Quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu,phương châm đối ngoại và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới - Pdf 33

LUẬN VĂN:

Quan điểm của Hồ Chí Minh về mục
tiêu,
phương châm đối ngoại và sự vận dụng
của
Đảng Cộng sản Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới


Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà yêu nước vĩ đại, nhà hoạt động quốc tế xuất sắc, chiến
sĩ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc, sứ giả của hoà bình và hữu nghị. Người
vừa là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà chiến lược quân sự, nhà ngoại giao, nhà văn, nhà
thơ, nhà báo; là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; kiến lập, giáo dục và rèn luyện
quân đội ta, đồng thời cũng là người sáng lập ra nền ngoại giao Việt Nam hiện đại. Cuộc
đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Người đã để lại kho tàng lý luận, tư tưởng cách
mạng và khoa học vô giá cho dân tộc Việt Nam. Nó là kim chỉ nam cho cách mạng Việt
Nam nói chung và cho việc xây dựng nền ngoại giao nói riêng phát triển, từng bước đánh
thắng kẻ thù xâm lược, khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời nó
còn có giá trị to lớn đối với công cuộc đổi mới, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
trong giai đoạn hiện nay.
Trên những giá trị lý luận và thực tiễn mà tư tưởng Hồ Chí Minh mang lại, Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) đã khẳng định: “cùng
với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam
cho hành động”. Thực tiễn cho thấy, vận dụng tư tưởng của Người đã đưa cách mạng Việt
Nam vượt qua những khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tạo nên
những trang hào hùng của lịch sử dân tộc Việt Nam.
Một trong những di sản trong hệ thống tư tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại
cho Đảng, dân tộc, nhân dân ta là tư tưởng đối ngoại. Tư tưởng đối ngoại là bộ phận quan

và vận dụng sáng tạo quan điểm đó của Người vào việc xây dựng mục tiêu, phương châm
của đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam có một ý nghĩa lý luận và
thực tiễn sâu sắc. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Quan điểm của Hồ Chí Minh về mục
tiêu, phương châm đối ngoại và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Hồ Chí Minh học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong hệ thống tư tưởng toàn diện sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách mạng
Việt Nam, tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh được nhiều nhà khoa học, nhiều học giả quan
tâm nghiên cứu. Đến nay có nhiều công trình với nhiều khoa học, nhiều sách chuyên đề,


bài viết có liên quan đến đề tài này. Mỗi nhà nghiên cứu đều có cách tiếp cận, nhìn nhận
vấn đề riêng cụ thể như:
Đề tài:
- Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX- 02, Nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh, do Giáo sư Đặng Xuân Kỳ làm chủ nhiệm. Chương trình này gồm 13 đề tài
cấp nhà nước, trong đó có đề tài Hồ Chí Minh với thế giới, mỗi đề tài nghiên cứu một cách
toàn diện và có hệ thống một khía cạnh trong tư tưởng của Người. Chương trình cung cấp
cho chúng ta một bức tranh tổng thể về quan điểm, lý luận chính trị toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, về sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Bộ ngoại
giao năm 2002 do Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Đình Bin làm chủ nhiệm. Đề tài gồm
một số đề tài nhánh. Các tác giả đã phân tích các nội dung: bối cảnh ra đời, quá trình phát
triển, nguồn gốc, nội dung cơ bản của tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh, phương pháp,
phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
Minh thời kỳ hội nhập, Ban nghiên cứu lịch sử ngoại giao, Bộ ngoại giao năm 2008 do
PGS,TS. Vũ Dương Huân làm chủ nghiệm đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản của tư
tưởng đối ngoại, phương pháp, phong cách, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh và sự vận

Chí Minh trong thời kỳ hội nhập.
- Ngoài ra còn một số cuốn sách khác như: Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam
(1945 - 1995) của Lưu Văn Lợi, Nxb Công an nhân dân, 1996; Phan Ngọc Liên (chủ biên):
“ Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với thời đại”( 2000); Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch
Hồ Chí Minh 1954 - 1969 của Trần Minh Trưởng, Nxb Công an nhân dân, 2005; Tư tưởng
Hồ Chí Minh về ngoại giao của Vũ Dương Huân, 2005; Đỗ Đức Hinh: Tư tưởng Hồ Chí
Minh về đối ngoại - Một số nội dung cơ bản ( 2007)…
Luận văn, luận án:


Nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ khoa học lịch sử, khoa học chính trị được
thực hiện như:
- Luận án tiến sĩ: “Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại thời kỳ từ tháng 9/1945 đến
tháng 12/1946” của Nguyễn Thị Kim Dung, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh;
“Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1945 - 1954”, LATS của Đặng
Văn Thái, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; ”Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ
Chí Minh giai đoạn 1954 - 1969”, LATS của Trần Minh Trưởng, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh …
- Luận văn thạc sĩ (2008) “Vận dụng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh vào việc
hoạch định đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay” của Hoàng Thị
Hương Thu, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Những luận án, luận văn đó đã góp một phần quan trọng vào việc làm rõ những
quan điểm của Hồ Chí Minh về đối ngoại, hoạt động ngoại giao và sự vận dụng của Đảng,
đồng thời là tài liệu tốt để tác giả thực hiện luận văn.
Báo, tạp chí:
Nhiều bài viết của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các nhà khoa học về những
sự kiện ngoại giao, hoạt động đối ngoại, đã được đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí
Lịch sử Quân sự, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử:
- Văn Tạo: “Công tác đối ngoại hiện nay trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3 - 1993.

mục tiêu, phương châm đối ngoại; đồng thời, nghiên cứu sự vận dụng của Đảng Cộng sản
Việt Nam trong việc xác định mục tiêu, phương châm đối ngoại để xây dựng và thực hiện
đường lối đối ngoại trong thời kỳ đổi mới.
- Nhiệm vụ:
+ Làm rõ những nội dung cơ bản của mục tiêu, phương châm đối ngoại trong tư
tưởng Hồ Chí Minh.
+ Làm rõ sự vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối
ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.


+ Bước đầu nêu ra một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức và vận dụng đúng
đắn, hiệu quả quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối ngoại trong giai
đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối ngoại.
- Sự vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối ngoại của
Đảng trong thời kỳ đổi mới, hội nhập khu vực và quốc tế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu quan điểm Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối ngoại.
- Nghiên cứu thực tiễn chỉ đạo của Hồ Chí Minh trong hoạt động thực hiện đường
lối đối ngoại của Nhà nước Việt Nam (1945 - 1969).
- Nghiên cứu sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
(1986 - 2008).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn thực hiện trên cơ sở những quan điểm, nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin về cách mạng, đấu tranh cách mạng, liên minh, thoả hiệp, đồng thời dựa vào
những quan điểm của Hồ Chí Minh về đối ngoại; những quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam; những quan điểm của các nhà khoa học trong nước và nước ngoài về mục tiêu,


1.1. một số nhận thức chung về Quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh
1.1.1. Một số khái niệm về quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh
Quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành của tư tưởng Hồ Chí
Minh về con đường cách mạng Việt Nam. Vì vậy để hiểu được quan điểm đối ngoại Hồ
Chí Minh thì trước hết phải hiểu khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ IX đã đưa ra khái niệm về tư tưởng Hồ Chí Minh như sau:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển
sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát
triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân
loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con
người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội…
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành
thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta [17, tr.83-84].
Như vậy, có thể hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và
sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa
Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh của những tinh hoa văn
hoá dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng
con người.
Quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh là một bộ phận trong nội hàm của khái niệm tư
tưởng Hồ Chí Minh, giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống các quan điểm của Hồ Chí
Minh về cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về đối ngoại, về ngoại giao cũng đã được đề cập đến trong các văn kiện của Đảng và


đã có một số hội thảo chuyên đề hay một số nội dung đã được kết hợp ở một số chuyên đề
khác của tư tưởng Hồ Chí Minh trong chương trình học tập lý luận tại Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và một số chương trình khác.

lượng, phân rõ bạn thù, củng cố đồng minh, phân hoá đối phương, tranh thủ
trung gian, cô lập kẻ thù chủ yếu và nguy hiểm nhất, quán triệt tư tưởng tiến
công, vững chắc về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, biết thắng từng bước đi
đến thắng lợi hoàn toàn, độc lập tự chủ, đoàn kết quốc tế [74, tr.132-142].
Nguyên Phó thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm trong hội
thảo “50 năm ngoại giao Việt Nam” khái quát tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh như sau:
Không có gì quý hơn độc lập, tự do, độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đem
sức ta mà giải phóng cho ta, vạch ra chính sách và phương hướng ứng dụng biện
pháp của riêng mình, luôn giương cao ngọn cờ hoà bình và hữu nghị, “dĩ bất
biến, ứng vạn biến”, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại [24, tr .91].
Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan lại sử dụng tư tưởng đối ngoại, và cho rằng
những nhận thức của Hồ Chí Minh về tính chất thời đại, mục tiêu đối ngoại, sắp xếp lực
lượng, chỉ đạo chiến lược (độc lập tự chủ, kiên trì nguyên tắc, linh hoạt sách lược, nắm bắt
thời cơ, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”… [32].
Nguyên Ngoại trưởng Nguyễn Dy Niên trình bày một khái niệm về ngoại giao khá
toàn diện:
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bắt nguồn từ tư tưởng chính trị Hồ Chí
Minh, là một bộ phận hữu cơ của tư tưởng của Người về cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là một hệ thống những nguyên lý, quan
điểm, quan niệm về các vấn đề thế giới và thời đại, đường lối quốc tế, chiến lược,
sách lược đối ngoại và ngoại giao Việt Nam thời kỳ hiện đại. Tư tưởng này còn thể
hiện trong hoạt động đối ngoại thực tiễn của Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước Việt
Nam [56, tr .89].
PGS,TS. Vũ Dương Huân trong cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao” đã
nêu khái niệm: Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao là một bộ phận hữu cơ tư tưởng Hồ


Chí Minh về đường lối cách mạng Việt Nam, là hệ thống các quan điểm về khoa học quan hệ
quốc tế, đường lối đối ngoại, chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta, kết quả sự vận
dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin và khoa học quan hệ quốc tế vào điều kiện Việt

- Bao gồm cả phương pháp, phong cách, nghệ thuật ngoại giao.
Tìm hiểu quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh, một mặt giúp cho chúng ta có những
định hướng lý luận và xây dựng đường lối đối ngoại đúng đắn sáng tạo, mặt khác góp phần
thiết thực vào nhiệm vụ nghiên cứu và tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng đối
ngoại Hồ Chí Minh nói riêng. Từ những khái niệm của các nhà nghiên cứu đã đề cập ở
trên, theo tác giả có thể hiểu về tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh như sau:
Quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh là một bộ phận hữu cơ của tư tưởng Hồ Chí
Minh về đường lối cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo học thuyết
Mác - Lênin vào điều kiện Việt Nam, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam, tinh hoa văn hoá của nhân loại về khoa học quan hệ quốc tế. Đó là những quan
điểm về mục tiêu đối ngoại; phương châm đối ngoại; lực lượng và thứ tự ưu tiên trong
đối ngoại; nguyên tắc và phương pháp đối ngoại…
Những quan điểm trên đây là kim chỉ nam cho hoạt động quốc tế, đối ngoại và
ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh và cả trong giai đoạn hiện nay khi đất
nước bước vào công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá, hội nhập và phát triển.
1.1.2. Vị trí của quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh trong hệ tư tưởng của
Người
Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là khoa học, vừa là “một cẩm nang” cho hoạt động thực
tiễn. Việc nghiên cứu, tổng kết hệ thống những quan điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh để
vận dụng vào thực tiễn cách mạng nước ta phải là một quá trình, được tiếp cận từ nhiều
hướng khác nhau, được lý giải ở nhiều lĩnh vực khác nhau, và được đánh giá tổng kết ở
nhiều cấp độ khác nhau. Bởi vì, bản thân tư tưởng Hồ Chí Minh không giới hạn bởi một
lĩnh vực, không nhằm giải thích riêng cho một vấn đề cụ thể nào, mà tư tưởng Hồ Chí
Minh là một tổng thể, một hệ thống quan điểm các vấn đề bao trùm tất cả các hoạt động
của đời sống và xã hội.
Để hiểu được vị trí của quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh trong hệ tư tưởng của
Người trước hết ta tìm hiểu một số khái niệm có liên quan.


Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đường lối là những nguyên tắc cơ bản về phương

thực hiện lợi ích ấy trên trường quốc tế. Chính sách đối ngoại thống nhất với chính sách
đối nội ở nội dung giai cấp, xuất xứ và phương hướng. Nói cách khác, mối liên hệ giữa
chính sách đối nội và chính sách đối ngoại của một quốc gia là ở chỗ chúng đều nhằm giải
quyết một nhiệm vụ bảo vệ, duy trì hệ thống quan hệ kinh tế - xã hội hiện hành của quốc
gia đó. Như V.I.Lênin thường nhắc nhở: “Đem tách chính sách đối ngoại ra khỏi chính trị
nói chung, hay hơn nữa, đem đối lập chính sách đối ngoại với chính sách đối nội, đó là tư
tưởng hoàn toàn sai lầm, không Mácxít, không khoa học”[36, tr.121].
Mục đích và lợi ích của một quốc gia trong quan hệ quốc tế được thực hiện trước
tiên thông qua quan hệ chính thức giữa các chính phủ, nhưng đồng thời cũng được thực
hiện thông qua các quan hệ kinh tế và văn hoá, dưới sự bảo trợ của chính phủ cũng như
của các công ty, đoàn thể quần chúng, các tổ chức phi chính phủ v.v… Cuối cùng được
thực hiện thông qua việc sử dụng lực lượng vũ trang. Lực lượng vũ trang này tuỳ thuộc
vào tính chất giai cấp của Nhà nước và tính chất của chính sách đối ngoại mà mang tính
chất, mục đích xâm lược hay tự vệ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng quan hệ thống nhất
giữa đối nội và đối ngoại là quy luật tuyệt đối của quan hệ quốc tế [30, tr.17].
Chính sách đối ngoại (hay chính sách ngoại giao) của một quốc gia bao giờ cũng
gắn kết chặt chẽ với chính sách đối nội của quốc gia đó, có nghĩa nó là sự nối tiếp của
chính sách đối nội. Vì thế có thể nói, chính sách đối ngoại là sự “kéo dài” của chính sách
đối nội.
Đường lối chính sách đối ngoại luôn phục vụ cho mục tiêu của đường lối chính sách
đối nội, bị chi phối bởi đường lối, chính sách đối nội. Giữa đường lối, chính sách đối ngoại
với đường lối, chính sách đối nội có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với nhau, đường
lối, chính sách đối nội là tiền đề, là cơ sở của đường lối chính sách đối ngoại và đường lối,
chính sách đối ngoại sẽ tạo điều kiện, tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện đường
lối, chính sách đối nội.
Đường lối, chính sách đối ngoại của một quốc gia nhằm mục đích thực hiện những
lợi ích của quốc gia, mở rộng quan hệ quốc tế. ở nước ta, việc thành lập nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà (1945) do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đã khởi đầu đường lối, chính sách



Việt Nam mới thể hiện trong Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945) và trong “Thông cáo về chính
sách ngoại giao” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (3/10/1945).
Như vậy, đường lối quốc tế và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta được
Hồ Chí Minh vạch ra cùng việc hình thành đường lối giải phóng dân tộc, được thể hiện
sinh động trong cách mạng tháng Tám, được bổ sung, sửa đổi mỗi lúc cách mạng Việt
Nam đứng trước khúc quanh của thời đại đòi hỏi phải điều chỉnh chiến lược nhằm phục vụ
tốt hơn cho mục tiêu cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử.
Vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức tầm quan trọng của việc đưa đường
lối đối ngoại, xu thế vận động quốc tế vào thực hiện mục tiêu cách mạng Việt Nam như
vậy?
Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa chính sách đối nội và
chính sách đối ngoại, đánh giá cao vị trí, vai trò của đối ngoại, vai trò của nhân tố quan hệ
quốc tế, nhân tố bên ngoài trong cuộc đấu tranh giành độc lập bảo vệ và xây dựng Tổ
quốc. Trong quá trình tìm đường cứu nước, tư tưởng của Người về đường lối cách mạng
Việt Nam, bao gồm cả lĩnh vực đối nội và cả lĩnh vực đối ngoại đã dần dần được hình
thành và phát triển.
Nhận thức về vai trò của vũ khí đối ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: ngày
nay, “ngoại giao ai thuận lợi hơn thì thắng” [46, tr.514]. Quan điểm trên đây được cụ thể
hoá trong việc đề ra và vận hành đường lối đối ngoại và xây dựng mạng lưới hoạt động
ngoại giao, vận động quốc tế sau những chặng đường đấu tranh trong gần 80 năm qua, nó
đã khẳng định vị trí của đối ngoại trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như trong thực
hiện đường lối, mục tiêu cách mạng.
Theo quan điểm của Người, một nước nhỏ muốn đánh thắng đế quốc to, đường lối
đối ngoại và hoạt động ngoại giao có vai trò tích cực, mở ra khả năng liên kết với lực
lượng đồng minh xa gần bên ngoài, làm suy yếu, phân hoá thế lực thù địch, góp phần quan
trọng làm thay đổi cục diện đấu tranh và tương quan lực lượng có lợi cho nước nhỏ. Lý
giải về “đánh bằng mưu” trong “Binh pháp Tôn Tử”, Người nhấn mạnh: “..dùng binh giỏi
nhất là đánh bằng mưu. Thứ hai là đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới đánh bằng binh. Vây




ngoại giao của các đoàn thể chính trị, của các tổ chức phi chính phủ, của nhân dân…trên
tất cả các lĩnh vực với tất cả các đối tác phải quan hệ, có quan hệ và cần quan hệ. Tư tưởng
đối ngoại Hồ Chí Minh còn là cẩm nang trong xử lý tình thế, ứng xử quốc tế góp phần xây
dựng nền nghệ thuật ngoại giao và phong cách ngoại giao Việt Nam.
1.1.3. Vị trí của mục tiêu, phương châm đối ngoại trong quan điểm đối ngoại
Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là một vấn đề lớn, phong phú, bởi vì tư tưởng
Hồ Chí Minh về đối ngoại cũng bao gồm một hệ thống vấn đề (hay các quan điểm) về đối
ngoại trên các mặt hoạt động và qua các thời kỳ khác nhau. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối
ngoại cũng được hình thành và phát triển trong một quá trình, theo một quy luật và logic
hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Luận văn đề cập đến những quan điểm của
Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối ngoại góp phần lý giải về tư tưởng đối ngoại
Hồ Chí Minh nhưng bên cạnh đó cũng khẳng định vị trí của mục tiêu, phương châm trong
quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh.
Trong quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh thì mục tiêu, phương châm đối ngoại
chiếm một vị trí quan trọng. Quan điểm đối ngoại phục vụ cho đường lối cách mạng, mục
tiêu cách mạng thì mục tiêu đối ngoại cũng hướng tới điều đó, mục tiêu đối ngoại hướng
tới, phục vụ lợi ích của đất nước, nhân dân. Mục tiêu đối ngoại là cơ sở để hoạch định
đường lối đối ngoại, hoạt động đối ngoại, nếu xác định mục tiêu đối ngoại không đúng đắn
sẽ mang đến những hậu quả khó lường.
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Độc lập, tự
do cho Việt Nam; độc lập, tự do cho mọi quốc gia - dân tộc. Mục tiêu chung của cách mạng
Việt Nam và cũng là mục tiêu suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: Giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội, giải phóng con người; “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc
lập, dân chủ và giàu mạnh”[53, tr.647], thật sự đem lại cuộc sống ấm no, tự do, công bằng và
hạnh phúc cho toàn thể nhân dân; góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng chung của
nhân loại vì một thế giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Người phấn đấu vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội cho Việt Nam; hoà bình hữu
nghị, dân chủ và tiến bộ xã hội cho nhân loại.

cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô


sản” [52, tr.314]. Để đảm bảo cho sự nghiệp giải phóng dân tộc thắng lợi triệt để thì cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản. Trong những năm tháng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chiến
lược và mục tiêu cách mạng cụ thể của mỗi thời kỳ có khác nhau, nhưng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội là lý tưởng nhất quán của Người, mọi hoạt động đối ngoại cũng phải
phục vụ cho mục tiêu đó, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định các quyền dân tộc
cơ bản và nhấn mạnh độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất
nước, vì hoà bình và phát triển là mục tiêu cách mạng và cũng là mục tiêu quan trọng của đối
ngoại.
1.2.1. Đối ngoại nhằm đảm bảo các quyền cơ bản cho đất nước, đảm bảo lợi ích
của quốc gia, dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định các quyền dân tộc cơ bản, đảm bảo lợi ích
của quốc gia, dân tộc là mục tiêu cách mạng và cũng là mục tiêu quan trọng của đối ngoại.
Người nói: “muốn làm gì cũng cần phải vì lợi ích dân tộc mà làm” [57, tr.112]. Suốt cuộc đời
hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã đấu tranh không mệt mỏi, không khoan nhượng để
giành lại các quyền dân tộc cơ bản cho đất nước, bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc Việt Nam.
Năm 1919, dưới tên Nguyễn ái Quốc, thay mặt cho những người Việt Nam yêu nước,
Người gửi tới Hội nghị Vecxây bản Yêu sách 8 điểm, đòi các quyền tự do dân chủ cho
nhân dân Việt Nam. Đây là hình thức thử nghiệm đầu tiên của Hồ Chí Minh về sử dụng
pháp lý tư sản trong đấu tranh bằng phương pháp hoà bình. Bản Yêu sách tập trung vào 2
nội dung cơ bản:
Một là, đòi quyền bình đẳng về chế độ pháp lý cho người bản xứ Đông Dương như
đối với người châu Âu là phải xoá bỏ các toà án đặc biệt dùng làm công cụ khủng bố, đàn
áp bộ phận trung thực nhất trong nhân dân (tức những người yêu nước); phải xoá bỏ chế
độ cai trị bằng sắc lệnh (một cách độc tài) và thay thế bằng chế độ ra các đạo luật.
Hai là, đòi các quyền tự do dân chủ tối thiểu cho nhân dân, đó là quyền tự do ngôn
luận, tự do báo chí, tự do lập hội, hội họp, tự do cư trú…

trương tổ chức cuộc Tổng tuyển cử theo chế độ phổ thông đầu phiếu bầu Quốc hội để
ban hành Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng
tuyển cử đầu tiên trong cả nước được tiến hành. Ngày 9/11/1946, Bản Hiến pháp đầu


tiên được Quốc hội thông qua. Trong bối cảnh lúc bấy giờ, Việt Nam trở thành một
trong những dân tộc tiên phong trong hàng ngũ các nước thuộc địa và phụ thuộc tự
mình giải phóng khỏi ách thực dân và xác lập cơ sở pháp lý đối với các quyền dân tộc
cơ bản của mình cũng như các quyền cho nhân dân mình trong đó có quyền công dân.
Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2/3/1946) đã quyết
định công nhận Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Tuyên
ngôn của Quốc hội với quốc dân và thế giới:
Chủ quyền của nước Việt Nam độc lập thuộc về toàn thể nhân dân Việt Nam.
Vận mệnh quốc gia việt Nam là ở trong tay Quốc hội Việt Nam, chính thể của nước
Việt Nam là chính thể dân chủ công hoà, có nhiệm vụ bảo vệ tự do và mưu đồ hạnh
phúc cho mọi tầng lớp nhân dân …Quốc hội Việt Nam kiên quyết bảo vệ đến cùng
nền độc lập và lãnh thổ quốc gia và quyền tự do của nhân dân Việt Nam [43, tr.106107].
Hiệp định sơ bộ ( 6/ 3/1946 ) là văn bản đối ngoại mang tính pháp lý quốc tế đầu tiên
mà Việt Nam Dân chủ cộng hoà ký kết với nước ngoài. Với Hiệp định này, Việt Nam được
công nhận là "quốc gia tự do" nằm trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp; chấp
nhận trưng cầu dân ý ở Nam Bộ về việc hợp nhất "ba kỳ". Chính phủ Pháp công nhận Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng của mình...
Đối với chủ quyền dân tộc của Việt Nam, thì những thoả thuận ấy là rất quan trọng.
Nói chuyện với đồng bào trước khi sang Pháp giữa năm 1946, Hồ Chí Minh khẳng
định:
Cả cuộc đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ
quốc, và hạnh phúc của quốc dân.
Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha
sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó.
Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, uỷ thác cho tôi

tế phải là vấn đề liên minh tự nguyện giữ các dân tộc [51, tr.569].
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc vì các quyền dân
tộc cơ bản của họ, đồng thời khẳng định rằng cuộc đấu tranh vì các quyền dân tộc cơ bản


Trích đoạn Bối cảnh trong nước Thực trạng đối ngoại của Việt Nam trước đổi mớ Vận dụng về mục tiêu đối ngoạ Vận dụng tư tưởng về phương châm đối ngoạ Thành tựu của việc vận dụng quan điểm về mục tiêu, phương châm đối ngoại Hồ Chí Minh trong thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status