Quan điểm của đảng cộng sản việt nam về phát triển giáo dục đại học ở việt nam hiện nay - Pdf 37

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*****

NGUYỄN VĂN SƠN

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 60 31 02 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Xuân Tuất

Hà Nội – 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS Đỗ Xuân Tuất. Các số liệu, tài liệu trình bày trong luận văn là trung
thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Các tài liệu có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.
Tác giả Luận văn

Nguyễn Văn Sơn

1


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT


Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization)

WTO

Tổng thu nhập quốc dân

GDP

2


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 4
Chƣơng 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG
VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ............................................................. 13
1.1. Về lý luận ................................................................................................................................ 13
1.2. Về thực tiễn ............................................................................................................................ 18
1.3. Phát triển giáo dục đại học - những khái niệm cơ bản ........................................ 25
Chƣơng 2. NỘI DUNG CƠ BẢN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................................................ 30
2.1. Xác định giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu ................................................... 30
2.2. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao ...................................................................................................................... 34
2.3. Phát triển hệ thống giáo dục đại học..................................................................... 41
2.4. Phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đại học ................................. 45
2.5. Xã hội hóa giáo dục đại học và tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục đại học ....... 49
Chƣơng 3. TIẾP TỤC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO QUAN ĐIỂM
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM..................................................................... 54
3.1. Góp phần vào thành tựu chung về công tác lý luận trong thời kỳ đổi mới ... 54

Sự thay đổi sâu sắc trong cơ cấu ngành nghề, đời sống KT - XH trở thành
yêu cầu khách quan đối với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng.
Trong lĩnh vực giáo dục đại học, nhờ có sự hỗ trợ về công nghệ thông tin, giáo dục
đại học các nước đang có sự phát triển không ngừng, là nền tảng cho sự phát triển
của tri thức nhân loại. Bên cạnh đó giáo dục đại học phải tự đổi mới để thích nghi
với sự biến đổi mau lẹ của xã hội, đổi mới giáo dục là một xu thế tất yếu hiện nay.
Tháng 1- 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của
Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại
thế giới đánh dấu mốc quan trọng trong việc hội nhập nền kinh tế thế giới của Việt
Nam. Trở thành viên của WTO, ngoài những thuận lợi thì nền kinh tế Việt Nam
cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức mới trong sân chơi quốc tế đặc
biệt là việc cạnh tranh từ các công ty nước ngoài, các hàng rào bảo hộ của nhà
nước bị rỡ bỏ. Trong khi nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức
cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp nhiều vấn đề kinh tế - xã hội (KT – XH) khác
còn chậm được giải quyết, gây nhiều bức xúc trong xã hội, nguồn nhân lực có
4


trình độ và tay nghề vừa thiếu lại vừa yếu đó thực sự là một thách thức đối với
Việt Nam.
Tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế
Đảng, Nhà nước Việt Nam đã dành sự quan tâm đặc biệt, tạo điều kiện cho giáo dục
đại học phát triển, nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp
phát triển đất nước là một vấn đề thức thiết. Phát triển giáo dục đại học sẽ tạo tiền đề,
động lực thúc đẩy và hoàn thành CNH, HĐH.
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12 - 1986) đã khởi xướng
đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội nhận định đổi mới giáo dục là vấn đề
cấp bách là động lực, là nền tảng cho phát KT - XH. Nhận thức sâu sắc vai trò của
giáo dục đại học với sự phát triển KT - XH, cùng với sự định hình đường lối đổi mới
trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, đường lối phát triển giáo dục đào tạo (GD – ĐT) cũng từng bước được Đảng Cộng sản Việt Nam bổ sung và phát

và "kinh tế tri thức". Với xã hội thông tin và kinh tế tri thức, những thế mạnh tương
đối về nguồn lao động, tài nguyên thiên nhiên đã mất dần ý nghĩa và lợi thế đang dần
thuộc về những quốc gia có lực lượng lao động được đào tạo ở trình độ cao đáp ứng
được sự đòi hỏi của sự tiến bộ về KH - CN; sản phẩm được tạo ra ngày càng phản
ánh sự kết tinh từ "chất xám", từ trí tuệ chứ không phải chủ yếu từ cơ bắp.
Những năm gần đây, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu với thế giới, bên
cạnh những thuận lợi thì những thách thức luôn song hành. Thực hiện đường lối đổi
mới đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam
khẳng định đổi mới đất nước trên mọi phương diện. Trong đó, đổi mới giáo dục nói
chung và giáo dục đại học nói riêng là một khâu quan trọng then chốt. GD - ĐT được
xem là quốc sách hàng đầu, được ưu tiên, tạo điều kiện phát triển nhằm đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Do tầm quan
trọng của nó, giáo dục đại học đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Đã
có rất nhiều công trình khoa học được công bố trên các sách báo, tạp chí với mong
muốn chỉ ra những phương hướng và giải pháp nhằm phát triển giáo dục đại học Việt
Nam.
Liên quan đến vấn đề giáo dục nói chung có thể kể đến các công trình như:
Đổi mới căn bản, toàn diện GD - ĐT Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội (Ban
Tuyên giáo Trung ương - Tổng cục dạy nghề - Viện nghiên cứu phát triển phương
Đông (2012)); Giáo dục Việt Nam hướng tới thế kỷ XXI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
6


Nội (Vũ Đình Cự (chủ biên) (1990)); Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ
XXI, Nxb. Giáo dục, Hà Nội (Trần Khánh Đức (2010)); Bàn về triết lý giáo dục Việt
Nam, Nxb. Đại học sư phạm, Hà Nội (Phạm Minh Hạc – Phan Văn Kha (chủ biên)
(2013)); Mười năm đổi mới giáo dục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội ( Phạm Minh Hạc (1996));
Nguyễn Thế Long (2006): Đổi mới tư duy, phát triển giáo dục Việt Nam trong kinh tế thị
trường, Nxb. Lao động, Hà Nội…cụ thể như sau:
- Năm 2002, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách:“GD - ĐT trong

Việt Nam; Phần 3: Đổi mới và phát triển các trường ngoài công lập ở Việt Nam) tập hợp
các bài viết của nhiều tác giả, bàn về những vấn đề căn cốt nhất tại sao phải đổi mới giáo
dục và đổi mới như thế nào, những vấn đề gì là trọng tâm.
- Nguyễn Văn Lượng: “Đổi mới quản lý – khâu đột phá trong đổi mới căn bản và
toàn diện giáo dục”, Tạp chí Lý luận Chính trị, Số 12 năm 2013. Bài viết đã đưa ra thực
trạng quản lý giáo dục hiện nay những thành tựu, những hạn chế và khẳng định đổi mới
quản lý là khâu then chốt cả đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam…
- Trần Ngọc Hiên: “Chất lượng GD - ĐT – Nhân tố quyết định sự phát triển bền
vững của Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, Số 854 tháng 12 năm 2013. Bài viết đã
khẳng định muốn giải quyết vấn đề chất lượng phát triển, như thực tiễn đặt ra chỉ có thể
bắt đầu từ chất lượng giáo dục, đào tạo nhân lực. Do đó, cần nhận thức được vị trí, vai trò
của GD - ĐT trong giai đoạn hiện nay và đưa ra mấy vấn đề quyết định trong chiến lược
cải cách giáo dục.
- Trần Thị Kiều Nga:“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH”, Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 3 năm 2014. Bài viết là đưa ra những quan điểm
cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn hiên nay,
khẳng định quan điểm: phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần tập trung vào đổi mới
căn bản toàn diện GD - ĐT và đưa ra những quan điểm về đổi mới giáo GD - ĐT.
- Bùi Đình Phong: “Đổi mới căn bản, toàn diện GD – ĐT trên nền tảng tư tưởng Hồ
Chí Minh”, Đặc sản Hồ Chí Minh (Viện Hồ Chí Minh – Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh), Số 4 năm 2013. Bài viết đã chỉ ra sự cần thiết của việc đổi mới căn bản, toàn
diện GD - ĐT, những mục tiêu, phương châm, phương pháp giáo dục trên nền tảng tư
tưởng Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Thị Mai:“Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về hợp
tác GD - ĐT với các nước ASEAN từ năm 1995 đến năm 2010”, luận án tiến sĩ chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm
2013. Luận án đã nêu lên những quan điểm cơ bản, sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt

8


giáo dục đại học và hội nhập quốc tế”, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Cuốn sách là tập hợp
những bài phát biểu, báo cáo nghiên cứu khoa học của các tác giả cung cấp các
9


thông tin đa dạng - phong phú, những kinh nghiệm, ý tưởng, đề xuất có tính chất tư
vấn cho việc đổi mới và phát triển giáo dục Đại học ở Việt Nam.
- Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2005), Một số vấn đề về Giáo dục đại học, Nxb Đại
học quốc gia, Hà Nội. Tác giả đã chỉ ra những vấn đề chung về giáo dục đại học:
vài nét về lịch sử giáo dục đại học thế giới và Việt Nam. Hệ thống đảm bảo chất
lượng cho giáo dục đại học Việt Nam. Chương trình và quy trình đào tạo đại học...;
Những vấn đề về tâm lý, sư phạm đại học..
- Nguyễn Thị Hồng Hạnh:“Hồ Chí Minh về giáo dục và giáo dục đại học”,
Tạp chí Xây dựng Đảng, Số 6 năm 2013. Bài viết đã nêu ra các quan điểm của Hồ
Chí Minh về giáo dục, giáo dục đại học và phương châm của nền giáo dục mới đó
là: học đi đôi với hành, thực hiện dân chủ trong giáo dục và lấy tự học làm cốt, tự
học suốt đời.
- Nguyễn Bá Cần: “Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học Việt
Nam hiện nay”, luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị, Trường Đại học
Kinh tế quốc dân, năm 2009, đã nêu ra những vấn đề cơ bản của chính sách phát
triển giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường, phân tích đánh giá chính sách về
giáo dục đại học trong những năm qua và đề xuất quan điểm, phương hướng và giải
pháp hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học trong những năm tiếp theo.
- Chu Trí Thắng: “Chính sách hợp tác với nước ngoài về đào tạo sau đại học ở
Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý giáo
dục, Trường Đại học giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2011, đề cập tới các
chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ khi Chính phủ Việt Nam gửi
người đi học ở các nước xã hội chủ nghĩa đến nay, trọng tâm là thời gian gần đây.
Luận án đã phân tích, đánh giá các chính sách về hợp tác quốc tế về GD - ĐT sau
đại học. Từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách về phát triển nguồn

sự biến đổi trong quan niệm về vị trí, vai trò của giáo dục đối với sự phát triển
của một quốc gia dưới tác động của toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa một mặt tạo ra
những thách thức không nhỏ đối với các nước đang phát triển thì nó lại tạo điều
kiện cho nền giáo dục của các nước này tiếp cận với nền giáo dục hiện đại, giúp
sinh viên có cơ hội tiếp xúc với các nền giáo dục tiên tiến.
Tóm lại, đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục và giáo
dục đại học, tuy nhiên, còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu sâu về quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục đại học như một hệ
thống từ quan điểm đến đánh giá quá trình quá trình triển khai thực hiện trong
giai đoạn hiện nay. Vì vậy, Luận văn tập trung giải quyết vấn đề trên và đây
11


được xem là điểm mới của đề tài này. Những kết quả của các công trình nghiên
cứu nêu trên là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trong quá trình thực hiện
đề tài Luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Khái quát quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục đại
học và rút ra giá trị của quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo
dục đại học ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ những nhân tố tác động đến đổi mới, phát triển giáo dục đại học ở Việt
Nam hiện nay;
- Các quan điểm cơ bản của Đảng về phát triển giáo dục đại học từ 1996 đến nay;
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, những vấn đề đặt ra;
- Dự báo những yếu tố tác động;
- Đưa ra phương hướng, giải pháp phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam đến
năm 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

phát triển nền giáo dục dân tộc. Cơ sở giáo dục đầu tiên của nhà nước phong kiến Việt
Nam (được ghi nhận trong sử sách) là Quốc Tử Giám - Thăng Long, do vua Lý Nhân
Tông cho thành lập vào năm 1076. Lúc đầu Quốc Tử Giám chỉ nhằm dạy con em dòng
dõi vua quan, hoàng thân quốc thích, sau mở rộng dần cho những thanh thiếu niên có tư
chất và đủ trình độ trong dân gian. Về lực lượng giảng dạy, ngoài những quan chức ở
Quốc Tử Giám, triều đình còn cho phép các nhà Nho uyên thâm đến giảng dạy. Sau này,
triều Nguyễn đóng đô tại Phú Xuân, đã mở Quốc Tử Giám tại Huế. Ngày nay, Quốc Tử
Giám - Thăng Long được xem là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Sau khi mở
mang việc dạy học ở kinh đô, dần dần nhà nước phong kiến chú ý đến việc tổ chức hoạt
động giáo dục ở địa phương. Năm 1397, thời vua Trần Thuận Tông, triều đình cho đặt
học quan ở các lộ, phủ lớn (đơn vị hành chính tương đương với cấp tỉnh ngày nay) để lo
việc giáo dục. “Đến thế kỷ XV - XVI, nền giáo dục Việt Nam đã phát triển rực rỡ. Các
phủ, lộ đều có trường công” [21, tr. 55]. Đồng thời việc thi cử tuyển chọn các quan lại
được tiến hành khá chặt chẽ xem đây là biện pháp quan trọng nhằm chọn người tài giỏi
tham gia bộ máy điều hành quốc gia. Bằng việc tuyển chọn nhân tài thông qua thi cử, tuy
hết sức khắt khe nhưng lại mang yếu tố dân chủ vì đã tạo được cơ may cho con cái tầng
lớp bình dân. Một điều đặc biệt lý thú là, trong giai đoạn mới thành lập, triều Trần cũng
đã tính đến điều kiện học tập không đồng đều giữa các địa phương từ đó quy định một
13


kỳ thi có hai trạng nguyên: kinh trạng nguyên cho khu vực thuận lợi và trại trạng nguyên
cho khu vực khó khăn.
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở thành
người chủ vận mệnh của mình. Nước ta từ nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành quốc
gia độc lập, tự do. Bước vào xây dựng xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương
“mở một chiến dịch chống mù chữ, coi đó là nhiệm vụ cấp bách thứ hai (chống nạn đói)
trong nhiệm vụ cấp bách của chính quyền non trẻ. Vì người cho rằng dốt cũng là kẻ địch.
Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm. Địch dốt nát cũng như địch tấn công ta về mặt
tinh thần cũng như địch thực dân tấn công ta bằng vũ lực. Địch thực dân dựa vào địch

cưỡng bách và không học phí. Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có
quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp. Trường tư được
mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước. Tuy chưa được quy định cụ thể
song nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục nên Nhà nước đã ban hành hàng loạt
các văn bản pháp luật như sắc lệnh số 17 ngày 08/9/1945 đặt ra một bình dân học vụ,
sắc lệnh số 19 ngày 08/9/1945 lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp bình dân buổi
tối, sắc lệnh số 20 ngày 08/9/1945 định rằng việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và
không mất tiền, sắc lệnh số 146 ngày 10/8/1946 đặt những nguyên tắc căn bản của nền
giáo dục mới.
Điều 33 Hiến pháp 1959: Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có
quyền học tập. Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục cưỡng bách, phát triển
dần các trường đại học và cơ quan văn hóa phát triển hình thức giáo dục bổ túc văn
hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ, tại các cơ quan, xí nghiệp và các tổ chức khác ở thành thị và
nông thôn để bảo đảm cho công dân được hưởng quyền đó.
Đến Hiếp pháp 1980 giáo dục đại học bắt đầu được tách riêng ra và đưa vào
trong một chế định cụ thể, những quy định về giáo dục cũng cụ thể và hoàn thiện hơn,
thể hiện trong điều 41: Sự nghiệp giáo dục do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà
nước chăm lo phát triển cân đối hệ thống giáo dục đại học.
Đến Hiến pháp năm 1992, những quy định cơ bản về giáo dục đã thể hiện rõ
nét tính kế thừa Hiến pháp năm 1980 đồng thời có bước phát triển mới. Tuy chỉ thể
hiện trong hai điều 35 và 36 nhưng những nội dung trong đó là tương đối đầy đủ,
hoàn thiện và sát với yêu cầu thực tế, đó là: Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Nhà nước thống nhất quản lý hệ
thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu
chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng. Nhà nước ưu tiên đầu tư cho
giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác. Đặc biệt Hiến pháp năm 1992 đã ghi
nhận “ GD – ĐT là quốc sách hàng đầu”.
Bên cạnh việc tiếp tục khẳng định quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu,
điều 61, Hiến pháp 2013 quy định: Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu

yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng nhanh và bền vững” và nguồn nhân
lực là yếu tố quyết định sự phát triển trong quá trình CNH, HĐH đất nước. Tuy
nhiên, để có nguồn nhân lực chất lượng cao cần có một hệ thống giáo dục phát triển.
17


Đặc biệt là giáo dục đại học là khâu thiết yếu quan trọng có nhiệm vụ đào tạo nguồn
nhân lực có trình độ cao.
Giáo dục đại học có vị trí đặc biệt trong hệ thống giáo dục quốc dân là nhân tố
nòng cốt trong đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao để thỏa mãn nhu cầu phát triển xã
hội, nên hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới, nhất là các nước có nền kinh
tế phát triển luôn quan tâm đến giáo dục đại học, tạo những điều kiện thuận lợi để
giáo dục đại học có điều kiện phát triển tốt nhất. Do đó, nội dung chương trình giảng
dạy, phương pháp giáo dục đại học luôn luôn phải thay đổi để cung cấp, cập nhật tri
thức mới tiến bộ của nhân loại cho người học, đáp ứng yêu cầu phát triển mới của xã
hội – giáo dục phải gắn liền với nhu cầu của xã hội, giáo dục phải đi sâu, đi sát với
thực tế, nắm bắt những đòi hỏi của thực tế, đồng thời có dự báo trong tương lai. Đó là
một nền giáo dục linh hoạt, một nền giáo dục mở, đảm bảo được yêu cầu trên giáo
dục mới giải quyết được bài toán phát triển ở mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, mỗi nước cần có những bước đi đúng đắn, phù hợp với điều kiện
hoàn cảnh thực tế của mình, đảm bảo rằng quốc gia đó không bị “tụt hậu” trong thế
giới đang biến đổi không ngừng. Từ những kinh nghiệm rút ra từ các nước đi trước,
căn cứ vào xu thế phát triển của nhân loại và thực tiễn Việt Nam, Đảng, Nhà nước
Việt Nam luôn quan tâm, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển, đặc biệt là giáo dục
đại học, nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước. Quan điểm chỉ đạo về phát triển giáo dục trong tình hình mới có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc.
1.2. Về thực tiễn
Thế kỷ XXI được đánh dấu với sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của lực lượng
sản xuất. Sự nhảy vọt của những thành tựu KH - CN đã đưa loài người tiến những

sinh học đã tạo một bước ngoặt trong các lĩnh vực nông nghiệp, y học, dược học…đã
góp phần không nhỏ vào việc đưa nền kinh tế công nghiệp sang giai đoạn mới giai
đoạn hậu công nghiệp, giai đoạn văn minh thông tin giai đoạn của nền kinh tế tri
thức. Ai giữ và nắm được nền kinh tế tri thức sẽ là người thắng cuộc trong sân chơi
quốc tế. Kinh tế tri thức đã và đang trở thành dòng thác lớn không gì ngăn nổi, là xu
hướng tất yếu của thời đại, bất cứ cá nhân, tổ chức, quốc gia nào có đầy đủ tri thức,
thông tin sẽ có cơ hội làm giàu và chiến thắng. Vì vậy, thông tin, tri thức là cơ sở của
quyền lực mới về chính trị và kinh tế thế giới đương đại; là kim chỉ nam cho mỗi
quốc gia, dân tộc, cá nhân trên con đường khẳng định mình trong tương lại.
Nhìn lại lịch sử nhân loại thế kỷ XX, sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ là
nước khởi đầu cuộc cách mạng KH - CN hiện đại và đạt được nhiều thành tựu to lớn,
điều đó đã góp phần không nhỏ tạo động lực cho nền kinh tế phát triển và kết quả Mỹ
19


vươn lên trở thành siêu cường số một thế giới về kinh tế, quân sự... Mỹ là nước đi đầu
trong các lĩnh vực chế tạo công cụ sản xuất mới (máy tính điện tử, máy tự động), vật
liệu mới (pôlime, vật liệu tổng hợp), năng lượng mới (năng lượng nguyên tử, năng
lượng nhiệt hạch), chinh phục vũ trụ, và đi đầu trong cuộc cách mạng xanh trong
nông nghiệp… Các nước tư bản chủ nghĩa trước hết là Mỹ, đã rất năng động trong
việc ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng KH - CN để phát triển KT - XH. Sự
tận dụng hiệu quả các thành tựu của cuộc cách mạng KH - CN hiện đại cùng với tính
năng động của nhiều nước tư bản chủ nghĩa kết quả là những nước này đã đạt được
những bước đột phá. Lý do là họ đã giải quyết thấu đáo bài toán giữa tăng trưởng
kinh tế với nâng cao dân trí. Một ví dụ khác là, năm 1957, Liên Xô đã làm cả thế giới
kinh ngạc khi phóng thành công vệ tinh nhân tạo, đã mở ra một kỷ nguyên công nghệ
mới cho loài người. Tiếp sau đó, Iu.Gagarin đã bay vòng quanh trái đất trên con tàu
vũ trụ mà con người sáng tạo ra, rồi hai phi hành gia người Mỹ đặt chân lên mặt
Trăng. Những sự kiện vĩ đại ấy nói lên rằng, con người đã sáng tạo ra được công
nghệ mới phục vụ cuộc sống của loài người, con người có thể chinh phục được thế

công nghệ và xuất khẩu tri thức chứ không đơn thuần chỉ là một trung tâm đào tạo
như truyền thống.
“GD - ĐT đang trở thành yếu tố quyết định là ưu tiên hàng đầu trong chính
sách phát triển của mỗi quốc gia. Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong
hoạt động giáo dục đào tạo. Là quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, để phát
triển Nhật Bản chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân. Nhận thức được
điều đó, Chính phủ Nhật Bản đặc biệt chú trọng đến GD - ĐT, coi đây là quốc
sách hàng đầu” [75, tr. 478]. Xingapo được biết tới như là một con rồng của châu
Á. Cũng giống như nhiều nước khác trên thế giới, Xingapo đang chuyên dần sang
chiến lược dựa vào tri thức để phát triển kinh tế, đặc biệt là thương mại hóa tri
thức để tạo ra giá trị gia tăng cao. Là quốc gia có diện tích nhỏ, tài nguyên thiên
nhiên khan hiếm, tuy nhiên, lại được thừa hưởng và phát triển từ hệ thống giáo
dục lâu đời của Anh. “Xingapo đặt nền giáo dục là yếu tố chủ chốt trong sự lớn
mạnh và phát triển xã hội”[75, tr. 505].
Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa
lịch sử to lớn, với vị thế và diện mạo mới. Kinh tế có bước phát triển, chính trị ổn
định, quốc phòng, an ninh được giữ vững. Tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức hợp
lý, từ năm 2013 dần phục hồi, năm sau cao hơn năm trước, “tăng trưởng GDP năm
2011 đạt 6,24%, năm 2012: 5,25%, năm 2013: 5,42%, năm 2014: 5,98% và kế
hoạch năm 2015 là 6,5%. Tốc độ tăng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình
21


quân 5 năm đạt 5,825/năm. Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên;
GDP năm 2015 đạt khoảng 204 tỷ USD, bình quân đầu người khoảng 2.200
USD”[8, tr. 2].
Mới đây ngày 29 tháng 5 năm 2015, tại Kazakhstan, Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng cùng Thủ tướng các nước thành viên Liên minh Kinh tế Á-Âu, bao gồm
Nga, Armenia, Belarus, Kazakhstan và Kyrgyzstan đã ký chính thức Hiệp định
Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu…Bên cạnh những

đại học.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra chủ trương đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước và xây dựng nền kinh tế hàng hóa, nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa (nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa). Giáo dục
đại học đã trở thành một ngành sản xuất đặc biệt – sản xuất nguồn nhân lực và cũng tuân
theo quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường tạo nên một môi
trường cạnh tranh đòi hỏi phải đào tạo nguồn nhân lực có số lượng, chất lượng và hiệu
quả cao.
Tri thức ngày nay đã trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu, trực tiếp tham
gia vào tất cả các khâu trong mọi hoạt động đời sống xã hội. Cuộc cách mạng
công nghệ ngày càng phát triển, những thế mạnh tương đối về nguồn lao động đơn
giản hoặc tay nghề thấp sẽ dần mất đi ý nghĩa của nó và lợi thế sẽ thuộc về quốc
gia nào có nguồn nhân lực trí tuệ cao, có kỹ năng vững vàng, có khả năng sáng tạo
theo kịp sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại. Nên giáo dục đại học cần
phải gắn bó chặt chẽ hơn nữa với thực tế sản xuất và đời sống. Thực hiện phương
châm học đi đối với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn
liền với đời sống xã hội. Vì đầu tư vào giáo dục là đầu tư thông minh nhất, đem lại
hiệu quả cao nhất.
Đánh giá đúng vị trí, vai trò của GD - ĐT trong sự nghiệp đổi mới đất nước,
Đảng, Nhà nước Việt Nam đã khẳng định: GD - ĐT là quốc sách hàng đầu trong
quá trình đổi mới và hội nhập thế giới. Do đó, tiến hành sự nghiệp đổi mới từ năm
1986 đến nay, Việt Nam luôn có sự quan tâm đặc biệt tới giáo dục nói chung và
giáo dục đại học nói riêng. Nhằm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trình độ cao
phục vụ yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Toàn cầu hóa là xu thế phát
triển khách quan đã và đang lôi cuốn nhiều nước tham gia vào sân quốc tế này, mở
ra những vận hội và thách thức mới cho các quốc gia dân tộc. Đối với Việt Nam,
hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện cho giáo dục đại học Việt Nam phát triển, hội
nhập, hiện đại hóa, vươn lên đạt chuẩn mực so với các nước trong khu vực và trên
23


nếp nghĩ, cách làm giống vài chục năm trước đây, điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến
sự phát triển chung của toàn ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học. Những yếu
24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status