TIỂU LUẬN: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA GIAI
CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRONG
THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP
HOÁ THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI VÀ HỘI
NHẬP QUỐC TẾ Trên cơ sở khái quát hoá quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về giai cấp công
nhân, tác giả đã phân tích sự biến đổi của giai cấp công nhân hiện đại trên thế giới
về trình độ học vấn, trình độ nghề nghiệp, về quyền sở hữu,…Đặc biệt, tác giả đã rút
ra một số nhận định về xu hướng phát triển của giai cấp công nhân nước ta trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế. Việc
nhận thức rõ các xu hướng này để có những đối sách thích hợp nhằm làm cho giai
cấp công nhân dù trong hoàn cảnh nào cũng giữ được vai trò tiên phong của mình.

1. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự phát triển của kinh tế tri thức

cùng một công nhân ấy kết hợp tất cả các chức năng mà sau này bị tách riêng ra.
Trong chiếm hữu cá nhân những vật thể tự nhiên vì mục đích sinh sống của mình,
người công nhân đó tự mình kiểm soát lấy mình. Về sau, người đó lại bị kiểm soát.
Một người riêng rẽ không thể tác động đến tự nhiên nếu không vận động các bắp thịt
của mình dưới sự kiểm soát của bộ não của mình. Cũng như trong hệ thống tự nhiên,
đầu và tay gắn với nhau, thì trong quá trình lao động, lao động trí óc và lao động
chân tay cũng kết hợp lại với nhau. Sản phẩm nói chung đã từ sản phẩm trực tiếp của
người sản xuất cá nhân biến thành sản phẩm xã hội, thành sản phẩm chung của người
lao động tổng thể(**), tức là của một số người lao động kết hợp mà những thành viên

của nó đều có tác động hoặc gần hoặc xa đến đối tượng lao động. Vì vậy, cùng với
tính chất hợp tác của bản thân quá trình lao động thì khái niệm lao động sản xuất và
người đảm nhiệm nó, tức là người lao động(**) sản xuất, cũng tất yếu mở rộng ra.
Muốn lao động sản xuất, bây giờ không cần phải trực tiếp mó tay vào nữa; chỉ cần
làm một khí quan của người lao động tổng thể, chỉ cần thực hiện một trong những
chức năng nào đó của người ấy là đủ”(1).
Đoạn trích dẫn C.Mác trên đây cho chúng ta thấy vì sao trong khi bàn về vấn đề giai
cấp xã hội nói chung, và giai cấp công nhân nói riêng, cả C.Mác và Ph.Ăngghen đã
có những sự bổ sung, sự phát triển nhất định qua các thời kỳ.
Vào năm 1847, trong Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ăngghen coi
“giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán lao
động của mình, chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào, đó là
một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống còn của họ đều
phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của
công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản
nổi. Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp những người vô sản là giai cấp lao động
trong thế kỷ XIX”, là “giai cấp những người hoàn toàn không có của”(2).
Năm 1888, trong lời chú thích cho lần xuất bản bằng tiếng Anh Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản, Ph.Ăngghen viết: “Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm
thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán sức lao

công nghiệp hoá theo hướng hiện đại và hội nhập ngày càng sâu hơn với quốc tế.
3. Ngày nay, không thể coi công nhân chỉ là những người lao động cơ bắp và không
thể coi giai cấp công nhân chỉ gồm toàn những người lao động cơ bắp thuần tuý.
Trình độ học vấn, trình độ nghề nghiệp chuyên môn của giai cấp công nhân trên thế
giới hiện nay, nhất là ở các nước phát triển, các nước đã đi vào nền kinh tế tri thức, là
rất cao, thậm chí ở một số ngành nghề, một số lĩnh vực còn chiếm tỷ lệ khá lớn. Do
vậy, ngày nay để có thể xuất khẩu được lao động cho các nước khác nhau chúng ta
cũng đã phải có đội ngũ công nhân có trình độ trí tuệ cao bên cạnh một số nhất định
có trình độ tay nghề cao nhưng học vấn bình thường. Không phải ngẫu nhiên mà Hội
nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khoá X (tháng 1-2008) đã ghi nhận: “Giai
cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm
những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình
sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có

tính chất công nghiệp”(7). Đây là một nhận thức rất mới so với trước đây. Đất nước
ta đang đổi mới toàn diện, mạnh mẽ và hiệu quả. Chính giai cấp công nhân với tư
cách một bộ phận đông đảo dân cư trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam là những
người lao động làm công hưởng lương, có tri thức, tay nghề ở các trình độ khác
nhau, có hoặc không có vốn liếng, cổ phần, hoạt động trong môi trường công nghiệp
hoặc có tính chất công nghiệp, trực tiếp tạo ra của cải vật chất đáp ứng các nhu cầu
đa dạng của xã hội, đang giữ vai trò tiên phong trong sự nghiệp đổi mới đó, nhất là
trong quá trình quá trình công nghiệp hoá theo hướng hiện đại vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Việc Đảng ta chính thức thừa nhận trong giai cấp công nhân có những người lao
động trí óc không những đã xoá đi mặc cảm đã từng tồn tại dai dẳng trong xã hội ta
hễ là lao động trí óc(***) thì đều không thể coi là công nhân, đều bị xếp vào hàng
tiểu tư sản, mà còn là sự đề cao về chất lượng mới của giai cấp công nhân nước ta
hiện nay, là thừa nhận sự tăng lên của nhân tố tri thức trong lao động phổ
thông. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu
ở trên, phù hợp với xu thế phát triển của giai cấp công nhân đương đại và của xã hội

kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường; chính việc chuyển đổi các hình
thức sở hữu, việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu, việc cổ phần hoá các doanh
nghiệp nhà nước, việc bán cổ phần ưu đãi cho công nhân, việc huy động vốn của các
công ty cổ phần, v.v. đang từng bước làm cho một bộ phận công nhân trở thành
những người chủ sở hữu thực sự bên cạnh những người công nhân là đồng sở hữu
khu vực kinh tế nhà nước. Mặc dù rất khó để những người làm lý luận có thể đưa ra
các đánh giá chính xác về mức độ, tỷ lệ số công nhân nước ta hiện đã có quyền sở
hữu thực sự đối với các loại tài sản và vốn liếng đã được họ đem ra đầu tư vì cho đến
nay không có một thống kê hay một nghiên cứu chính xác và cụ thể nào về vấn đề
này được công bố, song thông qua những sự kiện thực tế và sự cảm nhận qua các
cuộc khảo sát ở tất cả các vùng miền khắp cả nước có thể thấy được những thay đổi
này.
5. Từ tất cả những điều trình bày trên đây có thể rút ra một số nhận định sau đây về
xu hướng phát triển của giai cấp công nhân nước ta trong giai đoạn sắp tới khi đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hoá theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế.
5.1. Trong thời gian qua và nhất là sắp tới, giai cấp công nhân sẽ có sự thay đổi lớn
không những về số lượng mà cả về chất lượng, thay đổi về khu vực và ngành nghề,

về quyền sở hữu tài sản.
Mặc dù khu vực kinh tế nhà nước giảm đi rõ rệt nhưng khu vực kinh tế tư nhân và cổ
phần, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hoặc 100% vốn nước ngoài lại tăng mạnh,
cho nên nhìn trên tổng thể thì yêu cầu về lao động đã và vẫn sẽ tăng rất nhanh. Nếu
năm 2000, số lao động trong các doanh nghiệp khu vực nhà nước là 2.088.531 người,
chiếm tới 59,05% tổng số lao động trong các doanh nghiệp cả nước là 3.536.998
người, thì vào năm 2006, số lao động trong các doanh nghiệp nhà nước chỉ còn là
1.899.937, chiếm tỷ lệ 28,29% trong tổng số 6.715.166 người ở cả 3 khu vực. Để đáp
ứng nhu cầu tăng số lượng công nhân của tất cả các khu vực kinh tế quốc dân trong
quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá thì một bộ phận lao động không nhỏ từ nông
thôn sẽ gia nhập hàng ngũ công nhân. Điều này có ảnh hưởng nhiều mặt đến giai cấp
công nhân mà dưới đây chúng ta sẽ nói đến.

đã tăng từ 56% năm 1996 lên 82,44% vào năm 2005. Xu hướng trình độ học vấn của
công nhân tất cả các khu vực kinh tế được nâng cao thêm nữa trong quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hoá là hiện thực. Xu hướng nâng cao trình độ học vấn này sẽ tác
động không nhỏ đến xu hướng phân tầng mạnh hơn trong nội bộ giai cấp công nhân.
Trình độ nghề nghiệp của công nhân mấy năm gần đây tuy có tăng hơn nhưng nói
chung tốc độ tăng còn tương đối chậm, mặc dù số người chưa qua đào tạo đều đã
giảm dần qua từng năm. Nếu tính riêng số công nhân chưa qua đào tạo nghề nghiệp
năm 2005 chỉ là 25,1% so với 45,7% năm 1996 thì số lao động nói chung chưa qua
đào tạo nghề nghiệp như vậy của cả nước hiện nay vẫn còn khá cao. Bên cạnh đó, sự
mất cân đối về ngành nghề và về trình độ chuyên môn của công nhân lao động giữa
các ngành nghề, nhất là giữa các vùng và các miền, là rất đáng kể. Cụ thể hơn,
theo đánh giá của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì trong cả nước, số lao
động chưa qua đào tạo hiện đang là hơn 74,6% (riêng khu vực đồng bằng sông Cửu
Long con số đó là rất cao, tới 83,25%). Tình hình này chắc chắn sẽ được khắc phục và
nhất định phải phải sớm được khắc phục do chúng ta đã có ý thức hơn trước những đòi
hỏi cao và cấp thiết của sự phát triển kinh tế.
Mặc dù mặt bằng chung về trình độ học vấn và trình độ nghề nghiệp chuyên môn của
công nhân trong những năm qua có tăng lên nhưng đồng thời sự đòi hỏi của các
ngành nghề, các khu vực và các lĩnh vực kinh tế đối với đội ngũ này lại rất khác
nhau. Đặc biệt, khi chúng ta càng đẩy mạnh công nghiệp hoá theo hướng hiện đại,
khi càng hội nhập sâu với thế giới để đi vào nền kinh tế tri thức thì càng đòi hỏi một

số lượng lớn hơn số người lao động có học vấn, có trình độ nghề nghiệp chuyên môn
cao cao hơn nữa. Vì vậy, sự phân tầng, nếu xét về trình độ học vấn và trình độ
chuyên môn, là điều khó tránh khỏi, là tất yếu. Sẽ hình thành các tầng lớp công nhân
tri thức, tầng lớp giám đốc, kỹ thuật, đốc công, quản lý, v.v Tính tất yếu này dẫn
đến một tất yếu khác là sẽ có sự phân tầng về mặt lương thưởng, về mặt hưởng thụ
hay về thu nhập nói chung. Hiện nay, chúng ta đang được chứng kiến sự chênh lệch
khá lớn, có khi đến hàng chục lần, về thu nhập của công nhân không chỉ thuộc các
ngành kinh tế khác nhau, mà của cả các tầng lớp công nhân khác nhau trong cùng

rắc rối nhất cho phong trào công nhân và công đoàn, cho sự lãnh đạo của Đảng đối
với giai cấp công nhân và công đoàn. Chính vì vậy mà cần sớm có những khảo sát,
điều tra, nghiên cứu nghiêm túc và thật sự khoa học về hiện trạng và triển vọng sự
phân tầng trong giai cấp công nhân nước ta để từ đó có các giải pháp cho hoạt động
của công đoàn cũng như sự lãnh đạo kịp thời và có hiệu quả hơn của Đảng.
Trên đây chỉ là một số xu hướng lớn trong sự phát triển của giai cấp công nhân nước
ta thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế. Trong
số các xu hướng ấy, có xu hướng lành mạnh, tốt hơn và chiếm ưu thế nhưng cũng có
xu hướng sẽ làm giảm sự thống nhất, giảm sự đoàn kết, do đó làm giảm sức mạnh
của giai cấp cần được đặc biệt quan tâm. Nhận thức rõ tất cả những xu hướng này để
có những đối sách thích hợp nhằm làm cho giai cấp công nhân dù trong hoàn cảnh
nào cũng giữ được vai trò tiên phong của mình./.

(*) Giáo sư, tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
(**) Tất cả các thuật ngữ người lao động ở đây trong Tư bản luận bản tiếng Trung
Nxb Nhân dân Bắc kinh xuất bản năm 1975, tr.556 đều dịch là người công nhân.
Điều này cũng có lý vì vào thời đó giai cấp công nhân được hiểu là những người lao
động làm thuê, là giai cấp vô sản. Chính Ph.Ăngghen, trong Lời tựa viết ngày 15-03-
1845 cho cuốn Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh đã nói rõ: “Tôi thường dùng
những từ: người lao động hoặc công nhân (working men) và người vô sản, giai cấp
công nhân, giai cấp không có của, giai cấp vô sản như những từ đồng nghĩa” (C.Mác
và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.4. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.327-328).
(1) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.23. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993,
tr.717-718 Tôi nhấn mạnh – N.T.C.
(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.4, tr.456, 458.

(3) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.4, tr.596.
(4) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.22, tr.613.
(5) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.25, Ph.1, tr.444-446, v.v
(6) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.25, Ph.1, tr.595.

trò nhỏ của các vị ấy”(1)
Đọc những lời viết trên, khi tiếp cận với tư tưởng Hồ Chí Minh, đã có rất nhiều ý
kiến khác nhau. Có người cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phát triển một cách
sáng tạo tư tưởng của C.Mác và V.I.Lênin. Không ít người lại khẳng định tư tưởng
đạo đức Hồ Chí Minh mang nội dung Nho giáo rõ rệt và chính sách phát triển đất
nước Việt Nam của Người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ chủ nghĩa Tam dâncủa Tôn
Trung Sơn, nhất là khi Người viết: “Tôi kính cẩn cầu Đức Thượng đế phù hộ dân tộc
Việt Nam và giúp cho Việt Nam đi đến cuộc thắng lợi cuối cùng. Thượng đế và Tổ
quốc muôn năm”(2) thì nhiều người tin rằng lòng nhân ái, khoan dung của Jêsu là
một mẫu mực đối với “người học trò nhỏ” Hồ Chí Minh.
Sự thật thì tư tưởng Hồ Chí Minh đã từng tiếp cận và tiếp thu nhiều dòng tư tưởng
khác nhau, đã từng “ mưu cầu hạnh phúc cho loài người”. Tư tưởng Hồ Chí Minh
không chỉ tiếp thu Nho giáo, Cơ Đốc giáo, Mác - Lênin, Tôn Dật Tiên, mà còn tiếp
thu cả Phật giáo, hệ tư tuởng tư sản; ca ngợi cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ; tiếp
cận với tư tưởng về nhà nước của A.Lincôn; cổ vũ tinh thần yêu nước của đạo Cao
Đài, Hoà Hảo. Hồ Chí Minh đã từng viết: “Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ, cứu
nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác
ma… Chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca…”(3).
Tiếp thu nhiều dòng tư tưởng khác nhau, song tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống
nhất quán, không lẫn lộn với bất cứ nhà tư tưởng nào của dân tộc và của nhân loại,
mặc dù Người tiếp nhận các giá trị từ truyền thống văn hoá của dân tộc và loài người
tiến bộ. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã vận động trong lịch sử dân tộc và loài người, xác
lập thành nền tảng tư tưởng của thời đại Hồ Chí Minh. Đó là thời đại mà nhân dân
Việt Nam đã nâng các giá trị truyền thống lên một tầm cao mới và hiện diện trước
loài người như một dân tộc anh hùng, văn minh, lịch thiệp, hiện đại.
Mỗi nhà tư tưởng lớn trong văn hoá nhân loại đều có sắc thái riêng của mình. Hồ Chí
Minh nói mình là “một người học trò nhỏ” của Khổng Tử! Thật ra, tư tưởng Hồ Chí
Minh không chỉ khác về cơ bản, mà còn vượt rất xa tư tưởng của Khổng Tử trên mọi
phương diện. Hồ Chí Minh ca ngợi ưu điểm của học thuyết Khổng Tử là tu dưỡng cá
nhân, song ngay từ năm 1927, Người đã viết: “Khổng giáo dựa trên 3 sự phục tùng:

và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật
thi ư nhân”(5). Nhấn mạnh lòng thương người của một số học thuyết tôn giáo, một

lần khác, Người lại viết: “Chúa Jêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo
đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”(6). Tiếp thu tư tưởng nhân ái
bao la của Đức Chúa Jêsu, song Hồ Chí Minh cũng thấy rằng, “cách đây 2000 năm,
Đức Chúa Jêsu đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn
chưa thực hiện được”(7).
Vấn đề cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là thương người, mà cònphải
hành động như thế nào để giải thoát cảnh cực khổ của những người bất hạnh. Khi
tiếp thu triết lý thương người của mọi tôn giáo, Hồ Chí Minh đã tìm cách giải thoát
những con người đang bị áp bức, bóc lột ra khỏi lầm than, cơ cực. Khi đồng cảm với
triết lý thương người của Đức Chúa Jêsu, Người không dừng lại ở triết lý ấy trong
suy nghĩ mà luôn hành động, luôn thực hiện cái triết lý ấy trong hoạt động thực tiễn.
Giáo sư Trần Văn Giàu, khi nghiên cứu tình thương yêu bao la của Hồ Chí Minh, đã
viết rằng: “Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn giải thoát của
những lớp người hèn yếu, lao khổ, của các dân tộc bị chà đạp, giải thoát chính bằng ý
thức, lực lượng của mình”(8).
Khi tiếp thu các tư tưởng nhân ái bao la của các bậc đại nhân tiền bối, Hồ Chí Minh
không chỉ gắn tình yêu của mình vào con người, vào đồng loại, rộng lượng đối với
kẻ thù, chấp nhận độc thoại giữa các chính kiến, mà còn quan tâm sâu sắc hơn đến
việc thực hiện, việc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con
người. Yêu con người, Hồ Chí Minh đã tìm mọi phương thức mang lại tự do cho con
người. Triết lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Người chính là hệ quả của
cách tiếp thu lòng nhân ái bao la của các bậc đại trí, đại nhân tiền bối.
Ai cũng biết Hồ Chí Minh là một người mácxít. Trong lời tự bạch dẫn ở trên, Người
đã ca ngợị phương pháp làm việc biện chứng của chủ nghĩa Mác. Chính chủ nghĩa
Mác - Lênin đã thức tỉnh và làm hoàn thiện chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh gắn
với thời đại mới. Khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin đã cung cấp cách nhìn mới về
thế giới cho mình, Người viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động,

sức”(12).
Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh tuy hội tụ những giá trị nhân văn cao cả trong các
học thuyết Khổng Tử, Jêsu, C.Mác và V.I.Lênin, nhưng tư tưởng đó là tư tưởng Hồ
Chí Minh chứ nhất định không thể là tư tưởng Nho giáo, Thiên Chúa giáo, Mác -
Lênin hay Tôn Văn. Một số người đã dựa vào lời tự bạch của Hồ Chí Minh: “Chủ
nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta”

để cho rằng, trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh thì chủ nghĩa Tôn Văn biểu hiện
khá rõ nét trên nhiều lĩnh vực chính trị quan trọng.
Chủ nghĩa tam dân (dân tộc, dân quyền, dân sinh) của Tôn Trung Sơn là một học
thuyết nằm trong phạm trù cách mạng tư sản khi phong trào duy tân nổi lên ở Nhật
Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Ở Việt Nam, do ảnh hưởng chủ nghĩa tam dân của
Tôn Trung Sơn, học thuyết dân quyền với những nội dung dân sinh, dân trí, dân khí
đã được các nhà ái quốc trong phong trào Duy Tân đề xướng. Hồ Chí Minh ngưỡng
mộ Tôn Dật Tiên không chỉ ở chủ thuyết dân tộc, dân quyền, dân sinh, mà còn tìm
hiểu chủ trương “Liên Nga, liên cộng, phù trợ công” này của ông. Tôn Dật Tiên đã
phê phán đạo đức học của Hán và Tống Nho, đồng thời xây dựng lý tưởng đạo đức
thiên hạ vị công.
Sự gặp gỡ giữa tư tưởng của Tôn Trung Sơn với Hồ Chí Minh là gặp ở quan điểm
về chủ nghĩa dân tộc. Trong chủ nghĩa tam dân, Tôn Trung Sơn quan tâm sâu sắc đến
quyền lợi dân tộc. Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh cũng đã nhận định: “Chủ nghĩa
dân tộc là một động lực lớn của đất nước”. Cùng với chủ nghĩa dân tộc, Người cũng
rất quan tâm tới xây dựng một nền đạo đức mới vượt qua học thuyết đạo đức của
Khổng Tử. Song, trong tư tưởng của Người, chủ nghĩa dân tộc phải gắn liền với chủ
nghĩa quốc tế. Người viết: “Khi chủ nghĩa dân tộc… thắng lợi, thì… nhất định chủ
nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”(13).
Hồ Chí Minh đã nói tới độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào, hạnh phúc cho nhân
dân. Ở Người, đặc điểm nổi bật là tin tưởng sắt đá vào sức mạnh của nhân
dân. Phạm trù nhân dân đã tạo nên sức sống và sự sáng tạo to lớn trong tư tưởng Hồ
Chí Minh. Người viết: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới

Chủ nghĩa yêu nước quốc tế ở Hồ Chí Minh khác hẳn với chủ nghĩa vị quốc chật
hẹp. Quan điểm về tính nhân dân với lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội của Hồ Chí Minh khác rất xa với chủ nghĩa Tam dân Tôn Trung Sơn. Phong
cách tư duy của Hồ Chí Minh là phong cách tư duy tổng hợp, khái quát, độc lập, tự
chủ, sáng tạo gắn với thực tiễn đang vận động.
Tiếp biến nhiều dòng tư tưởng trong di sản tinh thần của nhân loại, song tư tưởng Hồ
Chí Minh là một hệ thống tư tưởng được hình thành trong ba phong trào lớn của thế
kỷ XX, nhằm đưa dân tộc Việt Nam tới độc lập, đất nước thống nhất tiến lên chủ
nghĩa xã hội, nhân dân được sống tự do, ấm no, hạnh phúc, góp phần ổn định tình
hình thế giới, phát triển hữu nghị giữa các dân tộc, vì tiến bộ xã hội và sự phát triển

tốt đẹp các giá trị cá nhân và cộng đồng con người và tự nhiên.
Cách tiếp thu các di sản tư tưởng nhân loại của Hồ Chí Minh đã xác lập hệ tư tưởng
Hồ Chí Minh sáng tạo, thống nhất bởi bốn tiểu hệ thống:
Thứ nhất là chủ nghĩa yêu nước và tình yêu con người. Đó là tình yêu những con
người bị áp bức, bị bóc lột; là chủ nghĩa yêu nước quốc tế kết hợp với sức mạnh dân
tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh cá nhân với sức mạnh cộng đồng trên cơ sở tư
tưởng nền tảng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.
Thứ hai là tư tưởng xây dựng nhà nước kiểu mới. Đó là nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, trên cơ sở một nền dân chủ của dân, do dân, vì dân và sức mạnh thuộc về
nhân dân.
Thứ ba là tư tưởng về tương lai của con người, của xã hội loài người, của đất nước
tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một chủ nghĩa xã hội Việt Nam dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là “xã hội văn hoá cao”.
Thứ tư là tư tưởng về mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, con người và tự nhiên.
Đó là những tư tưởng lớn về một thế giới hoà bình, đầy tình hữu nghị, về một môi
trường tự nhiên thân thiện, tươi đẹp và trong lành.
Bốn tiểu hệ thống này liên kết với nhau bởi quan điểm toàn diện nhằm gắn sự phát
triển đời sống vật chất với đời sống tinh thần của con người, truyền thống với hiện
đại, cá nhân với xã hội, dân tộc với quốc tế, con người với tự nhiên.

(9) Hồ Chí Minh. Sđd., t.10, tr.127.

(10) Hồ Chí Minh. Sđd., t.1, tr.464 - 465.
(11) Hồ Chí Minh. Sđd., t.8, tr.496.
(12) Hồ Chí Minh. Sđd., t.9, tr.292.
(13) Hồ Chí Minh. Sđd., t.1, tr.467.
(14) Hồ Chí Minh. Sđd., t.8, tr.279.
(15) Hồ Chí Minh. Sđd., t.5, tr.279, 644.

NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG “XÃ THƯƠNG PHÁP” CỦA CHU HY VÀ VAI
TRÒ ĐẢM BẢO XÃ HỘI CỦA NÓ

TRƯƠNG PHẨM ĐOAN (*)

Chế độ lấy vật chất hiện thực để đảm bảo xã hội có lịch sử lâu đời ở Trung Quốc cổ
đại, trong số đó được tôn sùng là “Xã thương pháp” của Chu Tử. Nội dung cơ bản
của nó là: thứ nhất, xã thương thiết lập ở hương lý, quan đốc dân làm; thứ hai, cho
vay mượn để thu lợi tức, tự hành tích luỹ của cải, tài sản; thứ ba, tác dụng của xã
thương pháp đối với những năm mất mùa là cứu tế, những năm không mất mùa là
giúp đỡ người nghèo, đảm bảo sức sản xuất, tái sản xuất. Thực thi xã thương pháp
không chỉ giảm gánh nặng kinh tế cho triều đình, mà còn làm thay đổi quan điểm
của triều đình đối với người dân gặp thiên tai. Ngoài ra, xã thương pháp còn có tác
dụng giáo dục nông dân về ý thức tự đảm bảo cuộc sống và duy trì sự ổn định của
xã hội.
Vào năm 1171, tại xã Khai Diệu, thôn Ngũ Phu, Sùng An, Phúc Kiến (nay là thành
phố Vũ Di Sơn), Chu Hy đã sáng tạo ra “Ngũ Phu xã thương”. Trên cơ sở tổng kết
những kinh nghiệm thực tiễn, ông còn đặt ra “Xã thương sự mục”. Vào đời Thuần

việc trông coi, thu nạp, đề nghị áp dụng theo phương pháp trước đây, lấy xã thương
để làm nơi tích trữ….”(5). Sau đó, Tri phủ Kiến Ninh đã bỏ tiền ra xây kho. Mùa
thu năm 1171, kho trữ lương ở Ngũ Phu đã hoàn thành, mang lại cái lợi lớn cho
dân.
Sau khi Chu Hy xúc tiến việc xây kho ở Ngũ Phu; Kiến Dương, Quang Trạch, Kiến
Ninh, Thuận Xương, v.v. của huyện Mân Bắc cũng tiến hành xây dựng xã thương.
Không lâu sau đó, Mân Bắc đã có hơn 100 xã thương, việc xây dựng xã thương ở
thời gian này phát triển cực thịnh. Về sau, xã thương không ngừng mở rộng ra các
nơi khác. Thời Nam Tống, đời Thuần Hy năm thứ 2 (1175), cha của Lữ Tổ Khiêm,
một nhà nho lớn ở Triết Đông đến diện kiến Chu Hy, khi đến Ngũ Phu, tận mắt
chứng kiến ưu điểm của xã thương, khi quay về lập tức bắt tay xây dựng xã thương.
Tiếp theo, đến lượt Giang Tô, Giang Tây xây dựng xã thương. Từ thời Nam Tống,
đời Thuận Hy thứ 8 (1181) trở về sau, do sự thúc đẩy của Chu Hy và Lý Tông, xã
thương lan rộng trong toàn quốc, đồng thời trở thành hình thức chủ yếu tích trữ
lương thực để đề phòng thiên tai, mất mùa ở nông thôn.
Ở đây, cần nói rõ một điểm, xây dựng xã thương hoàn toàn không phải do Chu Hy
là người đầu tiên đưa ra. Ngay ở đời Tống, theo ghi chép: “Xã thương xây dựng ở
thời Bắc Tống năm Nhân Tông thứ nhất (1041)… xây dựng xã thương ở châu
huyện”(6). Nhưng việc xây dựng xã thương ở xã thôn thì Chu Hy là người đầu tiên.
Lý Tâm Truyền đời Tống nói: “Chu Nguyên Hối tiên sinh xây dựng ở xã thôn, mỗi

năm cho dân vay, cuối năm thu lại, nay nếu xây dựng xã thương ở xã thôn, giúp cho
người dân được thuận lợi, đó chính là hợp với ý của tiên sinh”
(7)
. Minh Gia Cảnh
trong “Kiến Ninh phủ chí” cũng ghi: “Xã thương không do quan lại nắm giữ, nó
nguyên là của người dân xã thôn, những người dân mất mùa đói kém cầu sự no đủ
mà không muốn phạm pháp, liền hợp lực, mua ruộng tích trữ lương thực, lập ra xã
thương”.
Ưu điểm của xã thương, cổ nhân đã có sự khẳng định. Đổng Hoa Minh đời Minh

Việc tích trữ lương thảo kho quan, trong lịch sử đa phần áp dụng biện pháp thu
thuế. Việc thu thuế, bất luận là áp dụng theo mẫu ruộng hay theo hộ, v.v. đều xâm
hại đến lợi ích của địa chủ quan liêu, luôn gặp phải sự chống đối của họ. Ngoài ra,
lương thực trong kho thường bị quan phủ chuyển sang việc khác, danh không phù
hợp với thực. “Xã thương sự mục” quy định biện pháp cho vay thu lãi như sau:
“Mỗi thạch thu lãi hai đấu”, “hoặc là khoản vay nhỏ, thì miễn lãi một nửa; còn khi
nạn đói xảy ra thì miễn hoàn toàn”. Đến khi có lãi nhiều thì “càng không lấy lãi,
mỗi thạch chỉ thu 3 thăng”(9). Khi mùa giáp hạt, thì thu lãi mỗi thạch 3 đấu, lãi này
không phải là thấp, cũng khá là ưu đãi. Quy định như vậy về lãi suất chủ yếu nhằm
không ngừng tăng lượng tích trữ lương thực, lấy nhiều bù đắp thiếu, đạt được mục
tiêu cứu trợ thiên tai. Chu Hy áp dụng biện pháp cho vay lấy lãi, mỗi năm tích luỹ
nhiều hơn để xây dựng và phát triển xã hội, kết quả thu được rất tốt.
Thứ ba, lương thảo trong kho dùng cho cứu chẩn trong những năm thiên tai, giúp
đỡ người nghèo những năm không mất mùa. Những kho lương thảo thông thường
dùng cho cứu chẩn, bình thường không mở cửa, thậm chí để lương thực hư hỏng
cũng không cho vay. Xã thương của Chu Hy thì không phải như vậy, ông quy định
trong “xã thương sự mục” như sau: “Những năm không mất mùa, nếu như dân
muốn vay thì cũng mở hai kho, giữ lại một kho. Nếu gặp cảnh đói kém thì mở cả 3
kho, đối với những người dân ở nơi hẻo lánh heo hút thì việc cho vay có mùa
vụ”(10). Quan điểm chủ đạo là: Bất luận năm được mùa hay mất mùa đều cho vay,
năm bình thường cho vay thu lãi, năm mất mùa thì giảm lãi, miễn lãi. Năm mất mùa
dùng để đảm bảo cuộc sống của người dân đói kém, đảm bảo sản xuất; năm bình
thường thì cho vay, giúp đỡ những nông dân cấy trồng ở những nơi “thâm sơn cùng
cốc”, giải quyết cho nông dân những khó khăn trong kỳ giáp hạt. Cách làm như vậy
có thể biến “lúa chết” thành “lúa sống”, phát huy tác dụng trợ giúp sản xuất, tăng
cường tác dụng phòng chống thiên tai, lại vừa tránh cho nông dân nghèo khổ tránh

được phải trả lãi suất cao. Đồng thời, lại giúp cho kho lương thực hàng năm luôn
được đổi mới, không bị ẩm mốc, hư hỏng.
Thứ tư, xã thương dựa vào quan xã, sĩ nhân quản lý. Trong xã hội phong kiến, “trị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status