MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác tư tưởng của Đảng là một bộ phận không thể tách rời trong
toàn bộ hoạt động lãnh đạo cách mạng của Đảng. Thời kỳ nào, công tác tư
tưởng của Đảng cũng nhằm mục đích thống nhất ý chí và hành động của toàn
Đảng và toàn xã hội, động viên, cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân tự giác thực
hiện đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Đồng thời,
nó góp phần to lớn vào việc ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế - văn
hoá.
Nhìn lại chặng đường cách mạng của Đảng và nhân dân ta trong gần 80
năm qua, có thể nhận thấy công tác tư tưởng được Đảng ta hết sức coi trọng.
Vì thế nó luôn phát huy tốt vai trò tích cực của mình trước mọi hoàn cảnh,
góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của cách mạng.
Thời kỳ 1945 - 1954 là thời kỳ cách mạng Việt Nam phải trải qua
những khó khăn, thách thức hiểm nghèo để bảo vệ chính quyền cách mạng,
tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược với sự can thiệp
của đế quốc Mỹ. Để đánh thắng một kẻ thù lớn mạnh hơn gấp nhiều lần,
Đảng ta đã huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trên cơ sở phát huy
tối đa vai trò của công tác tư tưởng trong quá trình lãnh đạo nhân dân tiến
hành cuộc kháng chiến. Vượt qua những khó khăn, thách thức của điều kiện
thực tiễn cách mạng, những hoạt động tư tưởng chủ động, tích cực, đa dạng
về phương pháp, phong phú về hình thức trong thời kỳ này là một nhân tố
quan trọng thúc đẩy nhân dân ta làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Do đó, đây là một trong những
thời kỳ để lại nhiều kinh nghiệm lãnh đạo công tác tư tưởng rất có giá trị, cần
được nghiên cứu, tổng kết.
1
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hôm nay, bên cạnh những thời cơ,
- Một số vấn đề về công tác tư tưởng - Đào Duy Tùng, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 1999
- Sơ thảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam
1930-2000 - Ban tư tưởng văn hoá trung ương, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội 2000.
- Tuyển tập Đào Duy Tùng - 3 tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
2001
- Một số vấn đề về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam Đào Duy Quát, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001
- Một số vấn đề về công tác tư tưởng và văn hoá - Trần Trọng Tân, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001
Ngoài ra, trên lĩnh vực công tác tư tưởng còn thu hút sự quan tâm,
nghiên cứu của nhiều đồng chí cán bộ lãnh đạo Đảng, nhiều nhà nghiên cứu,
học giả khác nhau trong cả nước với nhiều bài viết quan trọng, có tính lý luận
và thực tiễn cao được đăng trên các tạp chí của Đảng. Chính điều này góp
phần làm rõ các quan điểm của Đảng về công tác tư tưởng ở từng thời kỳ lịch
sử, trên các lĩnh vực khác nhau trong thực tiễn. Tiêu biểu như một số bài sau:
- Bài phát biểu của đồng chí Đỗ Mười tại Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp
hành Trung ương khoá VII.
- Bài phát biểu của đồng chí Lê Khả Phiêu trong cuộc gặp kỷ niệm 70
năm ngày truyền thống công tác tư tưởng - văn hoá.
- Bài phát biểu của đồng chí Nông Đức Mạnh -Tổng bí thư Đảng nhân
kỷ niệm 72 năm ngày truyền thống công tác tư tưởng - văn hoá.
- Bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Khoa Điềm tại Hội nghị tư tưởng
- văn hoá toàn quốc, tháng 3 năm 2003.
3
Nhìn chung những tài liệu đã công bố về công tác tư tưởng của Đảng
các giai đoạn sau này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài chủ
yếu sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic, phương
pháp đối chiếu, phương pháp thống kê kết hợp với phương pháp phân tích
tổng hợp, để luận giải những vấn đề của khoá luận.
6. Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, và kết luận, khoá luận được kết cấu gồm 2
chương, 6 tiết:
Chương I: Lý luận chung về công tác tư tưởng
I. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về hoạt động tư tưởng
II. Quan điểm Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng
III. Quan điểm và một số kinh nghiệm lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng
trước năm 1945
Chương II: Công tác tư tưởng của Đảng trong thời kỳ 1945 - 1954
I. Công tác tư tưởng của Đảng trong thời kỳ chính quyền cách mạng mới
thành lập (1945 - 1946)
II. Công tác tư tưởng của Đảng trong thời kỳ toàn quốc chống thực dân Pháp
và can thiệp Mỹ (1946 - 1954)
III. Một số kinh nghiệm lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng trong thời kỳ
1945 - 1954
5
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG
I. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về hoạt động tư tưởng
Trong đời sống hiện thực cùng với quá trình sản xuất vật chất, xã hội
không ngừng diễn ra các quá trình tư tưởng. Quá trình tư tưởng bắt nguồn từ
đường lối của giai cấp vô sản, phải trở thành lực lượng sản xuất vật chất góp
phần vào công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa lật đổ giai cấp tư sản, giải
phóng triệt để giai cấp vô sản và toàn thể nhân loại khỏi ách áp bức bóc lột.
Công tác tư tưởng chính là nhằm mục đích thực hiện sự chuyển hoá quan
trọng này của lý luận.
Cũng theo Người thì nhiệm vụ đầu tiên quan trọng nhất của công tác tư
tưởng là phải kéo phong trào công nhân ra khỏi khuynh hướng tự phát, công
tác tư tưởng phải làm nhiệm vụ truyền bá, giáo dục đưa học thuyết Mác vào
giai cấp công nhân. Nhiệm vụ tiếp theo của công tác tư tưởng là động viên,
phát huy tính chủ động sáng tạo của quần chúng nhân dân lao động trên cơ sở
trình độ giác ngộ cách mạng đã được nâng cao. Công tác tư tưởng còn có
nhiệm vụ xây dựng cho giai cấp công nhân lòng tin tưởng và tình yêu sâu sắc
đối với sự nghiệp cách mạng, tinh thần kiên định, ý chí, nghị lực vượt qua khó
khăn để hoàn thành mục tiêu cách mạng.
1) V.I.Lênin toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva 1975, tập 6, tr.6
1) V.I.Lênin toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva 1975, tập 6, tr.30
1
7
Với cách tiếp thu và kế thừa của mình, V.I. Lênin đã phát triển lý luận
công tác tư tưởng bằng việc chuẩn bị và thực hiện cuộc cách mạng tháng
Mười vĩ đại và thực hiện tổ chức nhà nước kiểu mới Xô-Viết. Lênin cũng đã
thực hiện việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Ăngghen, thực hiện việc nghiên cứu
lý luận tuyên truyền và cổ động trên quy mô rộng lớn của nhà nước Xô - Viết.
II. Quan điểm của Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng
Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc ta. Người là nhà
quả còn nguyên giá trị đến ngày hôm nay: “Phê bình một cách thật thà, chân
thành, đúng đắn, chứ không phải để địch lợi dụng để nó phản tuyên truyền” (1)
Người còn để lại cho chúng ta di sản quý báu về các phương pháp chống lại
sự phá hoại về tư tưởng của các thế lực thù địch, chống lại chiến tranh tâm lý.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ không những kẻ thù tiến hành chiến tranh xâm
lược bằng quân sự, mà chúng còn gây chiến bằng tuyên truyền.
Những điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra cho Đảng và nhân dân ta,
vẫn còn nguyên giá trị và càng có ý nghĩa to lớn hơn bao giời hết, khi Đảng ta
xác định “diễn biến hoà bình” là một nguy cơ của đất nước. Người trực tiếp
nghiên cứu, viết sách báo, tài liệu cổ động quần chúng tiếp thu chủ nghĩa Mác
- Lênin, Người khẳng định: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng
như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy, Đảng muốn vững thì phải có
chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa
ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu
không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều những chủ
nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin” (2).
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng,
phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác và tư
tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhẵng thì không làm được
việc”(3) Công tác tư tưởng là việc quan trọng hàng đầu của Đảng, Đảng phải
3) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 7, tr.118
1
1) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 2, tr.268
2
2) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 7, tr.466
dựng và tổ chức thực hiện đường lối của Đảng trong mỗi thời kỳ cách mạng.
1
1) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 9, tr.279
10
Tuy nhiên, bước đầu công tác tư tưởng cũng đã đạt được một số thành tựu
đáng kể:
Thứ nhất, công tác tư tưởng góp phần quan trọng vào việc hình thành
đường lối chính trị, hình thành các chính sách của Đảng.
Ngay trong quá trình vận động thành lập Đảng, công tác tư tưởng đã
góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong
trào công nhân và phong trào yêu nước, dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản
Việt Nam (3/2/1930).
Đảng ta ra đời với Cương lĩnh vắn tắt, Chính cương, Sách lược vắn tắt
do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo đã xác định tính chất của cách mạng Việt Nam
là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, đánh đổ thực dân đế quốc để giành độc
lập cho dân tộc, mang lại ruộng đất cho dân cày. Qua các cao trào cách mạng,
dưới sự chỉ đạo của Đảng, công tác tư tưởng đã nhanh chóng đưa ra những
chủ trương, chính sách này đến với các cán bộ, đảng viên và quần chúng, để
cổ vũ tinh thần yêu nước của họ, mang lại niềm tin vào sự nghiệp cách mạng
nhất định sẽ thắng lợi.
Thứ hai, công tác tư tưởng góp phần xây dựng niềm tin trong nhân dân
vào sự lãnh đạo của Đảng.
Với chức năng và nhiệm vụ chính của mình, trong suốt quá trình hoạt
động công tác tư tưởng đã chú trọng giáo dục từng bước hình thành hệ tư
tưởng Mác - xít cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Thông qua, đó mà xây
dựng niềm tin thắng lợi cho quần chúng. Trải qua các cao trào cách mạng
vì độc lập và tự do.
Ở cuộc Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám, nhân dân cả nước đồng
loạt nổi dậy khởi nghĩa từng phần, tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính
quyền trong cả nước. Có được thắng lợi vĩ đại như vậy là nhờ vào công tác tư
tưởng của Đảng trong thời kỳ này đã động viên, tạo dựng phong trào hết sức
12
sâu rộng với nhiều hình thức phong phú đa dạng, phục vụ đắc lực cho nhiệm
vụ chính trị của cuộc cách mạng.
Để có được thành công trong cách mạng, cũng như trong sự nghiệp xây
dựng đất nước, chính là do trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn
luôn đặt công tác tư tưởng lên vị trí hàng đầu trong hoạt động lãnh đạo của
Đảng, cũng như trong chỉ đạo thực hiện. Cán bộ, đội ngũ làm công tác tư
tưởng đã đưa đường lối, chính sách của Đảng đến tận cơ sở, công tác tư tưởng
đã đạt hiệu quả tốt. Công tác tư tưởng đã góp phần to lớn bồi dưỡng hàng loạt
cán bộ về chính trị, lý luận và phẩm chất cách mạng.
13
CHƯƠNG II
CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
TRONG THỜI KỲ 1945 - 1954
I. Công tác tư tưởng của Đảng trong thời kỳ chính quyền cách mạng mới
thành lập (1945 - 1946)
1. Tình hình đất nước sau cách mạng tháng Tám năm 1945 và những vấn
đề đặt ra đối với công tác tư tưởng của Đảng
Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 - 9 - 1945, Chủ tịch Hồ Chí
đang còn phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng về kinh tế, xã hội.
Khó khăn chồng chất khó khăn. Nền kinh tế đất nước vốn nghèo nàn, lạc hậu
lại bị kiệt quệ nặng nề do các chính sách khai thác của thực dân Pháp - phát
xít Nhật. Ruộng đất bị bỏ hoang, hạn hán lũ lụt liên tiếp gây ra nạn đói đầu
năm 1945 cướp đi sinh mệnh của hai triệu đồng bào. Sản xuất công nghiệp
đình đốn, hàng hoá khan hiếm, ngoại thương đình trệ, tài chính cạn kiệt…Khó
khăn không chỉ dừng lại ở đó, mà trong xã hội lúc này còn chịu hậu quả, ảnh
hưởng bởi thứ văn hoá ngu dân do thực dân Pháp để lại còn khá sâu sắc với
hơn 90% dân số không biết chữ, tệ nạn xã hội rất trầm trọng và phổ biến.
Giặc ngoài, thù trong, khó khăn chồng chất chưa giải quyết được đang
là những thách thức đè nặng lên đất nước, chính quyền cách mạng trước tình
thế ngàn cân treo sợi tóc. Đẩy vận mệnh của dân tộc, tự do, độc lập nhân dân
vừa giành được đứng trước nguy cơ mất - còn.
Trước tình hình đất nước như vậy đã đặt ra cho Đảng, Chính phủ nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh những trọng trách và
nhiệm vụ quan trong, làm thế nào để giải quyết khó khăn, giữ vững chính
quyền non trẻ, ổn định xã hội…Muốn như vậy, điều trước tiên cần phải làm là
thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng, ổn định tư tưởng trong quần chúng và
toàn xã hội, tuyên truyền giáo dục sâu sắc mọi tầng lớp nhân dân ý chí kiên
15
cường, bất khuất, quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững lời thề
trong Tuyên ngôn độc lập: “Quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính
mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập” (1). Đồng thời, cần cổ vũ
động viên nhân dân thực hiện ba nhiệm vụ lớn diệt: diệt giặc đói, diệt giặc
dốt, diệt giặc ngoại xâm.
Thêm một lần nữa, lịch sử lại chứng minh bản lĩnh vững vàng, trí tuệ
sáng suốt đường lối đúng đắn của Đảng ta - lực lượng duy nhất lãnh đạo cách
thực dân Pháp gây ra với đồng bào miền Nam. Trong bản chỉ thị gửi các đồng
chí ở các xứ uỷ, tỉnh uỷ, tỉnh bộ (11-10-1946), Đảng ta đã vạch trần dã tâm
của thực dân Pháp khi chúng tiến hành kế hoạch thủ tiêu cán bộ cách mạng
của ta, ra sức tấn công bằng quân sự và khủng bố đồng bào ta ở Nam Bộ,
Nam Trung Bộ. Chỉ thị cũng nêu ra nhiệm vụ của cấp bách nhất của công tác
tư tưởng lúc này là phải sử dụng ngay báo chí, các đài phát thanh để cùng
chống lại thủ đoạn hèn nhát của thực dân Pháp, tổ chức phát động các cuộc
đấu tranh chống chính sách khủng bố của bọn phản động thực dân dưới nhiều
hình thức: “Tổng đình công, bãi thị, bãi khóa, bãi phố, có tính chất bất hợp
tác”(1). Trong khi tiến hành cần giương cao các khẩu hiệu tranh đấu chính:
“Phản đối thực dân Pháp bắn các nhà ái quốc miền Nam Việt Nam”
“Trung, Nam, Bắc thống nhất”
“Ủng hộ Hồ Chí Minh”(2)
Do có sự chỉ đạo kịp thời của Đảng, cùng với những hoạt động tích cực
của công tác tuyên truyền đã mau chóng động viên được lòng căm thù và ý
chí quyết tâm chống xâm lược, ủng hộ miền Nam kháng chiến của đồng bào
cả nước. Các tỉnh đều có những cuộc mít tinh, biểu tình, biểu dương lực
lượng chống thực dân Pháp xâm lược. Các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ
đều có nhiều hình thức động viên phong trào để quyên góp thuốc men, quần
áo, vũ khí chi viện cho cuộc kháng chiến ở miền Nam. Hàng vạn thanh niên
nô nức tham gia tòng quân, xung phong “Nam Tiến”. Các cuộc tiến đưa các
đoàn quân “Nam Tiến” đều diễn ra trong khí thế tưng bừng, hào hùng trong
1, 2) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 8, tr.122, 123
1
2
17
sau cách mạng tháng Tám, soi đường cho nhân dân ta giữ vững chính quyền
cách mạng, từng bước xây dựng chế độ mới trong lúc khó khăn phức tạp nhất.
Căn cứ vào đặc điểm, tình hình đất nước mà chỉ thị cũng đề ra công
việc trọng tâm của công tác tư tưởng lúc này là tuyên truyền sâu rộng khẩu
hiệu : “Dân tộc trên hết”; “Tổ quốc trên hết”, “Kêu gọi đoàn kết, chống chủ
nghĩa thực dân Pháp xâm lược. Phản đối chia rẽ nhưng chống sự thống nhất
vô nguyên tắc với bọn phản quốc, phản đối chủ nghĩa thất bại (défaitisme)
đặc biệt chống mọi âm mưu chia rẽ của bọn Tờrốtxkit, Đại Việt, Việt Nam
Quốc dân Đảng và nâng cao sự tin tưởng của quốc dân vào thắng lợi cuối
cùng, khêu gợi chí căm hờn chống thực dân Pháp nhưng tránh khuynh hướng
“vị chủng” (Chauvinisme)”(1). Chỉ thị cũng nhấn mạnh những việc cần tránh
trong khi thực hiện công tác tuyên truyền: “Trong công tác tuyên truyền đặt
riêng bọn thực dân Pháp ra mà đánh (đừng bỏ cả Pháp, Anh, Ấn, Nhật vào
một bị và đừng coi họ là kẻ thù ngang nhau, đừng công kích nước Pháp và
dân Pháp, chỉ công kích bọn thực dân Pháp”(2)
Cũng trong thời gian này, toàn bộ các hoạt động của công tác tư tưởng
tập trung vào tuyên truyền phổ biến nội dung của chỉ thị Kháng chiến, kiến
quốc trong toàn Đảng và nhân dân, tạo ra bầu không khí thi đua tăng gia sản
xuất, chống đói, xoá nạn mù chữ, đẩy lùi các tệ nạn xã hội.
Mở đầu phong trào tăng gia sản xuất, chống đói, Chủ tịch Hồ Chi Minh
kêu gọi: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!
Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ
vững quyền tự do, độc lập”(3). Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, phong trào
tăng gia sản xuất, cứu đói diễn ra sôi nổi khắp nơi, nhiều ruộng đất hoang hoá
1, 2) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 8, tr.27
3) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 4, tr.114
1
diệt thù”(1), từ đó biến nhận thức của mỗi công dân làm chủ nước độc lập
thành hành động: “Tất cả cử tri tới thùng phiếu”(2).
Song song với việc tuyên truyền vận động, thì công tác tư tưởng cũng
phải tiến hành cuộc đấu tranh gay gắt với các tư tưởng phản động, tố cáo các
hành động phá hoại của quân Tưởng và bọn tay sai Việt Quốc, Việt Cách ở
miền Bắc và thực dân Pháp ở miền Nam. Chính vì vậy, mà cuộc tổng tuyển
cử đã đạt kết quả tốt thu hút đại đa số cử tri đi bỏ phiếu bầu cho các ứng cử
viên của mặt trận Việt Minh. Qua đó, nâng cao uy tín của nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hoà trên thế giới.
2.2.Quán triệt chủ trương “Hoà để tiến”
Trong khi toàn Đảng, toàn dân đang ra sức củng cố chính quyền cách
mạng, ổn định tình hình, bước đầu xây dựng chế độ mới, thì thực dân Pháp và
quân Tưởng đã ký với nhau hiệp ước Pháp - Hoa, để không ngừng các hoạt
động phá hoại thành quả của nhân dân ta. Trước tình hình đó, Chính phủ ta ký
với Pháp hiệp định Sơ bộ vào ngày 6-3-1946. Tiếp đó, Ban thường vụ Trương
ương ra chỉ thị “Hoà để tiến” vạch ra những vấn đề mà công tác tư tưởng cần
phải làm sáng tỏ trong lúc này: “Giải thích cho mặt trận và cho quần chúng
không tổ chức hiểu rõ tại sao giảng hoà với Pháp trong những điều kiện của
bản Hiệp định sơ bộ là đúng” (2), cũng như: “Mạnh dạn giải thích cho quần
chúng hiểu chủ trương của ta là duy nhất đúng”(2). “Chúng ta “hoà” với Pháp
để dành thời gian bảo toàn thực lực, giữ vững lập trường càng mau tiến tới
độc lập hoàn toàn”(3). Thông qua giải thích mà giúp cán bộ và nhân dân ta
nhận thấy thắng lợi và lợi ích của việc ký hiệp định, chống lại các hoạt động
1
1, 2) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 4, tr.145
1,5) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 8, tr.51
2,4) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 8, tr.45
quanh Chính phủ và Hồ Chủ tịch, sẵn sàng đối phó với bất cứ bất chắc nào”(1).
1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương: Văn kiện Đảng 1945-1954, Ban nghiên cứu
Lịch sử Đảng Trung ương, Hà Nội ,1978, tr.252
1
22
Trong thời gian này, nhiều báo đài ở Trương ương và địa phương cũng
tích cực đấu tranh, tố cáo các hoạt động sai trái của bọn thực dân. Báo chí
thống nhất công khai kêu gọi thi hành Tạm ước, đòi thả tù chính trị, phổ biến
tài liệu kháng chiến. Những việc làm trên của công tác tư tưởng nói chung và
hoạt động báo chí nói riêng đã góp phần không nhỏ trong việc ổn định tư
tưởng cho cán bộ, quần chúng nhân dân để họ càng thêm tin tưởng vào Chính
phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Và trên thực tế thì Hiệp định sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9 có ý nghĩa
chính trị và tinh thần rất to lớn. Dựa vào tính pháp lý của Hiệp định và nhân
lúc thực dân Pháp phải điều một phần quan trọng lực lượng quân sự ra miền
Bắc, đảng bộ Nam Bộ đã đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phát động
nhân nhân phá tề, trừ gian, chống địch càn quét, khủng bố. Khắp nơi nhân dân
vùng dậy với khí thế mạnh mẽ phát triển chiến tranh du kích, nhiều vùng giải
phóng và căn cứ được mở rộng.
Như vậy, có thể nói rằng việc ổn định tình hình đất nước, khắc phục
muôn vàn những khó khăn ngay sau ngày khởi nghĩa giành chính quyền mặc
dù được diễn ra trong thời gian tương đối ngắn (tháng 9 - 1945 đến 12 1946), nhưng đã thu được kết quả hết sức to lớn. Có được như vậy là do
Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm vững mục tiêu cách
mạng, đánh giá đúng tình hình để từ đó sử dụng triệt để sức mạnh vũ khí công
tác tư tưởng trong việc tuyên truyền nêu cao khẩu hiệu đại đoàn kết, hoà hợp
dân tộc, phát huy sức mạnh toàn dân vào công cuộc kiến quốc, từng bước đưa
toàn quốc, chiến tranh là điều không thể tránh được với nhân dân ta.
Trước tình thế khẩn cấp đòi hỏi Đảng, Nhà nước, đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh phải có một sự lựa chọn lịch sử, phải kịp thời có một quyết định
chiến lược để xoay chuyển tình thế đang lâm nguy. Trước những diễn biến
mới của tình hình cách mạng cũng đặt ra cho công tác tư tưởng những nhiệm
24
vụ mới cấp thiết cần phải giải quyết. Một lần nữa, công tác tư tưởng dưới sự
lãnh đạo của Đảng phải phát huy sức mạnh trong việc định hướng tư tưởng
cho cán bộ, đảng viên tạo ra sự đồng thuận nhất trí đối với đường lối, quan
điểm của Đảng. Đồng thời tích cực động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
sẵn sàng tham gia kháng chiến cứu quốc trên tinh thần tự lực cánh sinh, lâu
dài và gian khổ.
2. Công tác tư tưởng của Đảng trong thời kỳ 1946 - 1950
2.1. Động viên tinh thần yêu nước của nhân dân, khơi dậy lòng căm thù
sâu sắc của toàn dân tộc đối với thực dân Pháp
Với âm mưu nham hiểm muốn tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, lập lại
chế độ Toàn quyền ở Đông Dương. Nên từ cuối năm 1946, thực dân Pháp đẩy
mạnh những hành động lấn chiếm, liên tiếp tiến công ở Nam Bộ và Trung Bộ,
gây ra các vụ khiêu khích ở miền Bắc. Thực tế thực dân Pháp đã xé bỏ các
hiệp định, buộc Đảng và Chính phủ quyết định phát động cuộc kháng chiến
trong cả nước để bảo vệ Tổ quốc.
Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Trung ương Đảng (22/12/1946) đã
nêu rõ mục đích của kháng chiến giành độc lập, thống nhất Tổ quốc. Phương
châm cơ bản của cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh
sinh.
Hơn lúc nào hết, công tác tư tưởng trong thời gian này đã bám sát các
nội dung của bản Chỉ thị, liên tục tiến hành tuyên truyền giương cao các khẩu