Giải phóng phụ nữ: từ quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin đến tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và thực tiễn ở nước ta - Pdf 33

LUẬN VĂN:

Giải phóng phụ nữ: từ quan điểm chủ nghĩa
Mác - Lênin đến tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và
thực tiễn ở nước ta


mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người đã từng là vấn đề xuyên suốt của các cuộc đấu tranh giai
cấp, đấu tranh dân tộc trong lịch sử, và cho đến nay nó vẫn là một trong những vấn
đề nổi bật của thời đại chúng ta. Quyền con người, dĩ nhiên trước hết là quyền cho
mỗi cá nhân, quyền được khẳng định mình là một chủ thể với những quyền lợi, nghĩa
vụ như mọi người khác. Thế nhưng loài người đã từng vạch đôi xã hội, một nửa là
đàn ông, nửa kia là đàn bà, trong đó đàn bà đã từng bị hạn chế hoặc bị loại trừ khỏi
những quyền con người cơ bản. Chính vì lẽ đó, vấn đề giải phóng con người, đặc
biệt là giải phóng phụ nữ luôn được các nhà tử tửụỷng xã hội chủ nghĩa quan tâm và
ngày nay nó là vấn đề chung của toàn nhân loại, bởi lẽ quan tâm đến phụ nữ cũng có
nghĩa là quan tâm đến nguồn lực có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của xã hội loài người.
Lịch sử xã hội đã chứng minh rằng sự tiến bộ của xã hội sẽ chậm lại nếu
trong xã hội có một bộ phận đông đảo người bị áp bức bóc lột, bị hạn chế hoặc bị
loại trừ. Vì vậy vấn đề giải phóng phụ nữ đã được đặt ra từ rất lâu. Từ giữa thế kỷ
thứ XIX chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời đã góp phần rất quan trọng trong việc giải
phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ (mà ngày nay theo cách gọi của các nhà
khoa học hiện đại ở Việt Nam là bình đẳng giới) như là một trong những nội dung
của cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đây
cũng là một trong những đóng góp vĩ đại của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với sự phát
triển của khoa học giới trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phụ nữ luôn giữ

khó khăn của họ, về mặt nào đó còn nặng về huy động, khai thác sự đóng góp của phụ
nữ mà chưa coi trọng đúng mức việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt, tạo điều
kiện cho phụ nữ phát triển, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống. Chính
những điều này đã làm chậm quá trình thực hiện mục tiêu công bằng xã hội và bình
đẳng giới ở nước ta hiện nay.
Tình hình trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên
cứu lý luận về giải phóng phụ nữ một cách thấu đáo từ quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin
đến thực tiễn Việt Nam, góp phần khẳng định và tìm ra những điều kiện cơ bản, giải pháp


chủ yếu nhằm thực hiện công cuộc giải phóng phụ nữ, phát huy vai trò phụ nữ trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là nhiệm vụ vừa cơ bản, lâu dài, vừa có ý nghĩa thời
sự cấp bách, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn đảng, toàn dân, trước hết là các ngành, các cấp,
các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu vấn đề này. Chính thực tế trên đã thôi thúc tôi
chọn đề tài: "Giải phóng phụ nữ: từ quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin đến tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và thực tiễn ở nước ta" làm
luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề giải phóng phụ nữ từ lâu đã được nhiều nhà tư tưởng và các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác - Lênin quan tâm nghiên cứu và được đề cập rất sớm trong
nhiều tác phẩm, điển hình như: "Mác - Ăngghen - Lênin về giải phóng phụ nữ"; "Ba
cuộc cách mạng với vấn đề giải phóng phụ nữ" (1976); "Bác Hồ với sự nghiệp giải
phóng phụ nữ" (1990). Ngoài ra còn có những tác phẩm lý luận quan trọng của C.Mác,
Ph.Ăngghen và V.I.Lênin như: "Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh"; "Gia đình thần
thánh"; "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản"; "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu
và của nhà nước"; "Chủ nghĩa tư bản và lao động nữ"…
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ những ngày đầu của cách mạng
cũng giành sự quan tâm thích đáng trong việc đề ra chủ trương, đường lối, chính
sách nhằm giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ. Với sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước, sự tài trợ của các tổ chức quốc tế, sự tâm huyết của các nhà khoa

Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta, những nghiên cứu chuyên sâu các quan điểm
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về phụ nữ còn rất ít. Trong thư mục các công trình
nghiên cứu và bài viết đã công bố, xuất bản của cán bộ Trung tâm nghiên cứu khoa
học về gia đình và phụ nữ có rất ít ấn phẩm chuyên bàn về vấn đề giải phóng phụ nữ.
Trước tình hình đó, tác giả chọn đề tài: "Giải phóng phụ nữ: từ quan điểm chủ nghĩa
Mác - Lênin đến tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và
thực tiễn ở nước ta" với mong muốn được góp một phần công sức nhỏ bé vào sự nỗ lực
chung của toàn xã hội đối với vấn đề giải phóng phụ nữ cả về phương diện lý luận lẫn
thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích


Trên cơ sở làm rõ những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về giải phóng phụ nữ, tác giả luận
chứng những điều kiện cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm giải phóng phụ nữ,
thực hiện bình đẳng giới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích đề ra, tác giả luận văn tập trung giải quyết những
nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hóa, khái quát hóa những quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về
vấn đề giải phóng phụ nữ và làm rõ sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề
giải phóng phụ nữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Làm rõ thực trạng vấn đề giải phóng phụ nữ ở nước ta hiện nay.
- Phân tích những điều kiện cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm thực
hiện sự nghiệp giải phóng phụ nữ, tiến tới bình đẳng giới trong tình hình hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tiến trình giải phóng phụ nữ của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta trong lịch sử cũng như hiện nay ở Việt Nam, cả về lý
luận và thực tiễn.

ở nước ta.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu làm 3 chương, 7 tiết.


Chương 1
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG
SẢN VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ

1.1. CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN BÀN VỀ ĐỊA VỊ NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG XÃ HỘI TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
1.1.1. Địa vị người phụ nữ trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
“Vấn đề giải phóng phụ nữ” từ lâu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, nói đến giải
phóng phụ nữ là nói đến địa vị người phụ nữ trong xã hội có giai cấp đối kháng. Loại ý
kiến khác lại cho rằng, giải phóng phụ nữ là vấn đề có tính lịch sử nên trong xã hội có giai
cấp đối kháng giải phóng phụ nữ thực chất là bàn về địa vị người phụ nữ trong xã hội.
Còn trong xã hội xã hội chủ nghĩa, giải phóng phụ nữ là đề cập đến vai trò phụ nữ trong
gia đình và ngoài xã hội. Nhìn chung, mỗi loại ý kiến đều có tính hợp lý của nó, song một
cách hệ thống và khái quát thì các quan niệm trên đều chưa đạt tới, còn loại bỏ tính phong
phú, đa dạng của thuật ngữ này.
Khi bàn về cách mạng Trung Quốc với việc giải phóng phụ nữ vào năm 1923, Chủ
tịch Hồ Chí Minh cho rằng vấn đề giải phóng phụ nữ là:
Quyền bình đẳng về giáo dục, kinh tế, chính trị cho cả đàn ông cũng như
cho cả đàn bà thi hành hệ thống trường học thống nhất, tức là thành lập trường
học, trong đó con trai và con gái cùng học, trả công như nhau cho sự lao động
như nhau. Quyền được nghỉ ngơi và tiền trợ cấp cho trường hợp đau ốm, có
mang [38, tr.11].
Các nhà khoa học xã hội Xô viết trước đây quan niệm rằng:

thực tế chỉ có mục đích duy nhất là nhét đầy túi với bất cứ giá nào.
Không những thế bọn chủ xưởng tư bản còn dùng những biện pháp hà khắc tàn
khốc nhất để bòn rút những khoản tiền phạt giáng vào đầu công nhân, cắt xén từng xu,
từng nửa xu của những người vô sản xác xơ để làm tăng thêm lợi nhuận của chúng. “Lisơ kể lại rằng ông ta nhiều lần thấy nhiều nữ công nhân có mang gần đẻ vì ngồi nghỉ một
lát trong thời gian làm việc, mà bị phạt 6 pen-ni” [31, tr.72]. Do không khí ngột ngạt của
nơi làm việc và nơi ở, do phải thường xuyên ngồi còng lưng gập ngực, do đồ ăn không
tốt, khó tiêu và chủ yếu là do thời gian lao động quá dài, thiếu không khí trong sạch nên
sức khỏe họ bị tàn phá ghê gớm
Không mấy chốc họ đã thấy mệt mỏi, kiệt sức, suy nhược, ăn mất ngon,
đau vai, đau lưng, đau thắt lưng, nhất là đau đầu; sau đó là xương sống bị vẹo,
hai vai nhô cao và biến dạng, gầy mòn, mắt sưng, chảy nước mắt và nói chung
nhức nhối, cận thị, ho, ngực lép, khó thở và mọi thứ bệnh phụ nữ [31, tr.589].
Với những đức tính gần như thiên bẩm của phụ nữ “dịu dàng, nết na, ngoan
ngoãn, hiền thục, dễ bảo” đã bị bọn chủ tư bản lợi dụng. C.Mác đã tố cáo sự lợi dụng, sự
bóc lột tinh vi, dã man và tàn bạo của chủ nghĩa tư bản. Phụ nữ phải lao động nặng nhọc
trong những điều kiện hết sức khắc khổ, bị đối xử còn kém hơn cả so với súc vật, họ
chẳng có chút địa vị, vai trò nào trong xã hội. Chúng ta thấy rõ, ngay ở nước Anh, đất
nước của nền đại công nghiệp phát triển rất sớm nhưng phụ nữ còn phải làm những công
việc tốn nhiều sức lực như kéo thuyền thay cho ngựa. C.Mác đã miêu tả tình cảnh đó như
sau: “để kéo thuyền dọc sông Đào, thỉnh thoảng người ta vẫn còn dùng phụ nữ thay cho
ngựa” [34, tr.568].
Như vậy, dưới chế độ tư hữu, phụ nữ phải chịu đựng một nghịch lý: vai trò thì lớn
nhưng địa vị thì thấp hèn cả trong gia đình lẫn ngoài xã hội, họ luôn chịu cảnh bất bình
đẳng với nam giới, bị bóc lột, bị tha hóa. Trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau, các hình


thức bất bình đẳng tuy có thay đổi nhưng bản chất thì không thay đổi. Trong các công
xưởng tư bản chủ nghĩa, phụ nữ phải chịu bao nỗi nhục nhã, đắng cay, phải lao động cực
nhọc từ lúc mang thai cho đến lúc sinh nở, họ phải cật lực làm việc, thậm chí không được
nghỉ cho con bú và khi con ốm. Với đồng lương ít ỏi không đủ nuôi sống gia đình, việc làm



ngày phải tính toán chi li, phải đầu tắt mặt tối với công việc, chỉ có sức lao động của mình
là không hề tiếc. Vì vậy họ sẳn sàng nhận số tiền công hết sức rẻ mạt để kiếm thêm cho bản
thân hoặc gia đình một mẩu bánh mì. Chính vì những đức tính đặc biệt của phụ nữ đã biến
họ thành công cụ, thành nô lệ và làm cho họ ngày càng đau khổ.
1.1.2. Địa vị người phụ nữ trong hôn nhân và gia đình dưới chế độ tư bản chủ
nghĩa
Lĩnh vực cơ bản và quan trọng nhất của tái sản xuất xã hội là hôn nhân và gia đình.
Nòi giống được duy trì và phát triển, sức người và sức lao động được nuôi dưỡng, chăm
sóc và bảo vệ như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào hôn nhân và gia đình. Gia đình là bức
tranh thu nhỏ của xã hội, trong đó bộc lộ đầy đủ và rõ ràng địa vị người phụ nữ trong mối
tương quan xã hội với nam giới.
Dưới xã hội tư bản chủ nghĩa có hai loại gia đình là gia đình tư sản và gia
đình vô sản, giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất là giai cấp thống trị và bóc lột giai cấp
không có tư liệu sản xuất, điều này được thể hiện rõ trong gia đình tư sản, nơi mà
những người đàn ông nắm giữ vị thế thống trị kinh tế, đồng thời cũng nắm giữ vị thế
thống trị những người đàn bà không có tư liệu sản xuất. Với tính cách là đơn vị của
tế bào xã hội, gia đình cũng chứa đựng tất cả các mối quan hệ bất công và bất bình
đẳng xã hội. Ph.Ăngghen đã viết: “Trong gia đình, người chồng là nhà tư sản, người
vợ đại biểu cho giai cấp vô sản” [33, tr.116].
Trước khi học thuyết Mác ra đời, vấn đề giải phóng phụ nữ đã được nhiều nhà tư
tưởng quan tâm nghiên cứu, bởi họ không những được tôn vinh là phái đẹp mà với thiên
chức làm vợ, làm mẹ họ còn có vai trò to lớn trong gia đình và ngoài xã hội. Tuy nhiên,
dưới chế độ tư bản chủ nghĩa cũng như dưới các chế độ áp bức, bóc lột khác, phụ nữ phải
luôn chịu cảnh bất bình đẳng với nam giới, họ không có chút địa vị nào trong hôn nhân và
gia đình.
Nghiên cứu lịch sử xã hội loài người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng: trong
xã hội có giai cấp đối kháng phụ nữ là nạn nhân trực tiếp của sự áp bức giai cấp và của sự
bất bình đẳng trong gia đình và ngoài xã hội. Sự ra đời của chế độ tư hữu dẫn đến tình

chính của nhà chồng và là người cai quản các tì thiếp của chồng. Vì vậy trong xã hội tư
bản chủ nghĩa chế độ một vợ một chồng chỉ riêng đối với người đàn bà, chứ không phải
đối với đàn ông. Nếu người vợ có muốn vượt ra ngoài khuôn khổ ấy thì lập tức họ sẽ bị
lên án và bị trừng phạt nghiêm khắc, họ chỉ là một vật để lo việc gia đình, để đẻ con và
chỉ là một người đầy tớ chính trong gia đình.
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” khi
đề cập đến hôn nhân và gia đình tư sản Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng: trong tất cả các giai cấp
trong lịch sử (loại trừ giai cấp tư sản) - giai cấp thống trị, việc quyết định một cuộc hôn
nhân là việc có tính toán lợi hại do cha mẹ thu xếp. Kể cả trong môi trường đạo Thiên chúa
hay đạo Tin lành thì phụ nữ trong chế độ tư bản đều dựa trên địa vị giai cấp của đôi bên. Vì
vậy:


Hôn nhân luôn luôn là hôn nhân có tính toán… Hôn nhân có tính toán
đó thường thường biến thành sự mại dâm ty tiện nhất - có khi là của cả đôi
bên, nhưng thông thường nhất là về phía người vợ; nếu ở đây, người đàn bà có
khác với gái đĩ thường chỉ là vì người đó không bán thể xác mình từng thời
gian một như người nữ công nhân làm thuê bán sức lao động của mình mà là
bán mãi mãi, như người nữ nô lệ [33, tr.112].
Ngay trong đạo Thiên chúa, cha mẹ vẫn tìm vợ cho con, lựa chọn người vợ xứng
đáng và vì thế đã dẫn đến kết quả “làm cho mâu thuẫn chứa đựng trong chế độ một vợ
một chồng phát triển đầy đủ nhất: chế độ hê-ta-ia về phía người chồng là chế độ hê-ta-ia
bừa bãi, về phía vợ, là ngoại tình lu bù” [33, tr.111]. Hoặc như trong đạo Tin lành, việc
người con trai ít nhiều được lựa chọn vợ trong cùng giai cấp thì chế độ hê-ta-ia của người
chồng được thực hành ít kiên quyết hơn và nạn ngoại tình của người vợ cũng ít thành lệ
hơn. Song kết quả “cũng vẫn chỉ mang lại cho cuộc sống chung một nỗi buồn nặng trĩu
mà người ta gọi là hạnh phúc gia đình” [33, tr.112].
Như vậy: hôn nhân và gia đình tư sản chủ yếu dựa trên cơ sở quan hệ kinh tế bất
bình đẳng giữa nam và nữ. Gia đình tư sản chứa đựng và bộc lộ rõ mối quan hệ thống trị
bóc lột của chồng đối với vợ, của đàn ông với đàn bà, của toàn thể giai cấp đàn ông tư sản

Người khẳng định chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của kẻ
mạnh đối với kẻ yếu rồi. Bạo lực đó, đem ra đối xử với trẻ con và phụ nữ, lại càng bỉ ổi hơn
nữa.
Dưới chế độ thực dân phong kiến, nhân dân bị áp bức bóc lột thì phụ nữ ta bị áp
bức bóc lột càng nặng nề hơn. Phụ nữ không được hưởng những thành quả lao động do
bàn tay, khối óc của mình làm ra. Công lao của họ rất lớn nhưng họ không có vị trí xứng
đáng ở trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Mỗi khi dân tộc mất độc lập, nhân dân mất
tự do thì phụ nữ chịu nhiều đau khổ hơn ai cả. Chủ nghĩa thực dân không từ một hành
động bạo ngược nào để đi áp bức, bóc lột phụ nữ và trẻ em. Nguyễn Ái Quốc miêu tả:
những người phụ nữ bản xứ được coi như súc vật, họ bị đánh đập, bị hành hạ, bị bóc lột
một cách thê thảm. Công việc làm như nhau nhưng tiền lương của phụ nữ bao giờ cũng
thấp hơn nam giới. Sinh đẻ là chức năng của phụ nữ, nhưng chị em sinh đẻ lại không
được nghỉ, thậm chí còn có nguy cơ mất việc làm. Phụ nữ còn phải nộp sưu cao, thuế
nặng, phải mua rượu và thuốc phiện, nếu không có tiền mua thì phải đi tù.
Dưới chế độ thực dân phụ nữ luôn bị hành hạ, bị làm nhục và bị giết hại. Bọn thực
dân luôn cho mình có quyền được chửi mắng, đánh đập phụ nữ Việt Nam ở bất cứ chỗ
nào họ muốn: “Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược
của bọn người xâm lược... Ngay giữa chợ Sài Gòn - mà người ta bảo là một thành phố
Pháp - những người gác chợ cũng không ngần ngại dùng roi gân bò, dùi cui đánh người
đàn bà bản xứ để bắt họ tránh cho khỏi nghẽn lối!” [17, tr.5].
Hơn thế nữa, bọn thực dân đã dùng mọi thủ đoạn dã man nhất để gọi là “trừng
phạt” mỗi khi phụ nữ “phạm tội” như: phải mang nặng gông xiềng đi quét đường vì tội
không nộp nổi thuế; bị bắt giam vì tội “vi phạm luật thương chính” (không mua rượu và
thuốc phiện). Có nơi bọn quan cai trị còn dùng những hình phạt đau đớn nhất đối với phụ
nữ như bắt đội đá trên đầu đứng nắng cả ngày, bắt làm “vật thế chấp”, thậm chí “đổ cả


nhựa cao su nóng bỏng vào bộ phận sinh dục nữ”. Là phụ nữ bản xứ, kể cả những cụ già
80 tuổi, em bé 12,13 tuổi, phụ nữ có thai hay đang cho con bú… đều bị xúc phạm một
cách dã man và tàn bạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải thốt lên: “Chưa có bao giờ, ở một

thời đưa ra sự lý giải có căn cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn lịch sử về nguồn gốc
của sự bất bình đẳng nam nữ.


Xã hội mẫu hệ được hình thành ngay từ buổi bình minh của xã hội loài người khi
con người đang cố gắng tách ra khỏi các động vật khác. Giai đoạn này được C.Mác và
Ph.Ăngghen gọi là chế độ cộng sản nguyên thủy, với phương thức sản xuất chủ yếu là hái
lượm và trồng trọt. Người đàn bà giữ vị trí quan trọng trong gia đình, con cái sinh ra chỉ
biết có mẹ, mang huyết thống mẹ và kế thừa tài sản của mẹ. Do tính chất công việc nên
phụ nữ tỏ rõ sự ưu trội và có vai trò nổi bật hơn so với nam giới. Ph.Ăngghen đã viết:
“kinh tế gia đình cộng sản… là cơ sở hiện thực của quyền thống trị của người đàn bà, cái
quyền thống trị phổ biến khắp mọi nơi trong thời nguyên thủy” [33, tr.83]. Chế độ mẫu
quyền đã tồn tại hàng vạn năm trong lịch sử nhân loại từ suốt thời đại mông muội đến giai
đoạn thấp của thời đại dã man. Theo năm tháng, con người dần dần có kinh nghiệm và có
kiến thức hơn trong công việc tổ chức cuộc sống của mình. Những người thông minh đã
bắt đầu biết cách tích trữ của cải, những người có quyền điều hành đã dựa vào quyền lực
của mình để chiếm đoạt của công thành của riêng. Đây là quá trình xuất hiện và xác lập
chế độ tư hữu.
Sự phát triển lực lượng sản xuất đã làm cho xã hội chuyển từ hái lượm, trồng trọt
sang kinh tế sản xuất với nghề chăn nuôi, săn bắn, năng suất lao động cao hơn trước.
Trong nền sản xuất mới, đàn ông tỏ rõ ưu thế hơn đàn bà bởi vì tài sản chủ yếu của gia
đình lúc này là do họ làm ra. Đây cũng là thời kỳ mà chế độ phụ quyền bắt đầu đặt những
viên gạch đầu tiên cho sự thống trị của mình. Khi nói về quá trình chuyển đổi này,
Ph.Ăngghen nhận xét: “Sự thay thế mẫu quyền bằng phụ quyền là một trong những cuộc
cách mạng triệt để nhất mà loài người đã trải qua, cuộc cách mạng này đã đánh dấu sự
thất bại có tính chất toàn thế giới của giới nữ” [34, tr.93]. Đàn ông từ địa vị thấp kém, phụ
thuộc trở thành người có địa vị cao và nắm quyền cai quản. Còn đàn bà thì bị hạ cấp, bị
nô dịch, biến thành nô lệ cho sự dâm đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơn
thuần. Ở đây, Ph.Ăngghen đã dùng thuật ngữ “cuộc cách mạng” mang tính chất ẩn dụ sâu
sắc nói lên sự thống trị của đàn ông đối với đàn bà. Cuộc cách mạng này thật “nhẹ nhàng”

bóc lột thì nó đồng thời dẫn đến sự nô dịch người phụ nữ về mặt giai cấp.
Người phụ nữ bị tước mất những quyền về kinh tế và chính trị, bị nô dịch về
tinh thần thì cũng bị cô lập với xã hội, phạm vi hoạt động của họ bị giới hạn
trong công việc nội trợ trong gia đình [58, tr.391].
Như vậy: cơ sở kinh tế như thế nào thì đặc điểm và tính chất của mối quan hệ nam
nữ cũng như thế ấy. Trong nền kinh tế cộng sản nguyên thủy do đàn bà nắm giữ kinh tế
nên đồng thời cũng nắm quyền cai quản xã hội và gia đình. Nhưng khi sự thống trị kinh tế
của đàn bà bị mất và đàn ông nắm lấy quyền thống trị thì sự thống trị đó trở nên phổ biến
không chỉ trong nền sản xuất vật chất của xã hội mà cả trong nền tái sản xuất của xã hội,
tức trong hôn nhân và cả gia đình.
- Nguồn gốc nhận thức, văn hóa - xã hội
Không chỉ dừng lại ở nguyên nhân kinh tế - mặc dù đó là nguyên nhân quyết định
nhất, chủ nghĩa Mác còn chỉ ra các nguyên nhân khác thuộc về nhận thức chính trị, văn
hóa (đặc biệt là phong tục tập quán), tôn giáo đối với gia đình và sự bất bình đẳng giữa
nam và nữ. Việc nhấn mạnh vai trò quyết định của cơ sở kinh tế không có nghĩa là xem


nhẹ các yếu tố phi kinh tế mà chúng có sự tác động qua lại lẫn nhau làm tiền đề cho sự
phát triển. Ph.Ăngghen đã nêu rõ quan điểm này như sau:
Chúng tôi coi những điều kiện kinh tế là cái cuối cùng quyết định sự phát
triển lịch sử - nhưng chủng tộc cũng là một nhân tố kinh tế… Sự phát triển về
mặt chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật là dựa trên sự
phát triển kinh tế. Nhưng tất cả những sự phát triển đó đều tác động lẫn nhau
và cũng tác động đến cơ sở kinh tế. Hoàn toàn không phải điều kiện kinh tế là
nguyên nhân duy nhất chủ động, còn mọi thứ khác có tác dụng thụ động. Trái
lại, có sự tác động qua lại trên cơ sở tính tất yếu kinh tế, là một tính tất yếu, xét
đến cùng, bao giờ cũng tự vạch ra con đường đi của nó [32, tr.788].
Trình độ nhận thức, thói quen suy nghĩ và các phong tục tập quán phản ánh sự
bất bình đẳng kinh tế giữa phụ nữ và nam giới đã ăn sâu bám chắc trong đầu óc con người
thành tư tưởng “trọng nam khinh nữ”. Những phong tục tập quán lạc hậu, cổ hủ, đạo đức

mê trong học tập, tinh thần phấn đấu vươn lên... Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, Nho
giáo cũng bộc lộ những hạn chế tiêu cực, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống xã hội ở Việt
Nam. Một trong những hạn chế cơ bản của Nho giáo là tư tưởng trọng nam khinh nữ, đề
cao phụ quyền, đề cao gia trưởng, đề cao người đàn ông trong gia đình và ngoài xã hội.
Giai cấp phong kiến Việt Nam đã sử dụng các phương tiện khác để biến hệ tư tưởng Nho
giáo thành ý thức và hành vi của mọi người, để duy trì quyền lực đối với phụ nữ. Trong
phạm vi quan hệ giới, tinh thần Nho giáo thể hiện tập trung ở niềm tin là phụ nữ thấp kém
hơn so với nam giới, thể hiện ở yêu cầu đối với phụ nữ là "tam tòng, tứ đức". Tinh thần
này được thể hiện điển hình trong gia đình gia trưởng, phụ nữ không có vị trí chính thống
nào trong xã hội, làng xóm và họ hàng, họ cũng không có tiếng nói trong gia đình mặc dù
là người lao động chính. Vì thế, hầu hết các tác giả Việt Nam và nước ngoài đều đề cập
đến vai trò của Nho giáo một khi họ bàn đến chủ đề địa vị của phụ nữ Việt Nam, bởi vì sự
thực hành Nho giáo được coi như là cốt lõi của sự áp bức phụ nữ ở Đông Nam Á nói
chung và Việt Nam nói riêng.
Dưới chế độ phong kiến, quyền hành quốc gia tập trung vào tay vua. Trong gia
đình thì tập trung vào người đàn ông gia trưởng. Người phụ nữ được coi là tài sản của
chồng, vì vậy luật nhà Trần cho phép: đàn ông nếu có vợ ngoại tình được coi vợ như nô
tỳ và được phép cầm bán. Phép nhà Hồ quy định, nếu binh sĩ ra trận mà nhút nhát thì vợ,
con, điền sản phải xung công. Triều đình phong kiến nhà Lý còn có tục bắt cung nữ chết
theo vua hoặc hoàng hậu bằng cách đưa họ lên hỏa thiêu...
Hôn nhân dưới chế độ phong kiến không dựa trên tình yêu mà dựa trên quyền lợi
của dòng họ, tất cả vì mục đích chính trị. Người phụ nữ trở thành vật đánh đổi, hy sinh
cho những mưu đồ của thế lực cầm quyền. Theo bà Lê Thị Nhâm Tuyết thì các thứ bậc
cao trong xã hội đều giành cho hoàng gia, hoàng tộc, quân đội của triều đình và một tầng
lớp trí thức gồm toàn đàn ông, những người chỉ có nhiệm vụ học hành để ra làm quan.
Giai cấp thống trị đã sử dụng các phương tiện khác nhau để biến hệ tư tưởng Nho giáo
thành công cụ duy trì quyền lực đối với phụ nữ.
Một mạng lưới tinh vi và phức tạp của các lý thuyết Nho giáo đã trói buộc nhiều
thế hệ phụ nữ Việt Nam. Với quan niệm "đàn bà là giống khó dạy" nên cần phải được
giáo huấn, tuyên truyền để nhồi sọ những lý lẽ, tín điều của chế độ tôn pháp và lễ giáo

1.2.2. Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về giải phóng phụ nữ
- Cuộc cách mạng về lý luận giải phóng phụ nữ do C.Mác và Ph.Ăngghen thực
hiện
Từ giữa thế kỷ XIX, sự phát triển của lực lượng sản xuất đã tạo ra tiền đề kinh tế xã hội cho cuộc đấu tranh giải phóng các giai cấp bị áp bức bóc lột, giải phóng phụ nữ.
Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, kế thừa những tinh hoa trí tuệ của nhân loại, cùng với sự
uyên bác về trí tuệ cá nhân C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực hiện cuộc cách mạng thật sự về
lý luận trong vấn đề giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ.


C.Mác và Ph.Ăngghen bắt đầu cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, với tư
cách là những nhà dân chủ và nhân đạo cách mạng, hai ông đã giành tình yêu thương cho
con người, lo lắng cho số phận của những con người bị áp bức, bị nô dịch, dày công
nghiên cứu quy luật phát triển của xã hội tư bản, từ đó phát hiện ra con đường giải phóng
con người nói chung, giai cấp công nhân nói riêng. Truyền thống đấu tranh cho quyền
con người của nhân loại là cơ sở hình thành lý luận về giải phóng con người, giải phóng
phụ nữ của chủ nghĩa Mác - Lênin. Lý luận đó không chỉ thấm đượm bản chất nhân văn,
nhân đạo sâu sắc mà còn vượt lên tầm cao mà trước đó tư tưởng của nhân loại chưa thể
vươn tới - đó là quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử coi con người là con người
thực tiễn, là chủ thể duy nhất có khả năng nhận thức và cải tạo thế giới.
C.Mác, Ph.Ăngghen đều đánh giá rất cao vai trò, vị trí và khả năng của phụ nữ
trong các cuộc cách mạng. Theo các ông: “Trong lịch sử nhân loại, không có một phong
trào to lớn nào của những người áp bức mà lại không có phụ nữ lao động tham gia, phụ
nữ lao động là những người bị áp bức nhất trong tất cả những người bị áp bức” [35, tr.60],
chính vì vậy nên không bao giờ họ đứng ngoài và cũng không thể đứng ngoài các cuộc
đấu tranh giải phóng. Phong trào giải phóng của những người nô lệ như chúng ta đều biết,
đã có hàng trăm, hàng ngàn liệt nữ cao quý và nữ anh hùng. Trong hàng ngũ những người
đấu tranh giải phóng nông nô, cũng có hàng vạn phụ nữ lao động. Trong các cuộc chiến
đấu để xóa bỏ chế độ quân chủ chuyên chế, thiết lập nền cộng hòa tư sản thì lực lượng
phụ nữ cũng chiếm một vị thế không nhỏ. Một nhà quan sát tư sản được chứng kiến Công
xã đã viết hồi tháng 5 năm 1871 trong một tờ báo Anh như sau: “Nếu dân tộc Pháp chỉ

của họ thì việc nội trợ giao cho phụ nữ là một việc rất cần thiết. Vì vậy trong số các điều
kiện tiên quyết thực hiện sự nghiệp giải phóng phụ nữ thì quan trọng nhất cần kể tới là sự
tham gia của phụ nữ vào sản xuất xã hội và công việc gia đình cá thể không còn là địa vị
kinh tế xã hội. Gắn liền đồng thời với hai điều kiện này là xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu
sản xuất. Việc người chồng phải kiếm tiền, là người nuôi dưỡng gia đình đã đem lại cho
người đàn ông một địa vị thống trị mà không cần phải có một đặc ân nào của pháp luật.
Do đó để giải phóng phụ nữ thì cần phải thu hút phụ nữ tham gia vào nền sản xuất của xã
hội. Theo Ph.Ăngghen: sự giải phóng phụ nữ, quyền bình đẳng giữa nam và nữ đều
không thể có được và mãi mãi không thể có được, chừng nào mà phụ nữ vẫn còn bị gạt ra
ngoài lao động sản xuất xã hội còn phải bị bó hẹp trong công việc riêng tư của gia đình.
Vì vậy, muốn thực hiện công cuộc giải phóng phụ nữ thì “điều kiện tiên quyết là làm cho
toàn bộ nữ giới trở lại tham gia nền sản xuất xã hội, và điều kiện đó lại đòi hỏi phải làm
cho gia đình cá thể không còn là một đơn vị kinh tế của xã hội nữa” [33, tr.116].
Ngoài các điều kiện trên còn phải chú ý đến các điều kiện xã hội quan trọng khác
như xóa bỏ phong tục tập quán cũ kỹ, lạc hậu, tâm lý coi thường phụ nữ, thường xuyên
giáo dục và vận động mọi thành viên của xã hội nâng cao nhận thức và thực hiện mục tiêu
bình đẳng nam nữ trên thực tế. Khi sự phân công lao động trong xã hội trở nên bình đẳng,
điều kiện kinh tế công bằng đối với phụ nữ và nam giới thì sự phân công lao động gia
đình cũng biến đổi theo hướng cân bằng, lúc đó địa vị xã hội của phụ nữ cũng sẽ có sự
thay đổi sâu sắc cùng với sự biến đổi của kinh tế và khi “tư liệu sản xuất chuyển thành tài sản
chung, thì gia đình cá thể sẽ không còn là đơn vị kinh tế của xã hội nữa. Nền kinh tế gia đình
tư nhân biến thành một nghành lao động xã hội. Việc nuôi dạy con cái trở thành công việc


của xã hội” [33, tr.118]. Do đó con đường giải phóng phụ nữ là tổ chức lại cách phân công
lao động trong xã hội và gia đình theo hướng phụ nữ tham gia ngày càng bình đẳng với
nam giới trong nền sản xuất xã hội, đồng thời lao động trong gia đình của họ phải ngày
càng giảm đi.
Sự nghiệp giải phóng phụ nữ chỉ có thể được thực hịên một cách triệt để khi lao
động gia đình biến thành lao động xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “chỉ có thể

tế, không có một nước cộng hòa tư sản nào, dù là nước tiên tiến nhất, đã để lại
cho một nửa loài người là nữ giới được hoàn toàn bình đẳng với nam giới trước
pháp luật và giải phóng phụ nữ khỏi sự bảo trợ và sự áp bức của nam giới [23,
tr.325].
Không hi vọng gì ở những lời hứa của giai cấp tư sản, Lênin đã đứng lên kêu gọi
phụ nữ vùng lên làm cách mạng, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng
chính mình.
Sau khi thành lập chính quyền Xô viết tại nước Nga, một trong những việc đầu
tiên Lênin đã làm là từng bước thực hiện sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Đảng Bônsêvích
và chính quyền Xô viết chủ trương phụ nữ được bình đẳng với nam giới về mọi mặt. Để
thực hiện được điều đó, Nhà nước Xô viết đã thủ tiêu chế độ đẳng cấp, thực hiện quyền
bình đẳng cho mọi công dân, không phân biệt trai gái trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
Lênin chỉ ra: “trong các đạo luật của Chính quyền xô-viết, người ta không thấy một chút
dấu vết gì về việc phụ nữ bị đối đãi bất bình đẳng” [26, tr.230].
Quan điểm của Lênin trước hết là phải xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật
mới đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ. Trong thư “Gửi nữ công nhân” viết năm
1920 Lênin tố cáo pháp luật tư sản giành đặc quyền cho nam giới và đặt phụ nữ vào tình
trạng bất bình đẳng. Do đó để tiến tới giải phóng phụ nữ theo Lênin cần phải thực hiện
các chính sách cụ thể và thiết thực như sau:
Thứ nhất: phải hủy bỏ pháp luật tư sản, ban hành pháp luật mới tôn trọng quyền
bình đẳng nam nữ. Theo Người, trong pháp luật mới, người ta không còn thấy một chút
dấu vết gì về việc phụ nữ bị đối đãi bất bình đẳng.
Thứ hai: không chỉ giải phóng phụ nữ bằng luật pháp, để phụ nữ thật sự được
bình đẳng, có quyền tham gia quyết định vận mệnh của đất nước mình mà còn phải đưa
phụ nữ trực tiếp tham gia quản lý nhà nước, xây dựng, củng cố chính quyền.
Lênin tin rằng trong quản lý, phụ nữ sẽ được học tập nhanh chóng và đuổi kịp nam
giới. Lênin kêu gọi phụ nữ phải thể hiện sự quan tâm đến quyền bầu cử và ứng cử vào các
cơ quan nhà nước. Giai cấp công nhân phải coi quyền bầu cử của phụ nữ là một bộ phận
hữu cơ của quyền lợi giai cấp và là sự nghiệp của giai cấp vô sản, phấn đấu giành quyền
bầu cử cho phụ nữ là một bước quan trọng trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Đây là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status