ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ
LUẬN CHÍNH TRỊ TẠ ÁNH TUYẾT
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ
THÀNH PHẦN KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN TRONG
CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TỪ 1976 - 2001 NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN THANH TÂM
LUẬN VĂN ThS LỊCH SỬ
HÀ NỘI 2006
trạng vi phạm luật kéo dài gây nhiều thiệt hại cho chủ sở hữu trí tuệ và người
tiêu dùng.
Việt Nam đang chuẩn bị gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO). Đặc
biệt kể từ ngày 26/10/2004 công ước Berne mà Việt Nam cam kết thực hiện để tạo
ra môi trường kinh doanh lành mạnh bắt đầu có hiệu lực.
Trong những năm qua, các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ta đã tích
cực nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các tổ chức, cá
nhân trong nước cũng như các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh
thổ Việt Nam. Song thực tiễn cho thấy rằng số lượng các vụ tranh chấp, vi phạm
quyền sở hữu trí tuệ vẫn không giảm mà ngược lại càng gia tăng.
Từ tình hình trên buộc chúng ta phải nhìn lại một cách thẳng thắn, khách
quan về việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và vai trò của nó đối với sự phát triển
kinh tế xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua, từ đó vạch ra những giải pháp
đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh của đất nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế
xã hội. Do đó “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với việc phát triển kinh tế xã hội
ở Việt Nam” được chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ này.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trên thế giới việc nghiên cứu sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
đã được các nước và các tổ chức quan tâm, có nhiều công trình nghiên cứu về
vấn đề này trong thời gian qua.
Ở Việt Nam cho đến nay vấn đề sở hữu trí tuệ vẫn là vấn đề mới mẻ vì
vậy việc nghiên cứu quyền sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt
Nam còn ít ỏi. Trong Thư viện Quốc gia chỉ có hai luận án tiến sỹ viết về đề tài
này: 4
- Tiến sỹ Lê Xuân Thảo: “Đổi mới và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp
luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị trường Việt Nam”-
Chuyên ngành Luật học.
quyền sở hữu trí tuệ.
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
và phân tích tác động của nó đến sự phát triển kinh tế nói chung.
+ Khảo sát tình hình thực thi việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
trong thời gian qua và ảnh hưởng của nó đến việc phát triển kinh tế xã hội.
+ Đề xuất những giải pháp chủ yếu ở tầm vĩ mô để thực thi nghiêm việc
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ở Việt
Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu.
Tuy có đề cập cơ sở pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ, nhưng luận văn
không đi sâu nghiên cứu pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mà dưới góc
độ kinh tế chính trị, luận văn làm nổi bật vai trò của việc bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và sự phát triển kinh tế - xã hội
ở Việt Nam nói riêng.
* Phạm vi nghiên cứu 6
Tập trung vào bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, bản quyền tác giả, có
tham khảo kinh nghiệm của một số nước về vấn đề này.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của Kinh tế Chính trị, nhất
là phương pháp trừu tượng hoá khoa học, kết hợp lôgíc với lịch sử, phương pháp
phân tích và tổng hợp, sử dụng số liệu thống kê.
6. Những đóng góp của luận văn
- Nêu rõ được tầm quan trọng của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phát
triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế ở Việt Nam nói riêng.
- Khắc họa thực trạng hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
quyền sở hữu trí tuệ trở thành quan trọng nhất hơn cả quyền sở hữu về vốn, tài
nguyên thiên nhiên và đất đai. Giá trị xã hội cũ lấy sản phẩm vật chất làm chủ
đạo nay đang được thay thế bằng giá trị mới lấy việc sản xuất thông tin, tri thức
để tiến hành sản xuất làm chủ đạo. Ai nắm được tri thức thì người đó dành được
ưu thế và thắng lợi trong cuộc cạnh tranh. Đây là tài sản vô hình nhưng có khả
năng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần to lớn, mang lại sức mạnh và ưu
thế cạnh tranh cho chủ sở hữu.
Sở hữu trí tuệ được thể chế hoá thành các quyền cụ thể bao gồm quyền tác
giả (đối với tác phẩm), quyền liên quan đến quyền tác giả (quyền đối với sự trình
diễn tác phẩm) và quyền sở hữu công nghiệp (quyền đối với phát minh, sáng chế,
giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lý,
giống cây trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bí mật kinh doanh ). 8
1.1.2. Những đặc điểm của tài sản trí tuệ
+ Thứ nhất: Đó là tài sản vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể và khó
kiểm soát.
Tài sản trí tuệ là nguồn khai thác vô tận không bao giờ cạn kiệt, có thể rất
nhiều người chiếm hữu và sử dụng nó mà không làm giảm đi giá trị thực tế của
nó. Một tri thức có thể thuộc quyền sở hữu của nhiều người. Có thể vô số người
cùng sử dụng một tri thức mà không ai mất phần. Một người có thể sử dụng
nhiều lần mà không phải trả thêm tiền. Người sau có thể kế thừa “tài sản trí tuệ”
của người đi trước để tạo ra một tri thức mới. Bởi vậy, tài sản trí tuệ là tài sản
khó kiểm soát nhất.
+ Thứ hai: Chi phí cho nghiên cứu rất lớn nhưng sản phẩm lại rẻ.
Ví dụ: Chi phí cho việc nghiên cứu đĩa CD đầu tiên tổn phí hết 50 triệu
USD, nhưng đĩa thứ hai và các đĩa tiếp theo chỉ tốn 3 USD [51].
Như vậy sản phẩm phải được bán với giá bao gồm cả chi phí cho nghiên
cứu thì mới thu hồi được vốn, có lợi nhuận và bản quyền dành cho tác giả. Nếu
khai thác tri thức mà nếu được tự do sử dụng sẽ đem lại nhiều lợi ích cho xã hội
hơn. Do đó thời gian bảo hộ quá dài, sẽ cản trở tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Ví dụ: Việc Quốc hội Anh kéo dài thời gian bảo hộ bằng sáng chế cấp cho
Watt tới 25 năm đã dẫn tới chỗ Watt cản trở việc ứng dụng hơi nước có áp lực
cao vào nghành đường sắt. Nếu độc quyền của Watt chấm dứt trước năm 1783
thì nước Anh sẽ có đường sắt sớm hơn [84].
Việc công nhận và ứng dụng những thành tựu sáng tạo của con người,
khai thác nó như một tài sản kinh tế sẽ là chìa khoá để đạt được sự thịnh vượng 10
của các quốc gia. Chính phủ của nhiều nước trên thế giới đã nhận thức sâu sắc
vai trò của sở hữu trí tuệ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nên đã chủ động
gắn các chính sách về sở hữu trí tuệ với chiến lược phát triển tổng thể kinh tế xã
hội của nước mình.
Khái niệm “tài sản trí tuệ” và “luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ” đã được
đưa vào hệ thống luật của các nước phát triển từ cuối thế kỷ XIX và trở thành
một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Tại Vương quốc Anh, việc bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ được luật hoá tại bộ luật Anne năm 1709, tại Pháp hệ thống
bảo hộ được triển khai từ năm 1789 và tại Mỹ từ năm 1787.
Khái niệm “quyền sở hữu trí tuệ” được định nghĩa theo nhiều cách khác
nhau. Có học giả cho rằng không có một khái niệm chung đơn nhất có thể bao
quát được tất cả các tài sản trí tuệ. Có học giả lại cho rằng quyền sở hữu trí tuệ
bao gồm các đối tượng như: Sáng chế, quyền tác giả, bí mật thương mại, tên
thương mại, và tập hợp các quyền khác. Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)
đã đưa ra một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi nhất: “Sở hữu trí tuệ được
hiểu rộng rãi hơn và bao gồm các quyền liên quan tới các sản phẩm văn học nghệ
thuật, khoa học, sự trình diễn của các nghệ sĩ, các chương trình phát và truyền
thanh, phát và truyền hình, các sáng chế thuộc mọi lĩnh vực, các phát minh khoa
học, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, các tên
các cơ chế thực thi đủ mạnh để ngăn chặn việc sử dụng các tài sản trí tuệ một
cách bất hợp pháp của bên thứ ba. Bởi vì tài sản trí tuệ là một tài sản vô hình và
công khai với công chúng (trừ bí mật thương mại) tài sản trí tuệ có thể bị lấy đi
tự do nếu không có sự bảo hộ nghiêm ngặt của pháp luật. 12
Ví dụ: Một tác phẩm văn học vừa được in ra nếu thiếu sự bảo hộ ngay lập
tức nó sẽ bị sao chép và bán với giá rẻ hơn, làm cho nhà sản xuất bản gốc không
những không thu được lợi nhuận và còn không thu hồi được vốn và những chi
phí dành cho tác giả.
Công nghệ cho phép số hoá các từ ngữ, âm thanh, hình ảnh cũng chính là
công nghệ cho phép bất kỳ người nào cũng đều dễ dàng sao chép một cách trái
phép, công nghệ cũng cho phép người khác giả mạo một cách dễ dàng nhãn mác
của người khác và dán nhãn mác đó vào hàng hoá của mình. Và sáng chế một
khi đã được cấp bằng trở thành tài liệu công khai mà người khác có thể sao chép
lại mà không xin phép. Do đó, biện pháp duy nhất để phòng chống “trộm cắp”
sáng chế đã được cấp bằng, tác quyền, hoặc nhãn hiệu hàng hoá… là thực hiện
các chế tài nghiêm khắc như chế tài hành chính, dân sự, hình sự.
Tác phẩm được bảo hộ phải là tác phẩm nguyên gốc trong lĩnh vực văn
học nghệ thuật, bao gồm phần mềm máy tính và cơ sở dữ liệu. Bảo hộ quyền tác
giả không phân biệt hình thức, ngôn ngữ thể hiện và chất lượng tác phẩm.
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được thể hiện bằng việc nhà nước cấp
bằng bảo hộ cho chủ thể sở hữu công nghiệp. Bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cấp là chứng chỉ duy nhất của nhà nước xác nhận quyền sở hữu
công nghiệp của chủ thể được cấp văn bằng, quyền tác giả của các tác giả sáng
chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và xác nhận khối lượng bảo hộ đối
với quyền sở hữu công nghiệp (Khoản 1, Điều 9 Nghị định số 63/CP ngày
24/10/1996).
Quyền sở hữu công nghiệp của một chủ thể phát sinh từ thời điểm được
14
chấm dứt hành vi xâm phạm và phục hồi quyền bị xâm phạm. Tức là theo cơ chế
bảo hộ tự động.
Về thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được quy định tại điều 791
(Bộ luật Dân sự), các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ trong thời hạn
bảo hộ có hiệu lực và có thể được gia hạn theo quy định của pháp luật.
Bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có hiệu lực kể từ ngày cấp cho
đến khi kết thúc hoặc chấm dứt thời hạn hiệu lực đăng ký quốc tế về nhãn hiệu.
Thời gian bảo hộ ở đây là thời gian nhà nước bảo đảm cho chủ sở hữu,
chủ sử dụng có quyền khai thác các đối tượng của mình nhằm bù đắp lại các chi
phí đã bỏ ra và để hưởng lợi từ các đối tượng đó.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì:
+ Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 20 năm tính từ
ngày nộp đơn hợp lệ.
+ Bằng độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10
năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ.
+ Bằng đối tượng kiểu dáng công nghiệp có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 5
năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ, có thể gia hạn liên tiếp hai lần mỗi lần 5 năm.
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất sứ hàng hoá có hiệu lực vô
thời hạn từ ngày cấp.
Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường là cơ
quan có thẩm quyền xem xét và quyết định gia hạn hiệu lực của văn bằng bảo
hộ.
Thời gian bảo hộ theo pháp luật Việt Nam phù hợp với thông lệ của các
nước trên thế giới, bảo đảm thời gian cần thiết bù đắp những chi phí mà tác giả 15
chủ sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích đã bỏ ra, do đó khuyến khích sự sáng tạo
của các thành viên trong xã hội.
trồng năm 2004, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật hải quan
năm 2002… và các văn bản khác hướng dẫn thi hành luật.
1.1.4. Mục đích của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ trở nên đặc biệt quan trọng và là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia
trong các quan hệ kinh tế quốc tế. Chưa bao giờ vấn đề sở hữu trí tuệ lại được
đưa ra một cách cấp bách như hiện nay khi chuyển sang nền kinh tế tri thức, dựa
vào những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ với hàm lượng trí tuệ
ngày càng cao.
Thực tiễn cho thấy muốn khuyến khích đầu tư sáng tạo, chuyển giao công
nghệ mới tiên tiến hiện đại thì phải ngăn chặn có hiệu quả nguy cơ sử dụng bất
hợp pháp các thành quả sáng tạo.
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm các mục đích sau:
Một là: Bảo vệ lợi ích của người phát minh, khuyến khích phát hiện cái
mới.
Quyền sở hữu trí tuệ quyết định khả năng tồn tại và hoạt động trong tương
lai của mỗi doanh nghiệp. Một cuộc điều tra gần đây cho thấy: Năm 1982
khoảng 62% tài sản của doanh nghiệp ở Hoa Kỳ là tài sản vật chất nhưng đến
năm 2000 con số đó giảm xuống chỉ còn 30%. Vào đầu những năm 1990 ở châu
Âu tài sản vô hình chiếm 1/3 tổng số tài sản. Tại Hà Lan năm 1992 tài sản vô
hình chiếm 35% tổng đầu tư của nhà nước và tư nhân [85, tr.54]. 17
“Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của một nước chịu ảnh hưởng của chính sách sở
hữu trí tuệ của chính phủ” [85, tr.93]. Chủ sở hữu có thể tự mình ứng dụng hoặc
chuyển nhượng bằng độc quyền sáng chế để thu lại chi phí đã bỏ ra tái sản xuất
ra tri thức.
Nhiều khi sản phẩm trí tuệ có tính ứng dụng cao cho hoạt động kinh tế -
xã hội nhưng do hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không nghiêm ngặt khiến
tiêu dùng và hậu quả sẽ rất lâu dài, không thể lường trước được. Hậu quả là nhà
sản xuất chân chính bị thiệt thòi, uy tín của doanh nghiệp bị suy giảm. Trong khi
đó lợi ích của các doanh nghiệp vi phạm lại càng gia tăng.
Ví dụ: Hiệp hội Điện ảnh Hoa Kỳ ước tính rằng các phim bị quay trộm
bằng máy ghi âm và phim ăn cắp làm cho nghành công nghiệp phim ảnh Hoa Kỳ
thiệt hại khoảng 2,5 tỷ USD mỗi năm.
Tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với nạn hàng giả và
hầu hết bị giảm thị phần bởi hàng giả. Ông Thịnh Sỹ, phó Giám đốc Công ty
bánh kẹo Tràng An cho biết: Do sự gia tăng của hàng giả nên thu nhập của công
ty Tràng An về mặt hàng bánh kẹo giảm 30% so với năm ngoái. Công ty bánh
kẹo Hải Hà cũng bị giảm 40% sản lượng so với trước đây. Ông Chấn Văn
Thành, phó Giám đốc công ty TNHH Hữu Tiến cho biết, trong năm 2000 năng
suất và doanh thu của công ty đã giảm xuống đến 70% so với năm trước đây do
bị hàng giả lấn át [47].
Theo luật pháp, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bên vi phạm phải bồi
thường, nhưng đây là vấn đề rất phức tạp và nhạy cảm, không phải lúc nào người 19
bị thiệt hại cũng có thể đưa ra bằng chứng để chứng minh thiệt hại của mình, đặc
biệt là các thiệt hại vô hình như uy tín trên thương trường.
Ba là: Bảo vệ lợi ích người tiêu dùng.
Chất lượng của sản phẩm là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết
định mua hàng của người tiêu dùng. Nhãn hiệu và uy tín của sản phẩm là chỉ dẫn
thương mại giúp người tiêu dùng tìm đến sản phẩm yêu thích đáp ứng nhu cầu và
thị hiếu của mình. Người tiêu dùng thường có thói quen mua hàng mang nhãn
hiệu mà họ đã quen dùng vì họ tin tưởng hàng hoá đó có chất lượng tốt như họ
đã được biết.
Hiện nay nạn hàng giả phát triển với quy mô quốc tế. Việc ăn cắp bản
quyền và giả mạo hàng hoá không chỉ diễn ra với các hàng tiêu dùng như túi
trọng đặc biệt đối với hoạt động thương mại. Hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ yếu là một trong những lý do chính dẫn đến các hoạt động kinh doanh phi
pháp và mang tính “chụp giật”. Nếu hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mạnh
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, giảm thiểu rủi ro và đó
chính là tiền đề thúc đẩy sự phát triển thương mại [46].
Bốn là: Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng đóng vai trò to lớn đối với đầu tư
nước ngoài và chuyển giao công nghệ. Việc lựa chọn hình thức đầu tư và kinh
doanh của nhà đầu tư phụ thuộc vào thị trường và hệ thống luật pháp của nước
sở tại, trong đó hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò quan trọng.
Nét đặc trưng của các công ty đa quốc gia là chúng sở hữu những khoản
tài sản vô hình quan trọng nhất. 21
Ví dụ: Tài sản vô hình của hãng Walt Disney chiếm tới 70,9% tổng tài
sản, hãng Mike chiếm 76%, còn ở các hãng kinh doanh máy tính phần mềm như
Microsoft thì tài sản vô hình chiếm tới 98% Xét trên góc độ quyền sở hữu trí
tuệ, đó là các nhãn hiệu nổi tiếng, các sáng chế đã tạo nên danh tiếng của một
công ty. Các công ty đa quốc gia có xu hướng xây dựng các công ty 100% vốn
của mình tại các nước có hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mạnh, vì họ có
thể bảo hộ tốt bí mật công nghệ và nhãn hiệu hàng hóa. Một trong các yếu tố mà
nhà đầu tư quan tâm là khả năng kiểm soát thị trường phân phối và tiêu thụ sản
phẩm. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ là một giải pháp hữu hiệu để loại trừ cạnh
tranh không lành mạnh, chống nạn làm hàng giả… Quyền sở hữu công nghiệp
gắn liền với việc chuyển giao công nghệ, công nghệ mới thường là các giải pháp
kỹ thuật mới có tính sáng tạo được cấp bằng độc quyền theo cơ chế bảo hộ sáng
chế. Trong chuyển giao công nghệ, người được chuyển giao muốn tiếp thu giải
pháp kỹ thuật được bảo hộ sáng chế trước tiên phải được chuyển giao quyền sử
dụng, tức là được khai thác công nghệ trong một thời hạn, lãnh thổ với những
hạn chế ràng buộc nhất định về nghĩa vụ. Để bảo vệ uy tín của công nghệ, của
1.2.1. Kinh nghiệm về thể hoá quyền sở hữu trí tuệ
Ý thức được vai trò của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sự phát
triển kinh tế xã hội, hơn 100 năm qua các quốc gia trên thế giới đã cùng nhau
đưa ra nhiều thoả ước nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Những điều ước quốc tế
quan trọng nhất liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là:
- Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp 1883.
- Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật 1886.
- Công ước Rome về bảo hộ các nhà biểu diễn, các nhà sản xuất băng đĩa
âm thanh và các nhà tổ chức phát thanh 1961. 23
- Công ước Geneva 1971 về bảo hộ các nhà sản xuất băng đĩa âm thanh và
việc chống sao chép trái phép các băng đĩa âm thanh.
- Công ước Brussels về việc phổ biến các tín hiệu mang chương trình được
truyền qua vệ tinh 1974.
- Hiệp định về các lĩnh vực sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại 1993.
- Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến
thương mại (TRIPS).
Để thực hiện những hiệp ước nói trên, mỗi nước phải xây dựng một hệ
thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế thực thi đủ mạnh. Ở châu Âu
và Hoa Kỳ, hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hình thành rất sớm
đầu thế kỷ XVI.
Ví dụ: Đạo luật của Nữ hoàng Anne ở nước Anh là bộ luật về bản quyền
sớm nhất được thông qua vào năm 1709.
Đạo luật về đặc quyền năm 1642 là bộ luật thành văn đầu tiên của Anh đã quy
định một đặc quyền cho sáng chế trong một thời gian nhất định.
Luật về bằng độc quyền sáng chế đầu tiên của Pháp quy định về bảo hộ
quyền của người sáng chế vào năm 1791, sau cách mạng Pháp và tuyên ngôn về
quyền con người và quyền công dân.
Năm 2000
Năm 2001
Tăng trưởng (%)
Braxin
161
193
20
Trung Quốc
579
1670
188
Ấn §é
156
316
103
Mªhic«
71
107
51
Hµn Quèc
1514
2318
53
Singapo
225
271
20
Nam Phi
386
418
kinh ngc (39%). Tuy nhiờn t l ny ó tng l 49% vo nm 1994, gim 10%
trong vũng 5 nm. Ngi ta c tớnh rng trong nm 1999 ngnh cụng nghip
phn mm ó b mt 12 t USD (trong khi ngõn sỏch liờn hp quc trong niờn
khoỏ ti chớnh 2 nm 2000 - 2001 l 2,54 t USD) [85, tr.103].
Ngnh cụng nghip ụ tụ c tớnh nn ph tựng gi lm h b mt 12 t
USD mi nm, phn ln trong s ú sy ra chõu u [71, tr.16].
Ngnh dc phm ó b tn tht doanh thu bỏn hng trc tip trong nm
1999 l 12 t USD, õm nhc l 4,1 t USD (bỏo cỏo v nn chim ot ca IFPI