ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THÀNH HƯNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TỰ DO
TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO VÀ SỰ VẬN DỤNG
CỦA ĐẢNG TA HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ: TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: VŨ VĂN HẬU
TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TỰ DO TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO
1.2.2 Tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
được cụ thể hoá bằng hệ thống pháp luật
31
1.2.3 Nguyên tắc tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Hồ Chí Minh gắn với việc chống
lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vào mục đích chính trị và mê tín dị đoan
35
CHƢƠNG 2
VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TỰ DO TÍN NGƢỠNG,
TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG TA HIỆN NAY
41
2.1. Những đặc điểm tình hình tín ngƣỡng, tôn giáo trong và ngoài nƣớc tác
động tới việc thực hiện tự do tín ngƣỡng, tôn giáo ở nƣớc ta
2.1.1 Đặc điểm tình hình tín ngưỡng, tôn giáo trên thế giới tác động tới thực hiện
tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta
41
2.1.2 Tình hình tín ngưỡng, tôn giáo trong nước tác động tới thực hiện
tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta
49
2.3.2 Đổi mới nhận thức khi giải quyết quan hệ giữa nhà nước với các
tổ chức tôn giáo
71
2.3.3 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo và luật hóa quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
75
79
82
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Do đặc điểm về điều kiện tự nhiên, lịch sử và văn hóa, Việt Nam là một quốc gia
có nhiều tôn giáo, các tôn giáo trong lịch sử cũng như hiện nay đều cơ bản hoạt động
trên tinh thần đồng hành cùng với dân tộc. Theo con số công bố của Ban tôn giáo Chính
phủ, hiện nay cả nước có khoảng hơn 20 triệu tín đồ các tôn giáo khác nhau, chiếm 20%
dân số. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây các thế lực thù địch trong và ngoài nước
dùng mọi thủ đoạn lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng nhằm chống phá thành quả cách mạng
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Các thế lực rêu rao, vu khống chính
quyền Việt Nam trên các phương tiện truyền thông, trên các diễn đàn quốc tế sự vi
phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tạo ra sự chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc
gây mất ổn định chính trị trong nước và hạ thấp vị thế của Việt Nam trên trường quốc
tế.
Trước sự phức tạp của tình hình trên, vấn đề đặt ra làm sao chúng ta có chính
sách tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với thực tiễn đất nước để thực hiện quyền quyền tự
tôn giáo cho nhân dân; xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo; đồng
thời là cơ sở để đấu tranh chống lại các thế lực thù địch đang lợi dụng quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước ta, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Với những lý do trên tác giả chọn vấn đề: “Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tự do tín
ngƣỡng, tôn giáo và sự vận dụng của Đảng ta hiện nay” làm luận văn thạc sĩ triết
học.
2. Tình hình nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nội dung quan trọng
trong kho tàng lý luận của Người. Vấn đề này đã được nhiều học giả trong và ngoài
nước nghiên cứu với những chiều cạnh khác nhau. Qua khảo sát tình hình nghiên cứu,
có thể đưa ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến vấn đề này.
Tác giả Đặng Nghiêm Vạn (Chủ biên) Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo
ở Việt Nam, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998. Cuốn sách dày hơn 300 trang là tập
2
hợp các bài viết của nhiều tác giả, nhiều nhà nghiên cứu về tôn giáo. Nhìn chung các
nhà nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam theo
nhiều góc độ khác nhau. Trong đó có một số tác giả đã đề cập một cách trực tiếp và gián
tiếp vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh theo tình hình thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Có thể khái
quát một số bài viết tiêu biểu sau:
Tác giả Phạm Như Cương: Bàn về thái độ và phương pháp khi nghiên cứu
các tác phẩm của Mác, Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh về tôn giáo. Trong bài viết này
tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề trong đó đã phân tích và chỉ ra các tác phẩm của các
nhà kinh điển bàn về tôn giáo. Từ những quan điểm này chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa
ra một phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo khoa học và hiệu quả. Đồng thời tác giả
chỉ ra sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh khi nhận thức và
giải quyết các về vấn đề tôn giáo trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Tác giả Đỗ Quang Hưng: Vấn đề tôn giáo tín ngưỡng trong tư tưởng Hồ
và tuyển chọn khá đầy đủ những bài viết, những câu nói, những đoạn trích, những văn
bản có liên quan đến vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng của Hồ Chí Minh trong quá trình đi
tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đây là tài liệu tham khảo rất có
giá trị khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo.
Tác giả Đỗ Quang Hưng, Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam: lý luận và
thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2005. Đây là công trình nghiên cứu toàn
diện, hệ thống, khái quát toàn bộ chặng đường 55 năm thực hiện đường lối chính sách
tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Công trình này là bức tranh toàn cảnh về vấn đề tôn
giáo và công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta đã đạt được trong 55 năm qua (1945
- 2000).
Tác giả Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ (Đồng chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí
Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000. Cuốn
sách này là tập hợp các bài viết của nhiều tác giả đã khái quát, nghiên cứu toàn diện tư
tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo cũng như những vấn đề lý luận và
4
thực tiễn ở nước ta khi thực hiện chính sách tôn giáo. Có thể khái quát một số bài viết
liên quan đến vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh như sau.
Bài viết của tác giả Ngô Hữu Thảo: Những vấn đề lý luận và thực tiễn rút
ra từ tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Trong bài viết này, tác
giả đã làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh khi kết hợp mối quan hệ tự do tôn giáo, tín ngưỡng
với tự do độc lập của Tổ quốc. Đây là mối quan hệ chặt chẽ không tách rời, vì chỉ khi
nước nhà được tự do độc lập thì tín ngưỡng, tôn giáo mới có tự do. Hồ Chí Minh đã
thiết lập được mối quan hệ bền chặt giữa giáo và lương, giữa nhà nước với giáo dân
cùng thực hiện mục tiêu chung là độc lập và tự do cho dân tộc và tôn giáo.
Bài viết của tác giả Nguyễn Công Nguyên: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín
ngưỡng tôn giáo và công tác tôn giáo ở Việt Nam. Tác giả đã khái quát tư tưởng Hồ Chí
Minh về tín ngưỡng tôn giáo và cách giải quyết vấn đề tôn giáo rất độc đáo của Người.
cuốn sách này, khi đề cập đến nội dung về tự do tôn giáo, các nhà nghiên cứu Việt Nam
đều nhất trí rằng, trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam khi xây dựng chính sách tôn
giáo nên vận dụng tinh thần Hiến pháp 1946. Và một lần nữa lại khẳng định cần nghiên
cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Ngoài ra còn phải kể đến nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về vấn đề
tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh ở các góc độ khác
nhau được đăng tải trên các tạp trí như: Vũ Khiêu, Phạm Như Cương, Nguyễn Hữu Vui,
Hoàng Minh Đô, Nguyễn Văn Oánh, Phạm Hữu Xuyên, Nguyễn Ngô Hai, Lê Quang
Vịnh, Trần Xuân Dung...
Như vậy, điểm qua lịch sử của quá trình nghiên cứu vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn
giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể khẳng định rằng, tuy vấn đề được đặt ra và
nghiên cứu, song tác giả luận văn nhận thấy rằng, chưa có công trình nào đi sâu nghiên
cứu một cách hệ thống, trực diện tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Song những nghiên cứu của các tác giả và những tác phẩm đã được khái lược trên là cơ
sở quan trọng, cũng như là nguồn tư liệu quý cho tác giả thực hiện luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
6
Luận văn nghiên cứu những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín
ngưỡng, tôn giáo và sự vận dụng của Đảng ta, từ đó đề xuất trong việc vận dụng sáng
tạo những nội dung cơ bản này trong thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở
Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục đích trên luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
Một là: Trình bày những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín
ngưỡng, tôn giáo;
Hai là: Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng
ta và sự cần thiết vận dụng sáng tạo tư tưởng này vào xây dựng, thực hiện chính sách tự
liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương, 5 tiết.
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
Đảng ta hiện nay
8
CHƢƠNG 1
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TỰ DO TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO
1.1. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngƣỡng, tôn giáo
1.1.1. Kế thừa quan niệm về tôn giáo và tự do tín ngƣỡng, tôn giáo của dân
tộc Việt Nam
Tín ngưỡng, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội luôn biến động cùng với sự
biến thiên của lịch sử nhân loại và có khả năng tồn tại lâu dài trong xã hội. Mỗi quốc gia
với những điều kiện địa lý nhất định, với nguồn gốc dân cư nhất định, với điều kiện
kinh tế, chính trị - xã hội nhất định với những nét văn hoá, phong tục, tập quán riêng thì
cũng có những nét tín ngưỡng, tôn giáo riêng biệt. Điều này được C. Mác, Ph. Ăngghen
chỉ rõ: “Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật…đều dựa trên cơ sở phát triển kinh tế. Nhưng tất cả có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh
hưởng đến cơ sở kinh tế” [42, tr.271]. Như vậy, có thể thấy một quốc gia với những
sinh hoạt sống, với truyền thống văn hoá, với những điều kiện lịch sử nhất định là
nguồn gốc cơ bản hình thành nên đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của quốc gia đó.
Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam châu Á, trông ra biển Đông, trong
lịch sử và hiện tại rất thuận lợi cho việc giao lưu của văn hóa Đông - Tây, Nam - Bắc.
Vùng đất của người Việt Nam sinh sống thuộc trung tâm khu vực nhiệt đới gió mùa, có
núi cao, biển rộng, sông dài. Người Việt Nam lại cởi mở, bao dung, hòa hợp, chứ không
cởi mở của nhân dân khi tiếp nhận các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Do đó, trong lịch
sử và hiện tại, ngoài những tín ngưỡng bản địa thì còn có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo từ
bên ngoài du nhập vào với nhiều hình thức khác nhau. Dù là tín ngưỡng, tôn giáo nào từ
đâu đến, người Việt Nam cũng tiếp nhận một cách có chọn lọc, miễn là nó không đi
ngược với lợi ích quốc gia, không xem thường, miệt thị văn hóa bản địa. Có tôn giáo từ
Trung Quốc xuống, có tôn giáo từ Ấn Độ sang, có tôn giáo từ châu Âu đến đều được
tiếp nhận đã tạo ra sự đa dạng về tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc Việt Nam.
Vào thế kỷ thứ nhất sau công nguyên cùng với sự xâm lược của nhà Hán, Nho
giáo và Đạo giáo đã vào Việt Nam. Nho giáo sau khi vào Việt Nam đã được chính
10
quyền phong kiến đón nhận. Trong một thời gian dài, Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng
của giai cấp phong kiến Việt Nam. Những giá trị tư tưởng tích cực của Nho giáo đặc
biệt là tư tưởng về chính trị, đạo đức và giáo dục được người Việt Nam đón nhận cùng
hòa vào hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc.
Khác với Nho giáo, Phật giáo là một tôn giáo thuần túy với triết lý nhân bản là từ
bi, hỉ xả, cứu nhân độ thế, đề cao việc thiện, loại trừ điều ác đã nhanh chóng được nhân
dân đón nhận. Tuy nhiên, cả Nho giáo và Phật giáo sau khi vào Việt Nam đã bị khúc xạ,
biến đổi ít nhiều cho phù hợp với truyền thống dân tộc. Khi kết hợp với tín ngưỡng bản
địa tạo nên những ngôi chùa, những đạo quán vừa mang đặc điểm của Phật giáo vừa
mang đặc điểm của Đạo giáo, vừa có đặc điểm của tín ngưỡng địa phương.
Không chỉ có các tôn giáo lớn ở phương Đông du nhập vào Việt Nam, các tôn
giáo lớn ở phương Tây cũng bằng nhiều con đường khác nhau để du nhập vào Việt
Nam. Trong những tôn giáo lớn ở phương Tây đã du nhập vào phải kể đến Kitô giáo.
Công giáo một nhánh lớn nhất của đạo Kitô giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVI bởi các
thương gia và các nhà truyền giáo người châu Âu. Quá trình du nhập và tồn tại ở Việt
Nam, đạo Công giáo có nhiều bước thăng trầm, thậm chí có thời kỳ bị coi là “dị giáo”,
“tà giáo”. Mặc dù vậy, trong quá trình tồn tại ở Việt Nam, đạo Công giáo đã từng bước
được nhân dân chấp nhận.
thực sự là Quốc giáo, kể cả trường hợp Phật giáo ở thế kỷ XI - XII. Sau này, dù Nho
giáo có là rường cột tư tưởng - chính trị cho chế độ phong kiến, nhưng nó không hoàn
toàn là một tôn giáo” [27, tr.14]. Vì vậy, nước ta cũng không có tôn giáo nào thống trị
suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì vị trí của các
tôn giáo cũng khác nhau, song lại tồn tại cùng nhau, chung sống hòa bình, chan hòa,
nương tựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển.
Thứ hai, quan niệm về tín ngưỡng, tôn giáo mang tính đa thần
Đây là đặc điểm cơ bản trong tâm thức của người Việt Nam, đặc điểm này trước
hết được xuất phát từ điều kiện và môi trường sống của người Việt Nam là nền kinh tế
tiểu nông nghiệp gắn với thiên nhiên, phụ thuộc vào thiên nhiên. Những năm mưa thuận
gió hòa, không có thiên tai dịch bệnh, mùa màng tươi tốt thì đời sống của người dân
12
được ấm no. Nếu gặp năm trời hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh, mất mùa thì đời sống nghèo
khó. Cuộc sống phụ thuộc vào thiên nhiên vô cùng khó khăn, không lường trước được.
Tự nhiên có thể đem lại no ấm nhưng cũng có thể lấy đi tất cả, từ đó đã hình thành nên
tâm thức tôn thờ sức mạnh của tự nhiên. Những lúc bất lực, khó khăn nó là chỗ dựa tinh
thần, là niềm an ủi để giảm bớt những khó khăn trong đời sống.
Hơn nữa, Việt Nam là quốc gia lắm tín ngưỡng, nhiều tôn giáo. Các tín ngưỡng,
tôn giáo du nhập vào đều được người dân tiếp nhận và chọn lựa những yếu tố phù hợp
với văn hoá dân tộc. Như vậy, cùng với các tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào kết hợp
với các tín ngưỡng, tôn giáo bản địa đã tạo ra tâm thức đa thần rất đặc trưng của mỗi
người dân Việt Nam. Tâm thức này trở nên phổ biến ở đây không có các tôn giáo độc
thần. Từ cách nghĩ khác đó, ở Việt Nam thường quen với thuật ngữ đạo, thờ cúng…hơn
là thuật ngữ tôn giáo.
Tâm thức đa thần của người Việt Nam khác với tâm thức độc thần của
người châu Âu. Tâm thức tôn giáo người châu Âu mang tính độc thần tức
là chỉ tôn thờ một vị thần nhất định. Trong tâm thức của người châu Âu thì
vị thần mà mình tôn thờ là tối cao. Như vậy, sự khác nhau về tâm thức tôn
dựng xã hội mới tiến bộ hơn. Các tín ngưỡng, tôn giáo khi đồng hành cùng với dân tộc
đã ăn sâu vào tiềm thức của cả dân tộc trở thành đặc trưng riêng biệt của dân tộc ta.
Đặc trưng riêng biệt đó là tín ngưỡng, tôn giáo gắn với tổ quốc mà một số nhà
nghiên cứu gọi là quan điểm Tổ quốc luận. Đây là cách chuyển một văn hoá xây dựng
trên tinh thần yêu nước thành tâm thức tôn giáo, lấy tâm thức tôn giáo để củng cố tinh
thần yêu nước. Với thực tiễn như vậy nên mọi tôn giáo ngoại nhập hay nội sinh muốn
tồn tại và phát triển ở Việt Nam đều phải bám dễ theo đặc trưng này.
Từ những đặc điểm về tín ngưỡng, tôn giáo đó đã hình thành quan điểm tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của người Việt Nam. Người Việt Nam có thể tự do theo hay không
theo một tôn giáo bất kỳ hoặc cũng có thể cùng một lúc theo nhiều tín ngưỡng, tôn giáo
khác nhau cho dù đó là tín ngưỡng, tôn giáo bên ngoài du nhập vào hay tín ngưỡng, tôn
giáo nảy sinh trong nước. Trong mỗi tâm thức người Việt Nam đều tồn tại nhiều loại
hình tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, chúng hoà vào nhau khó tách biệt rõ ràng.
14
Đây là đặc điểm về sự khoan dung về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam; và
đây là đặc điểm lý giải vì sao ở Việt Nam không có chiến tranh tôn giáo như ỏ một số
nước trong khu vực và trên thế giới.
Hồ Chí Minh đã được hun đúc và kế thừa những giá trị văn hóa tốt đẹp hàng
nghìn năm của dân tộc, trong đó có giá trị về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là cơ sở
quan trọng hình thành tư tưởng tự do nói chung và tự do về tín ngưỡng, tôn giáo nói
riêng của Hồ Chí Minh.
1.1.2. Kế thừa quan niệm về tôn giáo và tự do tín ngƣỡng, tôn giáo phƣơng
Đông và phƣơng Tây
Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, có bờ biển trải dài theo đất
nước đặc biệt lại gần Trung Quốc và Ấn Độ - hai nền văn minh rực rỡ của nhân loại nơi nảy sinh, nuôi dưỡng nhiều trào lưu tư tưởng, nhiều tín ngưỡng, tôn giáo lớn. Trong
lịch sử và hiện tại các trào lưu tư tưởng, các tín ngưỡng, các tôn giáo này du nhập và tồn
tại cùng dân tộc Việt Nam đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn hoá dân tộc Việt Nam nói
chung và Hồ Chí Minh nói riêng, điều này được thể hiện như sau:
Việt Nam tiếp nhận một cách tự nhiên với tâm thế hòa nhi bất đồng với tín ngưỡng, tôn
giáo dân tộc. Những tư tưởng của đạo Lão đi vào việc giáo dục con người sống hòa với
thiên nhiên “thuận theo tự nhiên” rất phù hợp với tâm thức người Việt Nam khi sinh
sống phụ thuộc vào thiên nhiên, coi thiên nhiên là một thế lực chi phối cuộc sống của
con người.
Hồ Chí Minh sớm tiếp nhận những tư tưởng tích cực của đạo Lão là xây dựng
một xã hội “đại đồng” con người sống hòa thuận với nhau, hòa thuận với thiên nhiên.
Điều này rất phù hợp với tâm thức và điều kiện sống của người Việt Nam. Nước ta là
nước nông nghiệp nền kinh tế vận hành theo lối tiểu nông, cuộc sống nhân dân phụ
thuộc vào điều kiện tự nhiên từ đó đã hình thành tâm thức tôn trọng tự nhiên, sống hòa
thuận với thiên nhiên.
Như vậy, những giá trị văn hóa tiến bộ phương Đông đã ảnh hưởng sâu sắc tới tư
tưởng và con đường cách mạng của Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng về tự do tín
16
ngưỡng, tôn giáo nói riêng. Tuy nhiên, tư tưởng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Hồ Chí
Minh còn có sự kế thừa quan niệm tự do tôn giáo ở phương Tây.
Có thể nói, giải phóng con người thoát khỏi nô dịch, bất công và áp bức dưới mọi
hình thức là mong muốn của toàn thể nhân dân tiến bộ trên thế giới. Trong đó nhân
quyền với ý nghĩa chân chính của nó được coi là giá trị chung của nhân loại và quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo là một bộ phận của quyền con người. Bất kỳ giai cấp thống trị
nào khi nắm chính quyền đều quan tâm đến vấn đề tôn giáo. Bởi lẽ, điều này không chỉ
liên quan đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức, văn hoá…mà còn là vấn đề chính trị - xã hội
nhảy cảm liên quan đến con người, gia đình, dân tộc, giai cấp.
Ở phương Tây, trong lịch sử và hiện tại tôn giáo thường gắn liền với Nhà nước,
thần quyền gắn liền với thế quyền, Giáo hội gắn với Nhà nước, quyền lực Nhà nước gắn
với quyền lực Giáo hội. Chính điều đã dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền
của Nhà nước với quyền của các tổ chức Giáo hội trong đó có quyền tự do tín ngưỡng,
Liên hợp quốc, năm 1945 đã ghi nhận: “Liên hợp quốc theo đuổi những mục đích
sau:…Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế,
xã hội, văn hoá và nhân đạo và khuyến khích phát triển các quyền con người và tự do cơ
bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, ngôn ngữ, hoặc tôn giáo”.
Trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, năm 1948. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo
được đề cập ở một số đoạn, với nhiều cách diễn đạt khác nhau. Trong Lời nói đầu
Tuyên ngôn viết: Xét vì, sự coi thường và sự xâm phạm các quyền con người dẫn đến
những hành vi man dợ xúc phạm tới lương tâm nhân loại, và việc tạo lập một thế giới
trong đó con người sẽ được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do thoát khỏi
sự sợ hãi về nạn đói đã được tuyên bố như là sự khát vọng cao cả nhất của loài người.
Điều 18, trong phần nội dung của Tuyên ngôn viết: Mọi người đều có quyền tự do tư
tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm quyền tự do thay đổi tín ngưỡng hoặc
tôn giáo của mình.
Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa của nền triết học và văn hóa phương Tây.
Những tư tưởng: Tự do - Bình đẳng - Bác ái của thế kỷ Ánh sáng và Đại cách mạng
18
Pháp, đến tư tưởng nhân ái trong văn học Anh, Pháp, Nga...để rồi tiếp cận, kế thừa và
hình thành nên tư tưởng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình.
1.1.3. Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo và tự do tín
ngƣỡng, tôn giáo
1.1.3.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã để lại cho nhân loại những giá trị lớn lao
trên nhiều lĩnh vực trong đó có vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. C.Mác, Ph. Ăngghen và
V.I.Lênin không coi tôn giáo là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của mình, nhưng trong
quá trình lãnh đạo cách mạng các ông đã vấp phải lực cản không nhỏ từ phía Giáo hội
Kitô giáo. Một số giáo sĩ phản động ra sức chống phá cách mạng, trên cả phương diện
học thuyết lẫn hiện thực. Mặc dù C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin chưa có điều kiện,
tầng, là một hình thái ý thức xã hội. Nguyên nhân chính ra đời của tôn giáo là sự đàn áp
giai cấp, những quan hệ xã hội bất công và quần chúng nghèo khổ bị tước hết quyền lợi.
Tình trạng đó tạo trong quần chúng những thất vọng và chán nản, dẫn họ tới chỗ đặt hết
cả hy vọng của mình vào những lực lượng siêu nhiên.
Quan điểm mácxít cho rằng, tôn giáo không phải là hiện tượng xã hội vĩnh hằng,
nhưng cũng không mất đi nhanh chóng, tôn giáo sẽ tự tiêu vong khi đến một giai đoạn
lịch sử nhất định. Tôn giáo có ảnh hưởng nhất định tới đời sống xã hội. Theo C. Mác,
tôn giáo không chỉ có mặt tiêu cực mà có cả mặt tích cực nhất định, vì sự nghèo nàn của
tôn giáo vừa là sự nghèo nàn của hiện thực. Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội tồn
tại trong điều kiện lịch sử nhất định, tôn giáo sẽ còn tồn tại lâu dài trong xã hội.
1.1.3.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tự do tín ngƣỡng, tôn giáo
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội còn tồn
tại lâu dài trong chủ nghĩa xã hội, việc bảo đảm và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và
không tín ngưỡng là một nguyên tắc cơ bản của của các nhà cầm quyền và là một quyền
cơ bản của nhân dân như quyền về chính trị, pháp luật...Quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo không chỉ thể hiện ở mặt pháp lý mà còn được thể hiện trên thực tiễn một cách
nhất quán, xuyên suốt, lâu dài của các đảng mácxít.
20
Ph. Ăngghen phê phán nghiêm khắc chủ trương cấm đoán tôn giáo của Đuyrinh;
kịch liệt phê bình chủ trương vô thần quá khích của phái BLăngki chủ nghĩa, phái cực
tả trong công xã Pari. Trong công xã ấy không có chỗ đứng cho thầy tu, mọi sự tuyên
truyền tôn giáo, mọi tổ chức tôn giáo đều bị cấm...Phái BLăngki còn tuyên bố rằng chủ
nghĩa vô thần là biểu tượng cưỡng chế của niềm tin, nói chung là họ cấm tôn giáo.
Thậm chí họ còn tuyên chiến với tôn giáo và khai chiến với thượng đế.
V. I. Lênin từ rất sớm đã đề cập đến quan hệ giữa nhà nước và giáo hội, phát triển
luận điểm mác xít về tự do tôn giáo. Lênin đã nhấn mạnh rằng, người cộng sản đòi hỏi
sự tách biệt giáo hội khỏi nhà nước, nhà thờ khỏi trường học, bảo đảm tự do tín ngưỡng,
nghiên cứu tôn giáo đã lý giải nguyên nhân ra đời tôn giáo. Cho rằng, tôn giáo là một
hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội. Các ông chỉ ra rằng muốn thay đổi ý
thức xã hội trước hết cần thay đổi bản thân tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy
sinh trong tư tưởng con người cần phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng đó. Điều cần
thiết trước hết là phải xóa bỏ cái thế giới hiện thực không có áp bức, bất công, nghèo
nàn và thất học cùng với những tệ nạn khác nảy sinh trong xã hội. Đây là một việc làm
lâu dài, quá trình này chỉ thực hiện được khi cải tạo được xã hội cũ xây dựng xã hội mới
tiến bộ hơn. Cần nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho xã hội thì mới
loại bỏ dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời sống xã hội.
Có thể thấy, chủ nghĩa Mác – Lênin khi nghiên cứu tôn giáo đã chỉ ra nguyên
nhân ra đời, tồn tại và mất đi của tôn giáo. Đồng thời còn chỉ ra bản chất giai cấp của
tôn giáo, thường gắn tôn giáo với chính trị với nhà nước, đây cũng là lý do các nhà chủ
nghĩa Mác – Lênin chủ trương tách nhà thờ ra khỏi nhà nước, tách tôn giáo ra khỏi
chính trị khi đó mới đem lại đời sống tự do tôn giáo cho nhân dân.
Các nhà mácxít đã khẳng định, việc thực hiện quyền con người đã bao hàm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thừa nhận tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền cơ
bản của con người và cần thiết phải triệt để tôn trọng các quyền đó. Chủ nghĩa Mác –
Lênin gắn việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với các quyền cơ bản khác
của con người. Đó là quyền được sống bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc cá nhân
22