quan điểm của đảng cộng sản việt nam về phát triển kinh tế tư nhân và ý nghĩa của quan điểm đó đối với sự phát triển kinh tế xã hội nước ta hiện nay - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ THU TRANG

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ Ý
NGHĨA CỦA QUAN ĐIỂM ĐÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Hà Nội - 2011


Mục lục
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài...................................................................................4
2. Tình hình nghiên cứu............................................................................5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.......................................................6
4. Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu.........................................................7
5. Cơ sở nghiên cứu và ph-ơng pháp nghiên cứu...................................7
6. ý nghĩa của luận văn.............................................................................7
7. Kết cấu của luận văn.............................................................................8
Nội dung
Ch-ơng 1: Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tnhân và thực trạng phát triển kinh tế t- nhân ở n-ớc ta hiện nay
1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn để Đảng cộng sản Việt Nam đề ra quan
điểm về phát triển kinh tế t- nhân.....................................................................9
1.2. Sự tiến triển trong quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về

CNTB: Chủ nghĩa tƣ bản
DNTN: Doanh nghiệp tƣ nhân
QHSX: Quan hệ sản xuất
KTTT: Kinh tế thị trƣờng
LLSX: Lực lƣợng sản xuất
TBCN: Tƣ bản chủ nghĩa
XHCN: Xã hội chủ nghĩa

3


Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
Kinh tế t- nhân là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay. Kinh tế t- nhân đ-ợc hiểu là loại hình tổ
chức kinh tế dựa trên sở hữu t- nhân về t- liệu sản xuất. Thành phần của kinh tế
t- nhân gồm: kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh tế t- bản t- nhân. Kinh tế cá
thể là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân hoạt động dựa trên
cơ sở sở hữu t- nhân về t- liệu sản xuất và lao động của chính hộ cá nhân gia
đình đó, không thuê m-ớn lao động làm thuê. Kinh tế tiểu chủ là hình thức kinh
tế do một chủ tổ chức, quản lý và điều hành, hoạt động trên cơ sở sở hữu t- nhân
về t- liệu sản xuất và có sử dụng lao động thuê m-ớn ngoài lao động của chủ;
quy mô vốn đầu t- và lao động nhỏ hơn của các hình thức doanh nghiệp t- nhân,
công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Kinh tế t- bản t- nhân bao
gồm các công ty trách nhiệm hữu hạn (do một số t- nhân làm chủ), doanh nghiệp
t- nhân (là do một t- nhân làm chủ) và công ty cổ phần đ-ợc thành lập theo Luật
Doanh nghiệp t- nhân, Luật Công ty.
ở các n-ớc theo kinh tế thị tr-ờng, sở hữu t- nhân đ-ợc coi là một trong
những động lực chủ yếu để phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế t- nhân có nhiều
tác dụng: tạo ra động lực cho sản xuất kinh doanh, duy trì cạnh tranh giúp nền

Việt nam về phát triển kinh tế t- nhân và ý nghĩa của quan điểm đó đối với sự
phát triển kinh tế- xã hội ở n-ớc ta hiện nay làm đề tài luận văn tốt nghiệp của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu:
Từ khi Đảng ta chủ tr-ơng chuyển sang nền kinh tế thị tr-ờng có sự điều
tiết của nhà n-ớc theo định h-ớng XHCN, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã rất
chú ý đến sự phục hồi và phát triển của kinh tế t- nhân
Có thể kể đến những công trình nh- sau:
* Nhóm thứ nhất là những công trình nghiên cứu mang tính lý luận, quản
lý hành chính nhà n-ớc về sở hữu t- nhân và kinh tế t- nhân ở Việt Nam, tiêu
biểu nh-:
- PGS.TS. Trịnh Thị Hoa Mai: Kinh tế t- nhân Việt Nam trong tiến trình
hội nhập. NXB Thế Giới, Hà Nội, 2005.
- Định Thị Thơm: Kinh tế t- nhân Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới, thực
trạng và những vấn đề. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005.
- GS. TS. Hồ Văn Vĩnh: Kinh tế t- nhân và quản lý nhà n-ớc đối với kinh
tế t- nhân ở n-ớc ta hiện nay. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
5


- Lê Khắc Triết: Đổi mới và phát triển kinh tế t- nhân Việt Nam, thực
trạng và giải pháp. NXB Lao động, 2005...
Các công trình này đã đi vào phân tích quan điểm của các nhà kinh điển về
sở hữu, sở hữu t- nhân, về kinh tế t- nhân, phân tích các chính sách của Nhà
n-ớc ta về thực thể kinh tế này, đồng thời chỉ ra các giải pháp giúp cho kinh tế tnhân Việt Nam có những b-ớc phát triển mới...
Ngoài ra, trên các tạp chí nh-: Tạp chí triết học, tạp chí Cộng sản, lý luận
chính trị cũng có khá nhiều bài viết liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế tnhân ở n-ớc ta hiên nay.
* Nhóm thứ hai là những công trình mang tính thực tiễn nh-: "Phát triển
và quản lý kinh tế ngoài quốc doanh" do PGS.TS Hoàng Kim Giao làm chủ
nhiệm; "Về việc phát triển kinh tế t- nhân trong giai đoạn hiện nay của Trần Thị

4. Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối t-ợng nghiên cứu:
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế t- nhân; ý
nghĩa quan điểm đó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở n-ớc ta hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu:
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế t- nhân từ
sau Đại hội VI đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phạm vi nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Đề tài đ-ợc thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và
t- t-ởng Hồ Chí Minh về các thành phần kinh tế nói chung và kinh tế t- nhân nói
riêng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
* Ph-ơng pháp nghiên cứu:
Đề tài dựa trên cơ sở ph-ơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời vận dụng tổng hợp các ph-ơng pháp:
phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, lôgíc và lịch sử, khái quát hoá và
trừu t-ợng hoá...
6. ý nghĩa của luận văn
Đề tài đã hệ thống hoá cơ sở hình thành cũng nh- nội dung quan điểm của
Đảng về phát triển kinh tế t- nhân trong nền kinh tế thị tr-ờng định h-ớng xã
hội chủ nghĩa. Từ đó luận văn đã phân tích làm rõ ý nghĩa quan điểm đó của
Đảng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở n-ớc ta trong giai đoạn hiện nay .
7


Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến
vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 2
ch-ơng và 8 tiết.

của xã hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị trƣờng đã phát triển tới giai
đoạn khá cao và phồn thịnh ở các nƣớc TBCN.
Mặc dù kinh tế thị trƣờng tồn tại và phát triển chủ yếu dƣới CNTB, tuy
nhiên, thực tiễn ở các nƣớc XHCN đã cho thấy, kinh tế thị trƣờng vẫn có thể tồn
tại và phát triển. Kinh tế thị trƣờng XHCN tuy vẫn chịu tác động của quy luật giá
9


trị (quy luật chung của kinh tế thị trƣờng), nhƣng đồng thời cũng chịu tác động
của quy luật kinh tế cơ bản (quy luật quy định mục đích khách quan của nền sản
xuất XHCN là không ngừng phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của mọi
thành viên trong xã hội) và các quy luật kinh tế khác của xã hội XHCN. Ở đây,
Nhà nƣớc dƣới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản có vai trò rất quan trọng. Nhà
nƣớc định hƣớng nền kinh tế thị trƣờng bằng những chính sách kinh tế vĩ mô và
luật pháp, thực hiện các chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội trên cơ sở vận
dụng các quy luật giá trị và quy luật phát triển có kế hoạch, cân đối toàn bộ nền
kinh tế quốc dân; đƣa những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất,
không ngừng nâng cao năng suất lao động, làm ra nhiều sản phẩm chất lƣợng
cao, giá rẻ, có sức cạnh tranh trên thị trƣờng quốc tế. Trên cơ sở đó, không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho mỗi thành viên và mỗi cộng
đồng, củng cố và phát triển vững chắc chế độ XHCN.

. Đảng ta coi đó là
mô hình tổng quát trong thờì kỳ quá độ ở nƣớc ta. Đó là một chủ trƣơng hoàn
toàn đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế
Kinh tế tƣ nhân gắn chặt với sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng
hoá, đồng thời, sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hoá lệ thụôc vào sự
phát triển của kinh tế tƣ nhân. Đây là mối quan hệ song hành, gắn bó chặt chẽ
với nhau, chế định lẫn nhau, thúc đẩy nhau phát triển. Trong nền kinh tế hàng
hoá, kinh tế tƣ nhân là loại hình kinh tế tồn tại và phát triển dựa trên quan hệ sở

do thuê mƣớn công nhân nên có sự bóc lột những ngƣời lao động làm thuê. Tƣ
bản tƣ nhân là ngƣời sản xuất kinh doanh theo lối tƣ bản chủ nghĩa để thu lợi
nhuận, hình thức biểu hiện của giá trị thặng dƣ, do những ngƣời lao động tạo ra.
Phát triển KTTN trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, trong nền kinh tế
thị trƣờng định hƣớng XHCN là một xu thế tất yếu, khách quan, phù hợp với quy
luật phát triển của nền sản xuất xã hội. Đảng ta xác định đây là một chủ trƣơng
nhất quán, lâu dài ở nƣớc ta hiện nay. Điều đó xuất phát từ những cơ sở lý luận,
nền tảng sau đây.

11


*.Quan điểm của C.Mác và Ph.Ănghen về vấn đề xoá bỏ chế độ sở hũu tư
nhân trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên chủ nghĩa cộng sản.
Qua quá trình nghiên cứu thực tiễn nền sản xuất TBCN, một mặt, Mác và
Ănghen thừa nhận vai trò quan trọng của CNTB trong việc thúc đẩy sự phát triển
của LLSX, tạo điều kiện nâng cao khả năng sáng tạo phong phú của con ngƣời;
nhƣng mặt khác, hai ông cũng chỉ ra bản chất của nền sản xuất TBCN là bóc lột
giá trị thặng dƣ, gắn liền với tình trạng tha hoá của lao động. Vì vậy, để xoá bỏ
tình trạng áp bức, bóc lột, bất công đó thì hai ông đã chỉ ra biện pháp là phải xoá
bỏ chế độ chiếm hữu tƣ nhân TBCN về tƣ liệu sản xuất và xây dựng chủ nghĩa
cộng sản.
Tuy nhiên các ông cũng chỉ rõ việc xoá bỏ chế độ tƣ hữu không phải là
một hành động tức thời mà phải là một quá trình lâu dài. Do đó, chỉ có thể cải
tạo xã hội một cách dần dần và "chỉ khi nào đã tạo nên đƣợc một khối lƣợng
TLSX cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu đƣợc chế độ tƣ hữu"
[23, tr.469]. Sự xoá bỏ chế độ tƣ hữu trong CNXH không phải là xoá bỏ bằng
mọi cách, mà đó là "sự xoá bỏ một cách tích cực chế độ tƣ hữu" [27,tr.167].
Trong "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản", hai ông cũng đã khẳng định điều này:
"Chủ nghĩa cộng sản không tƣớc bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản

mang tính chất tự nhiên); 2.Sản xuất hàng hoá nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số
những ngƣời nông dân bán lúa mì); 3.Chủ nghĩa tƣ bản tƣ nhân; 4.Chủ nghĩa tƣ
bản nhà nƣớc; 5.Chủ nghĩa xã hội. Trong 5 thành phần kinh tế trên, Lênin đặc
biệt chú trọng đến CNTB nhà nƣớc. Chủ nghĩa tƣ bản nhà nƣớc trong điều kiện
nƣớc Nga lúc đó sẽ là "sự liên hiệp nền sản xuất nhỏ lại", sẽ là biện pháp thích
hợp để hƣớng các thành phần kinh tế của nƣớc Nga đi theo quỹ đạo kinh tế của
CNXH, vì nó là thành phần dễ dàng cho việc kiểm kê và kiểm soát chung, do đó,
dễ dàng cho việc tiếp tục xã hội hoá nền sản xuất xã hội. Lênin khẳng định: sử
dụng CNTB nhà nƣớc là điều kiện thiết yếu, là "phòng chờ" để có thể đi lên
CNXH. Ngƣời viết: "Đứng trên ý nghĩa vật chất, kinh tế, sản xuất mà xét thì
chúng ta còn chƣa tiến đến "phòng chờ" của CNXH, và nếu không đi qua "phòng
chờ" mà chúng ta chƣa đạt tới ấy thì chúng ta không vào cửa CNXH đƣợc" [17,
tr. 256 -257].
Tƣ tƣởng của Lênin về việc sử dụng chủ nghĩa tƣ bản nhà nƣớc để quá độ
lên CNXH chính là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác về xã
hội trong điều kiện đặc thù ở một nƣớc tiểu nông.
Lênin không chỉ đặt lên vị trí hàng đầu việc trao đổi hàng hoá, mà còn
khuyến khích các nhà tƣ bản nƣớc ngoài thực hiện những hợp đồng tô nhƣợng
nhằm tổ chức nền sản xuất lớn XHCN. Và với chính sách này, nền kinh tế Liên
Xô lúc đó đã có những tiến triển nhất định. Rất tiếc là sau khi Lênin mất, do
nhiều nguyên nhân, chính sách kinh tế mới đã không đƣợc tiếp tục thực hiện mà
quay trở lại với mô hình kinh tế tập trung, kế hoạch hoá cao độ nhƣ trƣớc kia.
Tiếp thu quan điểm của Mác về thời kỳ quá độ, Lênin cho rằng: "Danh từ
quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế có phải nó có nghĩa là trong chế độ
hiện nay có những thành phần, những chế độ, những mảng của CNTB và CNXH
15


không? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có" [18, tr.362] và "về lý luận không thể
nghi ngờ gì đƣợc rằng giữa CNTB và chủ nghĩa cộng sản có một thời kỳ quá độ

Trong tác phẩm "Thƣờng thức chính trị", viết vào năm 1953, Hồ Chí
Minh cho rằng: Nƣớc ta (vùng tự do) nền kinh tế còn tồn tại nhiều thành phần:
Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô; kinh tế quốc doanh có tính chất
17


XHCN; kinh tế hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp, các hội đổi công nông
thôn, có tính chất nửa XHCN, kinh tế cá thể của nông dân và thủ công mỹ nghệ;
kinh tế tƣ bản của tƣ nhân; kinh tế tƣ bản Quốc gia. Nhƣ vậy ngay trong điều
kiện kháng chiến, Hồ Chí Minh đã thấy đƣợc tính tất yếu của nền kinh tế nhiêù
thành phần ở nƣớc ta. Nó vừa đáp ứng đƣợc yêu cầu trƣớc mắt là huy động tất cả
các lực lƣợng có thể huy động đƣợc trong dân tộc, đƣa cuộc kháng chiến đến
thắng lợi, vừa đáp ứng đƣợc yêu cầu lâu dài của cách mạng Việt Nam là xây
dựng chế độ dân chủ mới, tạo tiền đề từng bƣớc tiến lên theo định hƣớng XHCN
[30,tr. 222).
Cũng theo quan điểm của Hồ Chí Minh, để đi lên CNXH, nƣớc ta cần
phải trải qua giai đoạn dân chủ mới. Bởi vì: " Đặc điểm lớn nhất của nƣớc ta
trong thời kỳ quá độ là từ một nƣớc nông nghiệp lạc hậu tiến lên CNXH không
phải qua giai đoạn phát triển TBCN" [31, tr.13]. Với điểm xuất phát thấp này đã
quy định tính chất phức tạp của kết cấu kinh tế - xã hội và sự tồn tại đồng thời
các thành phần kinh tế khác nhau. Vì vậy, theo Ngƣời, "trong chế độ dân chủ
mới sẽ 5 thành phần kinh tế chính trị sẽ đƣợc xếp theo thứ tự ƣu tiên nhƣ sau:
A. Kinh tế quốc doanh (thuộc CNXH, vì nó là của chung của nhân dân)
B. Các hợp tác xã (nó là nửa XHCN, và sẽ tiến lên CNXH)
C. Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào
hợp tác xã, tức là nửa XHCN)
D. Tƣ bản của tƣ nhân
E. Tƣ bản của nhà nƣớc (nhƣ nhà nƣớc hùn vốn với tƣ bản tƣ nhân để
kinh doanh).
Trong 5 loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho

huy tác dụng một cách nhanh chóng, chỉ sau một năm, sản lƣợng nông nghiệp
khôi phục bằng trƣớc chiến tranh. Tuy nhiên chƣa tồn tại đƣợc bao lâu, ngay sau
khi Lênin mất, vào những năm cuối của thập kỷ 20 thế kỷ XX, những dấu hiệu
của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 đã xuất hiện, vì vậy, chính sách kinh tế
mới lại bị từ bỏ để quay lại với mô hình kinh tế tập trung quan liêu, kế hoạch hoá
cao độ dƣới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Công bằng mà nói, mô hình kinh tế
này cũng có những tác dụng quan trọng trong việc tập trung các nguồn lực cho
các mục tiêu trọng điểm nhƣ các công trình Quốc gia, huy động cho chiến tranh.
Tuy nhiên với một nền kinh tế có kế hoạch và tách xa thị trƣờng nên ngày càng
trở nên nặng nề, kém linh hoạt, không có tính cạnh tranh. Đời sống kinh tế còn
nhiều khó khăn đã gây nên nhiều bất ổn trong xã hội và mâu thuẫn sắc tộc ngày
càng nghiêm trọng hơn. Liên Xô cũng đã tiến hành cải tổ nhƣng đã quá muộn,
càng cải tổ lại càng lún sâu vào khủng hoảng trầm trọng, xa rời những nguyên lý
của chủ nghĩa Mác – Lênin, phủ nhận sạch trơn mọi thành tựu đã đạt đƣợc trong

20


quá trình xây dựng CNXH. Một kết cục tất yếu đã đến, đó là sự sụp đổ của hệ
thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX.
Thực tiễn nền kinh tế nước ta trước đổi mới cũng chính là một cơ sở quan
trọng cho sự đổi mới quan niệm của Đảng ta về các mô hình kinh tế và quản lý
kinh tế. Nƣớc ta quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN trong hoàn cảnh một
nƣớc nghèo, kinh tế, kỹ thuật lạc hậu, trình độ phát triển xã hội thấp, lại bị chiến
tranh tàn phá nặng nề. Trong suốt một thời gian dài, Việt Nam đã áp dụng mô
hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp, mà thực chất là mô hình
kinh tế cứng nhắc, phi thị trƣờng, quá đề cao vai trò của một thành phần kinh tế
XHCN dƣới 2 hình thức: Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Để nhanh chóng
đạt đƣợc mục tiêu của CNXH, Đảng ta đã đƣa ra những chính sách, biện pháp
nóng vội nhằm hạn chế, thu hẹp, thậm chí là xoá bỏ các thành phần kinh tế đƣợc

hợp với tính chất và trình độ của lực lƣợng sản xuất), nhận thức về XHCN không
đúng với thực tế Việt Nam. Do đó, nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho Đảng ta là phải
có những thay đổi căn bản cả về tƣ duy lý luận và hoạt động chỉ đạo thực tiễn để
đƣa đất nƣớc thoát ra khỏi khủng hoảng, dần dần đi vào thế ổn định và phát
triển.
Trong khí đó, trên thực tế, không thể phủ nhận vai trò của các thành phần
kinh tế khác nhau đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước nói chung, trong
đó có khu vực kinh tế tư nhân. Ở nƣớc ta, nhất là từ sau Đại hội VI, với tinh thần
đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nƣớc, kinh tế tƣ nhân ngày càng tăng nhanh
về số lƣợng và chất lƣợng, đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển kinh tế đất
nƣớc. Những đóng góp đó có thể thấy rõ trên những mặt sau:
- Huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội cho đầu tƣ vào sản
xuất. - Tạo ra nhiều việc làm cho ngƣời lao động.
- Đóng góp ngày càng lớn trong GDP và tạo nguồn bổ sung cho ngân
sách. Ngoài những đóng góp trên, khu vực kinh tế tƣ nhân còn góp phần thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp
và dịch vụ; tăng kim ngạch xuất khẩu, nhất là trong các mặt hàng thuỷ hải sản,
thủ công mỹ nghệ, may mặc, đồ da…; tạo ra một môi trƣờng cạnh tranh lành
mạnh giữa tất cả các thành phần kinh tế, góp phần khai thác tiềm năng của đất
nƣớc, đồng thời mở rộng cạnh tranh thƣơng mại đối với các nƣớc trong khu vực
và trên thế giới. Đó là sự chuẩn bị tốt cho Việt nam bƣớc vào hội nhập quốc tế
một cách tự tin và bền vững.

22


Tuy nhiên, kinh tê tƣ nhân Việt Nam vẫn còn gặp phải những rào cản kìm
hãm sự phát triển của khu vực kinh tế này. Quan điểm của Đảng trên một số vấn
đề cụ thể về phát triển kinh tế tƣ nhân còn chƣa đƣợc làm rõ, vẫn dừng lại ở
những quan điểm lớn, mang tính chất chung chung, chƣa đƣợc cụ thể hoá để tạo

Về mặt pháp lý, cho đến Đại hội VI, Đảng ta mới chính thức thừa nhận sự
tồn tại của kinh tế tƣ nhân, tuy nhiên, thực ra từ trƣớc đổi mới, bƣớc đầu Đảng ta
đã thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tƣ nhân với những tên gọi khác nhau. Chẳng
hạn nhƣ khái niệm “tƣ sản dân tộc” – theo cách gọi của Chủ tich Hồ Chí Minh.
Tháng 2 năm 1951, Đảng Lao động Việt Nam ra Tuyên ngôn đảm bảo quyền lợi
chính đáng cho các tầng lớp nhân dân: “Tiểu thƣơng, tiểu chủ cần đƣợc giúp đỡ
để phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp”, “Những nhà tƣ sản dân tộc cần
đƣợc khuyến khích, giúp đỡ hƣớng dẫn kinh doanh, để góp sức vào việc phát
triển kinh tế quốc dân”.
Trên thực tế, ngay giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra gay
go và quyết liệt, chúng ta vẫn tạo dựng thành phần kinh tế quốc doanh và vẫn
luôn quan tâm tới vai trò, lợi ích và mối quan hệ giữa kinh tế quốc doanh và kinh
tế tƣ nhân. Về vấn đề này, đã đƣợc Hồ Chí Minh giải thích trong tác phẩm
“Thƣởng thức chính trị” và một số văn kiện khác nhƣ:
(1).Công tư đều lợi: “Kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền tảng và sức
lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới. Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và
nhân dân ta phải ủng hộ nó... Tƣ là những nhà tƣ bản và kinh tế cá nhân của
nông dân và thủ công nghệ. Đó cũng là lực lƣợng cần thiết cho cuộc xây dựng
kinh tế nƣớc nhà. Cho nên chính phủ cần giúp họ phát triển. Nhƣng phải phục
tùng kinh tế quốc gia, phù hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân.
(2). Chủ thợ đều có lợi: “Nhà tƣ bản thì không khỏi bóc lột. Nhƣng chính
phủ ngăn cấm họ bóc lột quá tay. Chính phủ phải bảo vệ quyền lợi của công
nhân. Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ đƣợc số lợi
hợp lý, không yêu cầu quá mức. Chủ và thợ đều tự giác, tự động, tăng gia sản
xuất lợi cả đôi bên”. [30, tr.221 – 222]
(3). Mọi chính sách của Đảng, nhà nước đều có tác động tốt cho các
doanh nghiệp. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ sắp
kết thúc, Đảng phóng tay phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm
tức. Chính sách đó không chỉ có lợi cho nông dân mà còn “có lợi cho những nhà
công nghiệp và thƣơng nghiệp, vì nông dân sinh hoạt khá thì sẽ mua nhiều hàng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status