Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kì quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ở thế kỷ XVII-XVIII, khi cách mạng công
nghiệp được tiến hành ở Tây Âu, Công nghiệp hoá được hiểu là quá trình thay thế
lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc. Khái niệm công nghiệp hoá
mang tính lịch sử, tức là luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất
xã hội, của khoa học công nghệ. Do đó, việc nhận thức đúng đắn khái niệm này
trong những giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội có ý nghĩa to lớn cả về lý
luận và thực tiễn.
Kế thừa và chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loai ,rút kinh nghiệm
trong lịch sử tiến hành công nghiệp hoá, và từ thực tiễn công nghiệp hoá ở Việt
Nam trong thời kì đổi mới, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khoá VI
và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng Sản VIệt Nam dã xác
định:công nghiệp hoá - hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế từ sử dụng lao động thủ
công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,
phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công
nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước,
công nghiệp hoá ở nước ta hiện nay mang những đặc điểm cơ bản như: công
nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá, nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội. Trong điều kiện cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước và bối cảnh
toàn cầu hoá kinh tế, mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế là
tất yếu đối với đất nước ta.
Vậy hiện nay, thực tiễn quá trình công nghiệp hoá hiện đại hóa ở nước ta
đang diẽn ra như thế nào và những tiền đề, biện pháp để thực hiện thắng lợi quá
trình đó,chính là nội dung tôi muốn tìm hiểu trong bài tiểu luận của mình. Nội dung
1
ở Hương Cảng) để có tiền mở mang kỹ nghệ; Đề cao giáo dục kiến thức thực dụng,
kiến thức hiện đại và học tập khoa học phương Tây; Đề nghị nhà nước cử người đi
du học nước ngoài, nhất là sang Anh hay Pháp, vì đây là những nước tiên tiến nhất.
Như vậy, phong trào duy tân cuối thế kỷ XIX chứa trong mình hoài bão lớn. Đúng
như nhà sử học Pháp Jean Chesneaux so sánh: Phong trào duy tân cuối thế kỷ XIX
ở Việt Nam giống trào lưu hình thành ở Trung Quốc sau năm 1895.
Định hướng công nghiệp hoá thời kỳ này không thể hiện rõ ở bản thân những
luận thuyết. Các ý kiến mang ra tranh cãi, như Paul Bernard thuyết trình tại Đại hội
Liên hợp thực dân Pháp (tiểu ban Đông Dương) cuối năm 1937, nhan đề “Những
3
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
vấn đề đặt ra bởi sự phát triển công nghiệp ở Đông Dương”; G.Kherian trong cuốn
sách “Có cần công nghiệp hoá Đông Dương hay không?”... chưa thể coi là những
công trình nghiên cứu nghiêm túc về công nghiệp hoá. Có xét hoàn cảnh khách
quan lúc đó mới bộc lộ tính chất của vấn đề. Sau khủng hoảng 1930 - 1931, do
chiều hướng thu hẹp thị trường trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, sự cạnh tranh
không ngừng phát triển, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau ngày càng sâu
sắc. Riêng tư bản tài chính Pháp ở Đông Dương đã vấp phải những khó khăn rất
nặng nề về thị trường. Mâu thuẫn giữa các nhóm tư bản tài chính Pháp phát triển
gay gắt hơn trước. Tình hình đó nẩy sinh xu hướng độc lập, tự lực phát triển của
lực lượng kinh tế ở Đông Dương, thậm chí cả xu hướng cạnh tranh với các ngành
công nghiệp tại chính quốc.
Sự kiện công nghiệp hoá Đông Dương đã nhanh chóng đi vào dĩ vãng, bởi
dù sao Chính phủ Pháp không bao giờ chấp nhận cạnh tranh từ phía các nước thuộc
địa. Kết cục này cho phép rút ra kết luận: Độc lập, tự chủ dân tộc là điều kiện tiên
quyết tiến hành công nghiệp hoá. Công nghiệp hoá sẽ nẩy sinh những mâu thuẫn và
chỉ đứng trên lợi ích tuyệt đối của dân tộc, nỗ lực của bản thân dân tộc mới giải
phẩm nhập khẩu cho có hiệu quả.
- CNH-HĐH là sự nghiệp của toàn dân, được mọi thành phần kinh tế tham
gia, trong đó nền kinh tế nhà nước là chủ đạo.
- Lấy việc phát huy yếu tố con người làm chủ đạo, tăng trưởng kinh tế gắn
liền với cải thiện đời sống người dân, tăng cường dân chủ, thực hiện tiến bộ công
bằng xã hội.
- Khoa học công nghệ là động lực của CNH-HĐH, kết hợp công nghệ truyền
thống và công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những
khâu có tính chất quyết định.
- Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội tổng thể là tiêu chuẩn cơ bản để xây dựng
phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư phát triển và công nghệ, đầu tư có
chiều sâu để khai thác tối đa nguồn lực hiện có, trong phát triển mới ưu tiên phát
triển quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn
5
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
nhanh, đồng thời xây dựng một số công trình qui mô lớn thật cần thiết và có hiệu
quả.
- Kết hợp chặt chẽ toàn diện, phát triển kinh tế quốc phòng. – an ninh đất
nước
III. NHỮNG TIỀN ĐỀ THỰC HIỆN THẮNG LỢI SỰ NGHIỆP CÔNG
NGHIỆP HOÁ ,HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1. Đào tạo nguồn nhân lực
Nhân tài, hiền tài - là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì nhân tài,
hiền tài nhiều. Nguyên khí suy thì nhân tài hiếm, hiền tài càng không có. Vào các
thời mạt vận của các triều đại phong kiến xưa, có lúc có tình trạng: “Nhân tài như
lá mùa thu. Tuấn kiệt như sao buổi sớm” tức là rất hiếm.
với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động
lực đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức.
Nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu CNH-HĐH bao gồm những con người có
đức có tài, ham học hỏi,mthông minh sang tạo làm việc quên mình vì nền độc lập
và sự phồn vinh của Tổ quốc, được chuẩn bị tốt về kiến thức nghề nghiệp, về năng
lực sản xuất và kinh doanh, về điều hành vĩ mô nền kinh tế và toàn xã hội, có trình
độ khoa học kỹ thuật vươn lên ngang tầm thế giới. Trong nguồn nhân lực ấy, việc
xây dựng giai cấp công nhân là một mhiệm vụ trọng tâm, bởi vì chỉ có giai cấp
công nhân trưởng thành về chính trị ,có trình độ mới có thể là nòng cốt để lien
minh với nông dân và đội ngũ trí thức ,tập hợp và đoàn kết các thành phần khác,
phấn đấu đưa sự nghiệp CNH-HĐH đến thành công.
7
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
- Đất nước ta đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới
WTO, vấn đề phát triển nguồn nhân lực càng trở nên bức thiết. Trước hết, nhân lực
cho WTO phải thông thạo luật lệ quốc tế. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, điều
này đặt ra một thách thức không nhỏ. Chúng ta vẫn chưa quên bài học đắt giá
của Vietnam Airlines vào năm 2005. Do chủ quan và thiếu hiểu biết về luật pháp
quốc tế, Vietnam Airlines đã không cử đại diện tham dự phiên tòa khi có giấy triệu
tập của tòa án Roma. Kết quả là Vietnam Airlines phải trả 5 triệu Euro. Vụ kiện
này chỉ là một trong những vấn đề mà doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt khi hội
nhập quốc tế. Nguyên nhân chủ yếu của hiện trạng này là do các doanh nghiệp
chưa đánh giá đúng về tầm quan trọng của vấn đề pháp lý, vì họ thường quan niệm
sai lầm rằng có thể giải quyết vấn đề bằng nhiều cách, trong khi đối với quốc tế
mọi vấn đề đều phải giải quyết dựa trên pháp luật. Khi tham gia vào “sân chơi
chung toàn cầu”, do số lượng các hợp đồng thương mại được ký kết rất nhiều,
doanh nghiệp Việt Nam chắc chắn không thể tránh khỏi tranh chấp quốc tế trong
học tập, nâng cao chuyên môn để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, đáp ứng đòi
hỏi của cải cách.
WTO mang đến nhiều cơ hội nhưng những khó khăn chúng ta phải đối mặt
cũng vô cùng to lớn. Tuy nhiên, Việt Nam không thể đứng ngoài “sân chơi” này.
Nguồn nhân lực của chúng ta hiện nay chưa phải là mạnh, nhưng chúng ta có
quyền tin rằng, gia nhập WTO là một giải pháp hiệu quả để nâng cao nguồn lực
này, chứ không nên lo lắng nguồn nhân lực yếu sẽ làm chúng ta thất bại trong hội
nhập kinh tế quốc tế.
2. Huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả
Thực trạng: Nguồn vốn huy động được cả trong và ngoài nước không nhỏ.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại quá nhiều vấn đề trong sử dụng vốn, xảy ra tình trạng lãng
phí kép, và "bệnh hình thức".
"Lãng phí kép" trong sử dụng vốn
Với một quốc gia đang phát triển nhanh như Việt Nam, nhu cầu vốn rất lớn.
Tuy nhiên, thực tế hiệu quả sử dụng các nguồn vốn ở nước ta hiện nay đến đâu?
9
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: "Ở Việt Nam, tồn tại một nghịch lí là nước
nghèo nhưng không biết tiêu tiền hợp lí, gây lãng phí". Chúng ta chưa quan tâm
đầy đủ việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư kể cả ngân sách, nguồn đầu tư
trong nước cũng như nước ngoài và ODA.
Dự án xây dựng chung cư cao cấp An Trung II
(Đà Nẵng), giá trị gần 100 tỉ đồng bị bỏ hoang từ
năm 2003 đến nay. Ảnh Lao Động.
Việc thất thoát ngân sách đã được Chính phủ thừa nhận, Quốc hội bàn thảo,
và khiến người dân xót xa. Tiền ngân sách là gì khác ngoài tiền thuế của dân đóng
phải mất thêm 2 năm đàm phán về giá cung cấp điện nhưng không có kết quả.
Nước này đã rút dự án khỏi Việt Nam. Bài học Phần Lan cần phải tránh.
Việt Nam cũng có thể học bài học Philippine khi nước này quyết định mở
cửa thị trường điện để nhà đầu tư nước ngoài vào tham gia. Chỉ trong vài năm, nhu
cầu điện đã được đáp ứng cơ bản. Nhờ đó, Philippine đã giảm tải được nguồn vốn
lớn mà ngân sách phải bỏ ra cho phát triển hạ tầng điện, dành đầu tư cho lĩnh vực
khác. Việc mở cửa thị trường điện nhiều nước khác cũng đã làm rồi.
11
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
Thu hút và tạo điều kiện cho FDI vào lĩnh vực
cơ sở hạ tầng chính là một giải pháp quan trọng để
tăng hiệu quả sử dụng vốn, tránh "lãng phí kép".
Chúng ta không thể chỉ dựa riêng vào ngân sách, vào ODA để làm hạ tầng.
Phải tin mình và tin các nhà đầu tư để mạnh dạn mở cửa. Không thể quay lưng lại
với cơ hội, nhất là khi chúng ta đã có hệ thống pháp lí quốc tế để soi chiếu, có kinh
nghiệm hợp tác nhiều năm. Tâm lí e ngại đáng ra không được duy trì lâu như vậy.
Giá của sự chờ đợi ấy không đáng.
Đối với vốn ODA, Việt Nam chưa thực hiện tốt tất cả các công việc cần thiết
để giải ngân tốt hơn. Một phần do phức tạp thủ tục, một phần do quy định khác
nhau giữa nhà tài trợ và chính phủ Việt Nam nên khó thống nhất. Sau khi chọn
được dự án ODA đã khó, việc chuẩn bị của Việt Nam khi có vốn ODA còn chậm,
rõ nhất là chuẩn bị mặt bằng, và không có sẵn vốn đối ứng trong các dự án. Điều
kiện con người và kinh tế kỹ thuật đã làm chậm quá trình giải ngân. Ngay cả một
nơi được đánh giá là phát triển năng động như thành phố Hồ Chí Minh cũng có tình
trạng đó. Một số nhà cung cấp ODA đã thực hiện biện pháp mang tính trừng phạt
nhưng cũng không thúc đẩy được bao nhiêu. Trong khi đó, mỗi nguồn ODA có thời
nước, Nhà nước cần có chính sách quan tâm đặc biệt đến phát triển KH&CN: coi
đầu tư cho KH&CN là đầu tư phát triển; ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật, phát triển nguồn nhân lực; tạo động lực vật chất và tinh thần mạnh mẽ cho cá
nhân hoạt động KH&CN, trọng dụng và tôn vinh nhân tài.
14
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
- Phát triển kinh tế - xã hội dựa vào khoa học và công nghệ, phát triển khoa
học và công nghệ định hướng vào các mục tiêu kinh tế - xã hội, củng cố quốc
phòng và an ninh Các chủ trương, quyết định, chương trình, dự án phát triển kinh tế
- xã hội quan trọng phải được luận cứ về KH&CN; các nhiệm vụ KH&CN phải
hướng vào giải quyết có hiệu quả các mục tiêu kinh tế - xã hội. Mọi ngành, mọi cấp
phải đẩy mạnh việc triển
- Bảo đảm gắn kết giữa khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo; giữa
khoa học và công nghệ; giữa khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa
học ký thuật. Sự gắn kết giữa KH&CN với giáo dục - đào tạo trước hết phải được
thực hiện ngay trong các trường đại học, các tổ chức nghiên cứu và phát triển; đồng
thời có cơ chế khuyến khích kết hợp với biện pháp hành chính để tạo ra sự hợp tác,
phối hợp giữa các tổ chức này. Sự gắn kết giữa các lĩnh vực khoa học xã hội và
nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và giữa khoa học với công nghệ
được thực hiện trên cơ sở những nghiên cứu liên ngành nhằm giải quyết những vấn
đề kinh tế - xã hội tổng hợp và phát triển bền vững đất nước.
- Đẩy mạnh tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ thế giới, đồng thời
phát huy năng lực khoa học và công nghệ nội sinh, nâng cao hiệu quả sử dụng tiềm
lực khoa học và công nghệ của Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng, hợp tác quốc tế về KH&CN phải được đẩy mạnh nhằm khai
thác những cơ hội mà toàn cầu hoá có thể mang lại. Trong điều kiện của nước ta
tiến của các nước trong khu vực. Đến năm 2010, KH&CN nước ta đủ năng lực tiếp
thu, làm chủ và sử dụng có hiệu quả công nghệ hiện đại nhập từ nước ngoài; có khả
năng nghiên cứu và ứng dụng một số công nghệ hiện đại, nhất là công nghệ thông
tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu tiên tiến, công nghệ tự động hoá, cơ điện tử; tiếp cận trình độ thế giới trong một số lĩnh vực khoa học Việt Nam có thế
mạnh.
4. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Trong xu thế toàn cầu hoá, Việt Nam sẽ không ngừng mở rộng quan hệ nhiều
mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm
16
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực theo tinh thần Việt
Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn
đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Việt Nam chủ đông tham gia và tích cực
đóng góp vào giải quyết các vấn đề toàn cầu, bảo vệ hoà bình, chống nguy cơ chiến
tranh và chạy đua vũ trang. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực là một
chính sách lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam, được triển
khai thực hiện từ nhiều năm nay với kết quả có ý nghĩa quan trọng. Việt Nam sẽ
phát huy vai trò, mở rộng quan hệ, từng bước nâng cao hiệu quả thiết thực và chất
lượng của sự hợp tác với các nước trong các tổ chức và diễn đàn quốc tế và khu
vực mà Việt Nam tham gia nhu ư ASEAN, Liên Hợp quốc, APEC, ASEM trong
các phong trào của các nước đang phát triển như phong trào Không liên kết, Hợp
tác Nam-nam.
Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với
các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước
làm mục tiêu cao nhất. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình,
phù hợp với chiến lược phát triển đất nước từ nay đến năm 2010 và tầm nhìn đến
năm 2020. Chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết các hiệp định thương mại tự do
tự giác,do đó phải có Đảng cộng sản tiên phong,dày dạn kinh nghiệm chiến
đấu,biết tự đổi mới không ngừng lãnh đạo và một nhà nước của dân, do dân, vì
dân,trong sạch vững mạnh và có hiệu lực quản lý .Trước hết Đảng ta phải tiếp tục
giữ vững ổn định chính trị,là người lãnh đạo duy nhất,trực tiếp và toàn diện mọi
hoạt động của xã hội Việt Nam.CNH-HĐH phải được tiến hành theo đường lối
quan điểm của đảng , đây là nhân tố bảo đảm sự thắng lợi của sự nghiệp CNHHĐH ở nước ta.Nhà nước có chức năng quản lý kinh tế xã hội ,sứ mệnh thực hiện
đường lối CNH của Đảng thông qua việc thực thi cơ chế ,chính sách và điều hành
các hoạt động KT-XH nhằm thực hiện các mục tiêu của CNH-HĐH mà Đảng đã đề
ra. Quản lý nhà nước nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá - hiện đại hoá là quá trình Nhà nước xây dựng và vận hành cơ chế quản lý kinh
tế phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hôi, phù hợp với các quy luật kinh tế khách
18
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
quan để tác động vào hệ thống kinh tế làm biến đổi về lượng, thay đổi mối quan hệ
về chất của các bộ phận hợp thành hệ thống kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá
19
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
KẾT LUẬN
Trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 10 năm 2001-2010, Đảng ta đã
xác định mục tiêu tổng quát là “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển;
nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng
để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại”. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta chưa xác định được cụ thể các tiêu chí quan
Và một số tài liệu khác
21
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
MỤC LỤC
22