VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU THÙY
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ SỰTHỐNG NHẤT VÀ KIỂM SOÁT
QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số
: 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN TUẤN PHONG
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận văn
NGUYỄN THỊ THU THÙY
nước thuộc về nhân dân.
Hiện nay, việc kiến tạo bộ máy quyền lực Nhà nước phải được quán triệt một
quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là quyền lực nhà nước là thống nhất, có
sự phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Trong thực tiễn tổ chức bộ máy nhà
nước cần có nhận thức đúng và đầy đủ rằng ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp tồn
tại trong một thực thể thống nhất. Phải thấy được tính thống nhất và tập trung của
quyền lực nhà nước được quy định bởi nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, nhân dân là cội nguồn
của quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước là thống nhất, tức là quyền lực nhà nước
tập trung, thống nhất ở nhân dân, thống nhất ở nguồn gốc, bản chất, thống nhất ở một
mục tiêu chính trị chung là phục vụ nhân dân, xây dựng đất nước ngày càng giàu
mạnh. Thống nhất quyền lực nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước trên
tinh thần đề cao trách nhiệm của nhà nước trước toàn thể nhân dân.
Do vậy, việc phân định quyền lực nhà nước không bao gồm việc phân lập mục
tiêu chính trị chung của quyền lực nhà nước. Thực chất sự phân công thành lập pháp,
hành pháp, tư pháp chỉ là sự phân công lao động, chuyên môn hóa việc thực thi quyền
lực nhà nước. Việc phân công này xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, mối liên hệ và
phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi quyền lực nhà nước,
hạn chế sự chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lắp giữa các cơ quan nhà nước; để Nhà nước
1
hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, đảm bảo quyền lực nhà nước ngày càng thực sự là
quyền của nhân dân, đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
thuyết lẫn thực tế. Mặc dù trên lý thuyết, tư tưởng quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân đã được thừa nhận phổ biến từ khá lâu, song trên thực tế cho đến nay, nhân dân
vẫn chưa phải là chủ thể thực sự của quyền lực nhà nước, chưa có khả năng kiểm soát
được quyền lực mà mình ủy thác cho nhà nước. Trong tổ chức và thực thi quyền lực
nhà nước ở Việt Nam hiện nay, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước đã được quan
tâm nhưng lại đặt nặng kiểm soát bằng đạo đức. Điều này xuất phát từ truyền thống
lịch sử của nhà nước ta trọng về đức trị. Song dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam thì Đảng ta luôn coi trọng và đề cao sự tự kiểm soát của Đảng thông qua
mỗi đảng viên và các tổ chức đảng.
Kiểm soát quyền lực nhà nước được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như:
kiểm soát quyền lực nhà nước bằng đạo đức tức là sự tự kiểm soát của các cá nhân
nắm giữ quyền lực; kiểm soát bằng thể chế ngay trong nội bộ nhà nước; kiểm soát
bằng thể chế ngoài nhà nước…
Nhất là trong tình hình hiện nay, quyền lực của nhân dân mà trực tiếp là quyền
lực nhà nước đang bị vi phạm ở nhiều nơi, trong nhiều lĩnh vực. Vì vậy, kiểm soát
quyền lực nhà nước không chỉ là một nguyên tắc tổ chức và thực thi quyền lực nhà
nước mà còn là yêu cầu bức xúc ở nước ta hiện nay.
Vì thế, nghiên cứu những vấn đề lý luận về tổ chức và thực thi quyền lực nhà
nước mà trung tâm là lý luận “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự thống
nhất và kiểm soát quyền lực nhà nước” là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu
sắc. Nó không những đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của thời kỳ hội nhập và toàn cầu
hóa, mà còn là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và hoàn thiện nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong
điều kiện hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói vấn đề quyền lực, việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước ở các
nước phương Tây đã được đề cập từ khá rõ ràng trên lý thuyết cũng như trên thực tế
của nền chính trị phương Tây. Tuy nhiên, ở nước ta việc tổ chức và thực thi quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân, trong đó có vấn đề về sự thống nhất và kiểm soát quyền
lực nhà nước trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là vấn đề còn rất
Viện kiểm sát nhân dân, Mặt trận và các đoàn thể từ vị trí, thẩm quyền đến hoạt động
của nó trên thực tế. Qua đó rút ra được những hạn chế của các quy định pháp lý và
những bất cập trong hoạt động thực tiễn của chúng.
Bên cạnh đó, luận án Tiến sĩ khoa học của Trịnh Thị Xuyến (2007) cũng nghiên
cứu khá rõ ràng về kiểm soát quyền lực nhà nước “Kiểm soát quyền lực nhà nước ở
Việt Nam hiện nay – Vấn đề và giải pháp”. Luận án làm rõ được khái niệm, nội dung,
4
mục đích, các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước; thực trạng kiểm soát quyền
lực nhà nước ở nước ta hiện nay. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì
Đảng ta kiểm soát quyền lực nhà nước như thế nào để giữa ý đảng và lòng dân không
có sự khác biệt. Qua đó đề ra những phương hướng và giải pháp kiểm soát quyền lực
nhà nước để nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân luôn được quán triệt và
nhất quán trong Hiến pháp và trong tổ chức bộ máy nhà nước.
Sách chuyên khảo của Lê Minh Quân và Bùi Việt Hương (đồng chủ biên) “Về
quyền lực trong quản lý nhà nước hiện nay” đã trình bày những cách tiếp cận cơ bản
và truyền thống đối với quyền lực và quyền lực nhà nước; những phát triển mới của
thế giới và ảnh hưởng đối với cách tiếp cận quyền lực nhà nước hiện nay; những thay
đổi trong cách tiếp cận, quan điểm và phương thức tổ chức, thực thi quyền lực nhà
nước hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây đã gợi mở, cung cấp thông tin,
phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề và là tài liệu tham khảo trong nhiều nội
dung của luận văn. Tuy nhiên, tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
luận văn cho thấy vấn đề về quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự thống nhất
và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam vẫn còn những khoảng trống về lý luận
chưa được đề cập đầy đủ, toàn diện. Chẳng hạn như cơ sở và nội dung quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về sự thống nhất và kiểm soát quyền lực chưa được nghiên
cứu đầy đủ và toàn diện.
quyền lực nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm, tư tưởng của Đảng Cộng
sản Việt Nam quyền lực nhà nước; nội dung quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về sự thống nhất và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn có nội dung nghiên cứu rộng và hiện nay được tiếp cận từ mục
đích cũng như góc độ, phương diện khác nhau. Trong khuôn khổ khoa học triết học và
trong phạm vi của luận văn thạc sĩ triết học, luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở và nội
dung của quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự thống nhất và kiểm soát
quyền lực nhà nước trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam.
6
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhà nước và pháp luật. Ngoài ra luận văn kế thừa có chọn lọc những quan điểm phù
hợp của các công trình nghiên cứu tiêu biểu về quyền lực nhà nước và xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác Lênin; và các phương pháp: phương pháp thu thập, tìm kiếm tài liệu; hệ
thống, liên ngành; phân tích và tổng hợp; kết hợp lý luận với thực tiễn; phương pháp
lịch sử… để làm rõ hơn các vấn đề cần nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Và quyền lực cũng là một vấn đề được nghiên cứu từ xa xưa trong lịch sử phát
triển của loài người nhưng cho đến nay vẫn được quan tâm nghiên cứu rất nhiều.Có
thể thấy rằng quyền lực có mặt ở trong tất cả các mối quan hệ xã hội. Theo nghĩa
chung nhất thì quyền lực được hiểu là khả năng tác động, khả năng chi phối của một
chủ thể đối với một đối tượng nhất định hoặc một nhóm đối tượng nhất định, buộc
hành vi của các đối tượng này phải tuân thủ, phụ thuộc vào ý chí của chủ thể đó.
Trong việc tổ chức đời sống cộng đồng và xã hội của con người quyền lực được
tiếp cận không chỉ ở góc độ cá nhân mà còn từ góc độ xã hội, quyền lực gắn liền với
việc tổ chức đời sống xã hội. Việc điều hành xã hội thể hiện qua việc con người tín
nhiệm và trao quyền/ủy thác của mình cho một nhóm người khác thay mình quản trị
đời sống xã hội, đời sống cộng đồng. Trong triết học chính trị quyền lực vì thế thường
được phân chia thành quyền lực công cộng, quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước.
Quyền lực công
Trước hết quyền lực công là quyền lực mà nhờ đó một cộng đồng có thể phối
hợp với nhau, duy trì trật tự chung, điều hành mọi hoạt động chung, bảo vệ cộng đồng
khỏi sự xâm hại từ bên ngoài. Mặt khác, sự phát sinh ra quan hệ quyền lực là do yêu
cầu tạo dựng sức mạnh để vượt qua những hiểm nguy của đời sống cộng đồng. Quyền
lực công trở nên tất yếu, thậm chí trở nên độc đoán khi cần thiết. Quyền lực công là
quyền lực của các thành viên xã hội góp một phần quyền của mình mà tạo nên khi
tham gia vào đời sống cộng đồng. Quyền lực công trở thành ý chí chung mà mọi người
phải tuân thủ, phục tùng và nó là điều kiện đảm bảo an sinh cho xã hội và tự do cho
8
mọi người. Nó là yêu cầu tất yếu khách quan của bất kỳ cộng đồng xã hội nào. Trong
cộng đồng thị tộc thì quyền lực công cộng được thiết lập dựa trên tinh thần, trách
nhiệm, bổn phận phải bảo vệ, giúp đỡ lẫn nhau của tất cả mọi thành viên trong thị tộc
đó. Quyền lực này giao cho một hội đồng, với tư cách là quyền lực tối cao trong toàn
bộ thị tộc. Để đảm bảo an toàn cho mình, mỗi cá nhân đều phải dựa vào sự bảo hộ của
riêng và thực hiện những phương thức khác nhau để đạt quyền lực. Quyền lực chính trị
như một sức mạnh của những nhóm người khác nhau về địa vị, lợi ích trong phân công
lao động hay trong đời sống xã hội.
Như vậy, quyền lực chính trị là quyền lực của các giai cấp, các nhóm xã hội, các
lực lượng xã hội dùng để chi phối, tác động đến quá trình tổ chức và thực thi quyền
lực nhà nước nhằm tối đa hóa lợi ích của mình [15, tr.34]. Cho nên nguồn gốc hình
thành của quyền lực chính trị cũng khác nhau bởi vì vị trí, vai trò của các giai cấp, các
lực lượng trong xã hội là khác nhau.Trong xã hội không còn giai cấp nữa thì cũng
không còn quyền lực chính trị. Tùy vào điều kiện khách quan, sự phát triển của kinh tế
- xã hội mà vị trí, vai trò của giai cấp đó có thể thay đổi, địa vị thống trị của giai cấp
này có thể chuyển vào tay của giai cấp khác. Sự thay đổi đó phụ thuộc vào sự thay đổi
của các phương thức sản xuất. Các giai cấp này dùng những cách thức, biện pháp khác
nhau để giành, giữ, thực thi quyền lực trong xã hội. Tùy điều kiện kinh tế văn hóa
chính trị của từng quốc gia mà quyền lực chính trị cũng khác nhau. Như quyền lực
chính trị của cùng một giai cấp ở các nước khác nhau cũng khác nhau, quyền lực chính
trị của cùng một giai cấp nhưng ở mỗi thời điểm khác nhau cũng không giống nhau.
Do đó giữa các nhóm này không chỉ có mâu thuẫn mà đôi khi còn đấu tranh gay gắt
với nhau về lợi ích, về sử dụng quyền lực chính trị của mình. Sự khác nhau đó bị chi
phối bởi năng lực chủ quan của chủ thể quyền lực, tức khả năng sử dụng những giá trị
xã hội, những nguồn lực, sự tổ chức lực lượng cả về vật chất lẫn tinh thần…. Nếu
không có năng lực này thì vị trí, vai trò của một giai cấp, một nhóm xã hội, một lực
lượng xã hội thì cho dù thuận lợi về mặt lịch sử cũng chỉ là mãi là nguồn lực, không
thể trở thành giai cấp thống trị xã hội được. Quyền lực chính trị tất yếu thuộc về giai
cấp, tầng lớp xã hội đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến của xã hội, đại biểu
cho xu hướng tiến bộ của sản xuất và do đó đại biểu cho lợi ích chung của xã hội.
Quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước chứa đựng những đặc trưng cơ bản của quyền lực chính trị.
Quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền được tổ chức thành
nhà nước. Giai cấp thống trị nắm quyền lực nhà nước thường là giai cấp của những
triết học phương Tây. Chính vì vậy, trước khi bàn vấn đề quyền lực nhà nước trong
triết học Mác – Lênin chúng ta cần tìm hiểu một vài quan niệm của các nhà tư tưởng
trong lịch sử nói về vấn đề này.
1.1.2. Các quan niệm về quyền lực của các nhà tư tưởng trước Mác
Platon (428 – 347 TCN), là nhà triết học Hy Lạp cổ đại đầu tiên trình bày một
cách có hệ thống về quyền lực. Platon quan niệm quyền lực là cái mà người có nó có
khả năng buộc người khác hành động theo ý chí của mình. Theo ông, trong xã hội có
bảy loại quyền lực: quyền lực gia đình, giữa người già với người trẻ, quyền lực giữa
tầng lớp quý tộc đối với tầng lớp dưới, giữa chủ nô và nô lệ, giữa người mạnh và kẻ
11
yếu (mà theo ông thì quyền lực này không được chấp nhận); thần quyền – quyền lực
của Chúa và cuối cùng mạnh nhất là quyền lực chính trị.
Quyền lực chính trị là quyền lực những người thông thái dẫn dắt, ra lệnh cho
người khác đi theo và chấp hành. Nhà nước xuất hiện là do nhu cầu của con người, nên
quyền lực nhà nước phải nằm trong tay những nhà thông thái (những nhà triết học),
những người đại diện cho trí tuệ của cộng đồng, những người có khả năng biết sắp đặt
cuộc sống theo một cách thức có lợi nhất, nhằm khuyến khích các phẩm chất riêng biệt
của các cá nhân như trí tuệ, thông thái, ôn hòa…, đảm bảo cho mọi cá nhân sẽ hành
động theo đúng chức năng của họ. Và luật pháp đưa các vĩ nhân vào bộ máy quyền lực
không phải để dành cho họ đặc quyền muốn đi đâu và làm những gì tùy thích, mà để
sử dụng họ cho công cuộc kiến thiết nhà nước. Mục tiêu của quyền lực nhà nước là
nhằm duy trì bình đẳng và công lý, thực hiện lợi ích của các cá nhân cũng như tạo nên
sự phát triển chung cho toàn xã hội.
Quan niệm về quyền lực của Platon đã được tiếp nhận và phát triển một cách có
phê phán bởi học trò nổi tiếng của ông là Aristotle (384 – 322 TCN). Aristotle là người
có kiến thức uyên thâm trong nhiều lĩnh vực nhất là lĩnh vực về chính trị.Về nguồn
gốc của quyền lực được ông phân tích thấu đáo hơn.
nắm quyền lập pháp, vừa nắm quyền hành pháp, vừa nắm luôn quyền xét xử. Tuy
nhiên, theo ông thì nhà nước lý tưởng là nhà nước hỗn hợp có các giai cấp chia sẻ các
loại quyền lực và có sự kiềm chế lẫn nhau ở một mức độ nào đó. Thời kỳ này, quyền
lực thống nhất, tập trung trong tay nhà vua nhằm tránh những rối loạn và khủng hoảng
của xã hội khi quyền lực phân chia vào các tầng lớp khác nhau. Sự phân chia quyền
lực thực chất là sự chia cắt quyền lực và mỗi bộ phận nắm giữ quyền lực thường có xu
hướng ngăn cản, chống đối hơn là thống nhất và hợp tác với nhau. Nhân dân không có
quyền mà chỉ có nghĩa vụ tuân thủ, họ cũng không được tham gia các quá trình của đời
sống chính trị. Chỉ trong nhà nước dân chủ chủ nô Hy Lạp và La Mã cổ đại thì quan
niệm chủ thể của quyền lực nhà nước là nhân dân và nhân dân là người trực tiếp thực
thi quyền lực nhà nước (nhân dân ở đây là những công dân nam tự do, đã trưởng
thành), nhân dân nắm giữ Hội nghị nhân dân một cách thường xuyên. Với hình thức
dân chủ trực tiếp này thì sự phân chia và kiểm soát quyền lực chỉ là sự kiểm soát của
toàn dân đối với những người đại diện được giao nhiệm thực hiện các công việc thông
qua hội nghị định kỳ toàn dân.
Cùng với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản ở phương Tây, quan niệm
về quyền lực nhà nước đã có những sự thay đổi đáng kể. Trước hết phải kể đến quan
niệm của Thomas Hobbes (1588 – 1679), ông là người đã tạo ra những bước đột phá
trong tư tưởng triết học chính trị thế kỷ XVII và tiếp tục có những ảnh hưởng sâu rộng
đến ngày nay. Ông là người đầu tiên đưa ra cơ sở việc thành lập ra nhà nước là khế
ước xã hội. Trong cuốn Leviathan (1956) thể hiện quan điểm của mình về quốc gia và
13
nhà nước hợp pháp. Ông khẳng định trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước, con
người rơi vào trạng thái hỗn loạn, cuộc chiến con người chống lại con người. Vì mục
đích an toàn hơn con người phải thành lập ra một nhà nước, phải trao tự do của mình
cho nhà nước và phải nhận được sự an toàn và mệnh lệnh từ nhà nước. Nhà nước là một
vật thể nhân tạo, cái đối lập với trạng thái tự nhiên của con người.“Leviathan” thể hiện
nhân dân ủy quyền cho một người và người đó có quyền làm bất cứ điều gì cần thiết
để duy trì trật tự và hòa bình.
Các tư tưởng chính trị của Hobbes đã được kế thừa và có bước phát triển mới
trong hệ thống triết học của J.Locke (1632 – 1709). Ông là người đã xây dựng tư
tưởng về quyền lực tối cao của nhân dân, nguồn gốc khế ước của nhà nước và quyền
lực, tách nhà thờ khỏi nhà nước, thế tục hóa sinh hoạt đạo đức của con người, đề cao
quyền lựa chọn cá nhân.
Trong học thuyết của mình ông đã trình bày quan điểm của mình về pháp lý tự
nhiên. Theo ông, trong trạng thái tự nhiên, con người có các quyền tự do, bình đẳng và
tư hữu. Các quyền này bắt nguồn từ bản chất muôn đời và bất biến của con người. Bởi
vậy, không ai có thể làm thay đổi được chúng. Trạng thái tự nhiên đối với ông là
những gì con người có thể được coi là thích hợp với mình trong khuôn khổ của quy
luật tự nhiên mà không cần xin phép người khác và không lệ thuộc vào ý chí của một
ai. Trạng thái tự nhiên là trạng thái mà con người tồn tại một cách tự nhiên trong đó và
là trạng thái tự do hoàn hảo, có thể sắp xếp cho hoạt động, tài sản của cá nhân họ theo
những gì mà họ cho là thích hợp trong khuôn khổ của luật tự nhiên, mà không bị phụ
thuộc hay ràng buộc về ý chí của một người nào đó. Trong trạng thái này bình đẳng có
nghĩa là không ai có quyền lực và quyền thực thi công lý nhiều hơn ai, giữa họ không
có sự lệ thuộc hay khuất phục, trừ khi đó là ý chí của vị chúa tể, chủ nhân của tất cả
bọn họ, nhưng phải được tuyên bố rằng ngài muốn đặt người này lên trên người kia,
ban tặng cho họ quyền thống trị không thể nghi ngờ và một chủ quyền tối cao không
thể hoài nghi.
Trong trạng thái tự nhiên đó thì luật tự nhiên cai quản bắt mọi người phải tuân
thủ và lí trí huấn thị cho toàn thể mọi người rằng tất cả đều bình đẳng và độc lập với
nhau. Do đó luật tự nhiên chi phối hay các quyền tự nhiên nắm vai trò thống trị. Ở đó
những quyền tự nhiên của con người là tối cao và bất khả xâm phạm. Đó là quyền
được sống, quyền tự do và quyền sở hữu.
Mặt khác, cũng theo luật tự nhiên mà con người phải kết hợp với nhau hình thành
nên một cộng đồng, xã hội. Sự vận động của xã hội dẫn đến tình trạng người dư thừa,
kẻ thiếu đói, xã hội rơi vào tình trạng mất an ninh, con người lại không có thiện chí tôn
quyền lực xã hội. Quyền lập pháp là luật thực định đầu tiên và cơ bản của mọi nhà
nước và quyền lực này là tối cao. Mặc dù quyền lập pháp giữ vai trò hàng đầu về
phương diện luật pháp, song nó cũng cần tuân thủ những yêu cầu nghiêm ngặt. Nó bị
hạn chế bởi phúc lợi xã hội, không được mang tính chuyên chế và phản mục đích tối
cao là bảo vệ toàn thể công dân và không được tước mất sở hữu của con người mà
không có sự đồng ý của chính họ.
Nét đặc trưng trong học thuyết của John Locke là việc khởi thảo học thuyết về sự
phân chia quyền lực.Ngoài quyền lập pháp và quyền tư pháp, trong xã hội công dân
16
còn có quyền hành pháp. Cả ba quyền này đều do nhân dân ủy quyền cho nhà nước,
hay nói cách khác nhà nước đều nhận từ nhân dân thông qua một sự chuyển nhượng
bằng khế ước xã hội. Sự phân quyền là cần thiết để tiến hành việc thực thi pháp luật và
quản lý xã hội trên thực tế. Dưới con mắt của Locke, quyền lực lập pháp là tối cao song
không phải là vô hạn bởi vì những điều kiện nhất định. Quyền lập pháp có thể triệu hồi
hay giải tán cơ quan hành pháp nhưng điều này không thể biến nó thành quyền lực tối
cao, mà đơn giản nó là quyền lực được ủy thác từ nhân dân để hành động vì những mục
đích nhất định vì lợi ích của nhân dân. Cho nên nó không phải là một quyền lực độc lập
mà phải phụ thuộc vào nhân dân – chủ thể tối cao của quyền lực trong xã hội. Như vậy,
Locke đã phác họa những đặc điểm chung của nhà nước pháp quyền, luận chứng cho
nguyên tắc phân quyền, qua đó đặt nền móng cho chế độ nhà nước dân chủ tự do đứng
đối lập với chế độ quân phiệt, chế độ chuyên chế và nền bạo chính.
Trong tác phẩm “Hai chuyên luận về chính quyền” (1690) được coi là lý thuyết
đầu tiên chống lại tư tưởng chuyên chế, khi Locke đưa ra lý thuyết về sự chế ước
quyền lực chuyên chế của nhà vua. Lý thuyết căn bản dựa trên hai nền tảng là quyền tự
nhiên của con người và khế ước xã hội, nền tảng của chế độ nhà nước. Ông cho rằng
con người vốn dĩ tự do, bình đẳng và độc lập; con người đã lựa chọn một cuộc sống
chung cùng với những người khác, từ bỏ trạng thái tự nhiên để tuân thủ một khế ước
tối đa tự do chính trị trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
Ông đi sâu vào nghiên cứu cách thức tổ chức và thực thi quyền lực chính trị,
quyền lực nhà nước và ông đã đưa ra lý thuyết về sự phân chia quyền lực nhà nước và
có sự kiềm chế lẫn nhau giữa các loại quyền lực nhà nước. Ông tiếp cận quyền lực từ
sự thỏa thuận xã hội, nhà nước là một thỏa thuận của tất cả các thành viên trong cộng
đồng, xã hội. Nhà nước và xã hội ký kết một bản khế ước nhằm thực hiện những mục
tiêu chung. Như vậy theo ông, nguồn gốc và cơ sở của quyền lực là sự thỏa thuận chứ
không phải sức mạnh là cơ sở của quyền lực. Và phân chia quyền lực thành ba quyền:
quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, trong đó các quyền này độc lập
với nhau và tương tác lẫn nhau để đảm bảo công bằng xã hội và phát triển đất nước
dưới quyền cai trị của một ông vua sáng và các quyền này trở thành lực lượng kiềm
chế nhau. Quyền lập pháp được chia giữa tư sản và phong kiến. Nghị viện gồm hai
viện, Thượng viện là đại diện cho quý tộc, Hạ viện đại diện cho nhân dân. Quyền hành
pháp thì thuộc quý tộc và thành lập chính phủ của nhà vua nhưng chịu trách nhiệm
trước nhân dân. Ông cho rằng khi quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong
tay một người hay một viện nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa, vì người ta sợ
rằng chính ông ta hay viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài và để thi hành một cách độc tài.
Nếu tư pháp mà nhập lại với lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và
quyền tự do của công dân. Và nếu một người hay một tổ chức quan chức hoặc của quý
tộc hoặc của dân chúng nắm cả ba quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết. Học thuyết
18
phân quyền của ông đã trở thành nguyên tắc căn bản về tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước tư sản. Vì vậy, quyền lực nhà nước với tư cách là quyền lực của nhân
dân ủy quyền không được trao cho một ai hoàn toàn và sẽ nguy hiểm nếu quyền lực
nhà nước không được kiểm soát để rơi vào tay quý tộc hay tư sản.
Cùng với Montesquier, J.J.Rousseau (1712 – 1778) là một nhà triết học thuộc
trào lưu khai sáng, có ảnh hưởng lớn đển cuộc Cách mạng Pháp năm 1789, sự phát
quyền lực. Quyền lực của ý chí chungchính là quyền lực tuyệt đối, không thể phân
chia và bất khả xâm phạm. Quyền lực nhà nước phải tập trung trong tay một chủ thể là
nhân dân và không bị hạn chế bởi bất kỳ một đạo luật nào. Hay nói cách khác là quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân. Còn sự phân chia các cơ quan nhà nước thành lập
pháp, hành pháp, tư pháp thực chất chỉ là sự phân định chức năng, thẩm quyền giữa
các cơ quan trong bộ máy. Vì các cơ quan này đều chịu sự kiểm soát và điều khiển bởi
ý chí chung, bởi lẽ mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, để ngăn ngừa việc tiếm
quyền từ phía các cơ quan.
1.1.3.Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền lực nhà nước
C.Mác và Ph.Ănghen trên cơ sở kế thừa những luận điểm trên của các nhà tư
tưởng chính trị trước đó về quyền lực, đã khẳng định rằng, quyền lực xuất hiện và tồn
tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của con người.
Là lãnh tụ chính trị lỗi lạc của giai cấp công nhân, hơn ai hết C. Mác, Ănghen và
Lênin trong quá trình nghiên cứu lý luận tổng kết thực tiễn để xây dựng nên học thuyết
đấu tranh cách mạng đã có những đóng góp khoa học trong việc tiếp cận và nhận thức
về vấn đề quyền lực, đặt nền móng cho quan niệm mới về quyền lực chính trị nói
chung, quyền lực chính trị của giai cấp công nhân nói riêng; con đường và biện pháp
để giai cấp công nhân xác lập quyền lực chính trị của mình. Theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lênin thì nhà nước thực chất là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính
trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý đặc
biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị
trong xã hội.
Ph. Ănghen (1820 – 1895), trong tác phẩm “Bàn về quyền uy”, khi nói về sự cần
thiết của quyền lực, Ănghen đã nêu lên khái niệm quyền lực và các tiền đề tồn tại của
nó. Ănghen đã chỉ ra rằng quyền lực là cái tất yếu cần phải có trong xã hội hiện đại vì:
“Hành động liên hợp, quá trình công tác tùy thuộc lẫn nhau, ngày càng phức tạp, đang
thay thế cho hành động riêng rẽ của từng cá nhân. Nhưng đã là hành động liên hợp thì
phải có tổ chức, mà tổ chức thì liệu không dùng đến quyền uy có được không?”[3,
tr.6]. Khái niệm quyền uy được Ănghen sử dụng là khái niệm quyền lực mà chúng ta
đang nói tới: “Quyền uy ở đây có nghĩa là ý chí của người khác đưa ra bắt buộc chúng
C.Mác và Ph. Ănghen tuy ít bàn về phạm trù quyền lực, nhưng những gì hai ông
để lại đã đưa một sự luận giải về quyền lực chính trị mà chủ yếu là quyền lực của giai
cấp tư sản và giai cấp vô sản. Vấn đề này được hai ông tiếp cận từ góc độ kinh tế học,
tức nghiên cứu quá trình tổ chức và phát triển sản xuất của xã hội. Quá trình phân công
lao động xã hội, địa vị kinh tế - xã hội của mỗi người, của nhóm người, hay của một
giai cấp được xác lập trong sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động và của cải vật chất.
21
Chính nhờ vào địa vị kinh tế - xã hội mà mỗi người, nhóm người hoặc giai cấp nắm
giữ là cơ sở cho việc nắm giữ quyền lực của họ.
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”,
Ph.Ănghen đã chỉ ra nguyên nhân cơ bản nhất của quá trình hình thành, phát triển của
chế độ tư hữu và giai cấp là do sự phát triển của sản xuất và phân công lao động xã hội
[15, tr. 32]. Sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất đã tạo tiền đề cho sự
thay đổi phương thức sản xuất nguyên thủy. Nền kinh tế tự nhiên, săn bắt, hái lượm
chuyển sang chăn nuôi, trồng trọt, làm thủ công… dẫn đến cuộc phân công lao động
xã hội trên quy mô lớn, một bộ phận đông đảo dân cư chuyên làm một nghề nhất định.
Với sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, vào thời cổ đại đã diễn ra ba
lần phân công lao động xã hội. Lần phân công thứ nhất, chăn nuôi tách ra khỏi trồng
trọt và trở thành ngành kinh tế độc lập, tạo đòn bẩy cho kinh tế và hình thành mầm
mống tư hữu. Lần phân công thứ hai, thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp, bước
đầu hình thành chế độ nô lệ, số lượng nô lệ ngày càng tăng, bắt đầu có sự phân hóa xã
hội. Lần phân công thứ ba, sản xuất tách bạch với trao đổi dẫn đến sự xuất hiện của
tầng lớp thương nhân, giai cấp không tham gia sản xuất nhưng những người sản xuất
lại phụ thuộc vào tầng lớp này. Trải qua ba lần phân công lao động xã hội, nền sản
xuất được chuyên môn hóa hơn, sản phẩm được làm ra ngày càng nhiều hơn không
những đủ cho tiêu dùng mà còn dư thừa, kèm theo đó là sự tích trữ, đồng thời xuất
hiện một bộ phận chiếm đoạt của cải dư thừa đó và giàu lên nhờ tích trữ, đầu cơ. Từ