thương mại và Thuế quan (GATT), tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) và năm 1995 đã chính thức xin gia nhập WTO- một tổ chức thương mại
toàn cầu với 145 thành viên, hiện kiểm soát trên 90% tổng giá trị giao dịch thương
mại của thế giới.
Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là một tiến trình từng bước từ thấp
đến cao diễn ra trên cả phương diện đơn phương, song phương và đa phương, lồng
gép các phạm vi tiểu vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu, diễn ra trên hầu hết
các lĩnh vực gồm hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…Với thành công bước
đầu khi nước ta tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và nhà nước ta cần
chú trọng trong việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới.
Chủ động cùng với các nước đối tác triển khai mạnh mẽ và
hoàn thiện các khuôn khổ quan hệ, nhằm đưa các khuôn khổ này
đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững trong thế kỷ 21.Tiếp tục

mới.
Bài học về thường xuyên đổi mới tư duy đối ngoại: Điều này chỉ có thể có được
bằng việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo lý luận Mác - Lê-nin và tư tưởng ngoại giao
Hồ Chí Minh, mà nổi bật là nguyên tắc "dĩ bất biến, ứng vạn biến", "thêm bạn bớt
thù". Quá trình đổi mới tư duy phải luôn gắn chặt với hoàn cảnh thực tế, yêu cầu
nhiệm vụ cấp thiết của đất nước, trên quan điểm nhìn nhận Việt Nam là một bộ
phận của thế giới, có sự gắn bó, tác động qua lại mật thiết với thế giới bên ngoài.
Đổi mới tư duy đối ngoại thể hiện ở cách nhìn nhận, tiếp cận mới khi đánh giá, dự
báo tình hình thế giới, xu thế của thế giới, thời đại.
Bài học về công tác lý luận, nghiên cứu chiến lược, dự báo tình hình: Thực tiễn
cho thấy phải luôn luôn chú trọng công tác nghiên cứu chiến lược, dự báo tình
hình, tổng kết lý luận và thực tiễn để kịp thời rút ra những bài học quý báu cho các
giai đoạn tiếp theo của công tác đối ngoại.
Bài học về thống nhất đối ngoại: Phải không ngừng hoàn thiện cơ chế thống nhất
quản lý đối ngoại nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của
cả nước trong triển khai chính sách và hoạt động đối ngoại.
Bài học về công tác cán bộ: Phải luôn quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ làm công
tác ngoại giao vừa hồng vừa chuyên, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của
thời kỳ mới.
Tiếp tục đổi mới công tác đối ngoại trong những năm tới, tình hình thế giới và
khu vực sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, bất trắc và khó lường. Quan hệ giữa các
nước lớn tiếp tục đan xen cả về hai mặt đấu tranh và hợp tác - thỏa hiệp. Xu hướng
cường quyền trong quan hệ quốc tế cũng như cuộc đấu tranh giữa đơn cực và đa
cực, đơn phương và đa phương vẫn tiếp diễn. Nhiều "điểm nóng" chưa được giải
quyết và vẫn còn nguy cơ bùng nổ. Tuy chiến tranh thế giới ít có khả năng nổ ra,
nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột, chạy đua vũ trang, khủng bố còn xảy ra ở
nhiều nơi với quy mô, mức độ khác nhau. Hòa bình, hợp tác, hội nhập và phát triển
vẫn là xu thế lớn của thế giới. Khủng bố quốc tế và chống khủng bố, các vấn đề
toàn cầu khác như đói nghèo, dịch bệnh, môi trường, tội phạm xuyên quốc gia tiếp
tục thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế và hoạt động đối ngoại của các

cũng như chất lượng, xử lý nhanh nhạy các vấn đề mới nảy sinh có lợi nhất cho đất
nước. cần chú ý hơn nữa khâu quản lý thống nhất công tác đối ngoại, tạo ra sự phối
hợp đồng bộ giữa ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, giữa ngoại giao nhà nước và
ngaoi5 giao nhân dân. Cần thống nhất quản lý công tác thông tin, tuyên truyền đối
ngoại và kiện toàn hơn nữa sự chỉ đạo thống nhất công tác giữa trung ương và địa
phượng, giữa các bộ và ngành và ban đối ngoại trung ương. Cần tích cực chiển
khai nghị quyết Đại hội X của đảng, hoạt động đối ngoại trong thời gian tới, tiếp
tục phát huy tính nhạy bén và tỉnh táo trong nhận thức và đối sách, vừa linh hoạt,
vừa kiên định đối với các vấn đề mới nảy sinh nhằm tạo điều kiện thuận lợi phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ n ninh tổ quốc, phát huy những thành tựu đã
đạt được trong 20 năm đổi mới, góp phần nâng cao vị thế quốc tế của đất nước
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam HTTp://www.cpv.org.vn/cpv/
2. Tạp chí cộng sản tháng 9/2006
3. Đề cương bài giảng đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam
4. Báo thế giới và Việt Nam
5. Đường lối đối ngoại Việt Nam www.gistrung.com/


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status