ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
THÁI THỊ THU HƯỜNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT
DÂN TỘC VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS. NGUYỄN ĐÌNH TƯỜNG
HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
Mở đầu 1
Chương 1. NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT
DÂN TỘC CỦA HỒ CHÍ MINH 6
1.1. Tiền đề lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 6
1.2. Truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hoá nhân loại 8
1.2.1. Truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam 8
1.2.2. Tinh hoa văn hoá nhân loại 10
1.3. Chủ nghĩa Mác-Lênin 12
1.4. Hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh trong quá trình hình thành nên
tư tưởng đại đoàn kết 16
Chương 2. ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 21
2.1. Khái niệm đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh 21
2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 22
2.2.1. Xây dựng xã hội đồng thuận là nhân tố cơ bản để thực hiện đại đoàn
kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh 22
2.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về liên minh công - nông - trí thức trong cách
mạng Việt Nam 24
2.2.3. Đoàn kết với các dân tộc thiểu số 32
MTDTTN : Mặt trận dân tộc thống nhất
UBTWMTTQ: Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc
XHCN : Xã hội chủ nghĩa 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày 19-5-1990 nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ
Chí Minh tổ chức UNESCO đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là danh nhân
văn hoá thế giới trong thế kỷ XX - anh hùng giải phóng dân tộc. Đây là niềm
vinh hạnh đối với dân tộc ta mà Bác Hồ kính yêu đã đem lại. Đây còn là sự
ghi nhận những đóng góp kiệt xuất của lãnh tụ Hồ Chí Minh vào phong trào
giải phóng dân tộc trên thế giới được loài người tiến bộ ngưỡng mộ.
Tư tưởng của Người bao gồm một số nội dung cơ bản như: giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; quyền
làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân;
quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; phát triển kinh
tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân; đại đoàn kết dân tộc; đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công
vô tư; chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; xây dựng Đảng trong
sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy
tớ trung thành của nhân dân… Trong những tư tưởng đó, tư tưởng đại đoàn
kết dân tộc là nét nổi bật xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động và hệ thống tư
tưởng Hồ Chí Minh, và nó đã trở thành một di sản quý giá cho dân tộc Việt
Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước.
dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay”. Làm đề tài luận văn thạc sĩ
triết học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đại đoàn kết dân tộc là một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí
Minh. Cho nên đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu. Một số công trình
nghiên cứu tiêu biểu như: Phùng Hữu Phú “Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí 3
Minh”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995; Phạm Ngọc Quang
“Hồ Chí Minh với việc xây dựng đảng ta về trí tuệ”, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1994; Nhiều tác giả “Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí
Minh”, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội 1992; Nguyễn Bá Linh “Tư tưởng Hồ
Chí Minh một số nội dung cơ bản”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1994; Lê Sỹ Thắng “Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nhà xuất
bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991; UBTWMTTQ Việt Nam “Tư tưởng Hồ
Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và mặt trân dân tộc thống nhất”, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996; Viện Thông tin Khoa học xã hội - Viện
Khoa học xã hội Việt Nam “Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày
nay” qua sách báo nước ngoài, Hà Nội, 1993; luận văn Thạc sĩ Triết học của
Đinh Việt Hải “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc”,
1998; Hoàng Thị Điều luận án Tiến sĩ Lịch sử “Quá trình thực hiện chiến
lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong những năm
1976-1994”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc đã được tiếp cận,
nghiên cứu từ nhiều hướng khác nhau nhưng tập trung chủ yếu vào các nội
dung sau:
- Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh: Truyền thống văn
hoá dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại, chủ nghĩa Mác-Lênin.
- Vai trò của Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
* Tài liệu nghiên cứu: Luận văn khai thác nguồn tài liệu phong phú
gồm: Tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin; Văn kiện Đại hội Đảng
cộng sản Việt Nam VI, VII, VIII, IX, X; các ấn phẩm sách, báo, tạp chí bàn
về vấn đề đại đoàn kết dân tộc; các công trình nghiên cứu các luận văn, luận
án có liên quan đến đề tài… 5
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện chủ yếu bằng
phương pháp lịch sử và logic, kết hợp với phương pháp phân tích - tổng hợp,
thống kê, so sánh, đối chiếu…
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn trình bày có hệ thống những quan điểm chiến lược, sách lược
đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh.
Luận văn chỉ ra được những thành công trong việc vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương, kết luận, danh mục và các tài
liệu tham khảo.
Chương 1: Những tiền đề hình thành tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của
Hồ Chí Minh.
Chương 2: Đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chương 3: Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt nam về tư tưởng đại
đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh trong giai đoạn xây dựng đất nước hiện
nay. 6
Chương 1
Quảng Châu Loan (từ 1900). Từ đó, nước ta bị xoá tên trên bản đồ chính trị
thế giới. Nước Việt Nam thống nhất từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau bị chia
thành 3 xứ với chế độ cai trị khác nhau: Nam kỳ là đất thuộc địa, Bắc kỳ là xứ
bảo hộ và Trung kỳ là xứ lưỡng trị. Sự phân chia đó hòng xoá bỏ tính thống
nhất, truyền thống yêu nước, đoàn kết của nhân dân Việt Nam. Không dừng
lại ở đấy, thực dân Pháp đã áp dụng nguyên tắc chia để trị trong tất cả các lĩnh
vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế - xã hội. Với các chương trình khai thác
thuộc địa xã hội truyền thống Việt Nam đã bị sự tác động mạnh mẽ. Một cơ
cấu xã hội mới hình thành, chồng lên trên xã hội truyền thống với những tôn
giáo, những tập tục, những lề thói hết sức đa dạng. Một xã hội phương Đông
như nước ta vốn đã tồn tại những khác biệt về đẳng cấp, tôn giáo, về phong
tục tập quán, cộng thêm những khác biệt mà thực dân Pháp cố tạo ra thì đó
chính là mảnh đất màu mỡ cho chính sách chia để trị đơm hoa, kết quả.
Chống lại chính sách thâm độc đó của thực dân Pháp, phong trào chống
Pháp dưới nhiều hình thức khác nhau chưa bao giờ ngừng nghỉ trên đất nước
ta. Từ phong trào cần Vương trong hệ tư tưởng phong kiến cuối thế kỷ XIX
qua các phong trào Đông Du, Duy Tân theo xu hướng tư sản nửa thế kỷ XX
đến cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Các bậc anh hùng nghĩa hiệp thừa lòng yêu
nước và lòng quả cảm, nhưng trước sau đều phải nhận lấy thất bại xót xa.
Trong các phong trào chống Pháp từ đầu thế kỷ XX trở về trước, xét
trên bình diện hệ tư tưởng có hai hình thức đó là: Hệ tư tưởng phong kiến và
hệ tư tưởng tư sản.
Sự thất bại của các phong trào chống Pháp thời kỳ đầu có nét đặc trưng
riêng là do sự ràng buộc tư tưởng trung quân đã làm vướng víu tầm nhìn của
các văn thân sĩ phu, làm cho họ phân hoá thành 2 cực đối lập nhau, không có
được sự thống nhất về ý chí và hành động. Các phong trào chống Pháp ở thời
kỳ sau cũng chịu chung số phận như các phong trào trước đó chính là vì
những người dẫn đầu không thấy được bản chất của chế độ thuộc địa nên
9
quay mặt ra biển Đông, tựa lưng vào Trường Sơn hùng vĩ. Do điều kiện địa
lý, tự nhiên và vị trí quan trọng của mảnh đất này, những cư dân người Việt từ
thời xa xưa vừa được thừa hưởng sự ưu đãi của đất trời, vừa phải đối mặt với
những thử thách khắc nghiệt của thiên tai, địch hoạ. Lịch sử dựng nước và giữ
nước diễn ra trên mảnh đất này là sự tiếp nối hàng ngàn năm những cuộc đấu
tranh không mệt mỏi chống hạn hán, lũ lụt, chống chiến tranh xâm lược của
các thế lực bên ngoài. Từ trong cuộc đấu tranh trường kỳ đó đã sớm nảy sinh
và định hình ý thức dân tộc. Ý thức này ngấm vào máu thịt của con người
Việt Nam và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, để tạo thành truyền
thống đoàn kết, nhân nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa yêu nước. Trong nền văn
hoá cổ truyền, người Việt yêu nước trước rồi yêu nhà sau: thương người trước
rồi thương mình sau. Câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác
giống nhưng chung một giàn” và “Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong
một nước thì thương nhau cùng”, gắn liền với quá trình sản xuất, chiến đấu,
sinh tồn và giao tiếp của nhiều thế hệ người sống trong một địa văn hoá khắc
nghiệt, có lịch sử dựng nước, giữ nước vô cùng hào hùng và sôi động. Sự cố
kết cộng đồng, sự đoàn kết các thành viên các dân tộc trong làm ăn và bảo vệ
nền độc lập dân tộc đã hình thành như một xu thế tất yếu khách quan: “Một
cây làm chẳng lên non. Ba cây chụm lại lên hòn núi cao”. Có thể gọi đó là
triết lý nhân sinh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, một lẽ sống của các
cộng đồng.
Những giá trị nhân bản sâu sắc và quý giá không chỉ phản ánh trong
kho tàng văn học dân gian mà còn được những người anh hùng dân tộc (Trần
Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi…) đúc kết, nâng lên thành kinh nghiệm,
thành phép trị nước và đánh giặc: “Khoan thư sức dân làm kế sâu về bền”,
“Trên dưới đồng lòng cả nước chung sức”… Truyền thống dân tộc nói chung,
truyền thống đoàn kết đã được kế thừa và phát huy trong sự nghiệp dựng
nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam. Tiếp thu quan điểm Mácxít,
lục hoà trong tư tưởng và phương pháp Hồ Chí Minh” [48, tr.448]. 11
Trong những vấn đề nói trên, trực tiếp liên quan đến chiến lược đại
đoàn kết Hồ Chí Minh chính là tinh thần “Lục hoà” có hoà thuận mới có tin
yêu và đoàn kết “lục hoà” bao gồm: Thân hoà đồng trụ, lời nói hoà hợp không
tranh cãi, ý hoà đồng duyệt, giới hoà đồng tu, kiến hoà đồng giải (thấy biết
giãi bày cho nhau hiểu), lợi hoà đồng quân (lợi hoà cùng chia cân nhau).
Có thể nói lục hoà chính là cơ sở của đoàn kết và đạo phật tồn tại, phát
triển hàng ngàn năm nay cũng chính là dựa vào đường lối của “Lục hoà”.
Cũng như triết lý đại đồng và tinh thần lục hoà của đạo phật, tiếp thu truyền
thống tương thân tương ái của dân tộc Hồ Chí Minh đã sớm hình thành tư
tưởng đại đoàn kết và nâng tư tưởng đó lên tầm cao của chiến lược cách
mạng.
Là một người Phương Đông song ngay từ lúc ngồi trên ghế nhà trường
và sau này trong cuộc đời hoạt động của Người lại gắn với môi trường
phương Tây và do vậy Hồ Chí Minh đã tiếp thu nhiều giá trị nhân bản trong
nền văn hoá phương Tây. Năm 13 tuổi đã biết đến tư tưởng tự do, bình đẳng,
bác ái được ghi trên lá cờ của các cao trào lưu tư tưởng phương Tây và những
tư tưởng đó được Người tìm hiểu, kiểm chứng trong suốt 30 năm bôn ba hải
ngoại. Trong số các tác phẩm, tác giả mà Hồ Chí Minh yêu thích có nhiều tác
giả, tác phẩm là đại diện cho các trào lưu dân chủ tư sản tiến bộ của Phương
Tây: Vonte, Rutxô, Víchto Huygô… và ngay trong những dòng đầu tiên của
tuyên ngôn độc lập Hồ Chí Minh đã nhắc lại những lời bất hủ trong tuyên
ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 và tuyên ngôn nhân quyền, dân quyền của
Pháp năm 1791. Ở Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hoà giữa cốt sách phương
Đông và phong cách phương Tây. Ngoài ra chúng ta có thể thấy Nguyễn Ái
Quốc trong quá trình xây dựng đường lối cứu nước, đã tham khảo các tư
tưởng tập hợp cách mạng của các nhà cách mạng lớn trên thế giới, ở khu vực.
tộc, họ luôn luôn đại diện cho lợi ích của toàn bộ phong trào” [14, tr.614].
Đến đầu thế kỷ XX, Lênin người sáng lập đảng Bônsêvích Nga, bằng
sức mạnh của sự đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc đã tổ chức, lãnh đạo cuộc 13
Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại năm 1917. Trong chiến lược
cách mạng Lênin đã phát triển quan điểm của Mác-Ăngghen về đoàn kết
trong điều kiện lịch sử mới. Lênin đưa ra khẩu hiệu “vô sản tất cả các nước và
các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Nguyễn Ái Quốc tìm thấy trong khẩu hiệu
chiến lược ấy không chỉ sức mạnh vô địch của giai cấp vô sản, mà còn là sức
mạnh của hàng triệu con người đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân đế quốc
để giành tự do, hạnh phúc.
Chính Lênin là hiện thân của khối đoàn kết vô sản quốc tế và các dân
tộc bị áp bức, nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân và chế độ
phong kiến. Lênin cũng là người đề ra các nguyên tắc xây dựng đảng của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động, trong đó có nguyên tắc về sự thống nhất,
đoàn kết về chính trị, tư tưởng và tổ chức là nhân tố bảo đảm sự sống còn của
Đảng, hạt nhân của đoàn kết quốc tế, đoàn kết dân tộc. Một câu hỏi lớn đặt ra
trên đường cứu nước, giải phóng dân tộc mà Hồ Chí Minh tìm thấy ở chủ
nghĩa Mác-Lênin lời giải đáp rõ ràng và đúng đắn là cội nguồn sức mạnh của
cách mạng, lực lượng cách mạng là ai, những giai cấp nào. Đó cũng là điều
chưa giải đáp được ở các sỹ phu yêu nước ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX dù rằng họ có một lòng với non sông, đất nước, thừa dũng khí quả
cảm, không tiếc thân mình. Phát triển quan điểm của C.Mác về khả năng kết
hợp cách mạng vô sản với “chiến tranh nông dân”, V.Lênin đã đi tới một kết
luận quan trọng: thiết lập khối liên minh chặt chẽ giữa giai cấp vô sản với
nhân dân lao động. Đó là điều kiện căn bản bảo đảm thắng lợi của cách mạng.
Giá trị ở chỗ sự liên kết của chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội khoa học không
chỉ với giai cấp công nhân mà còn với cả các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc
tư tưởng của V.Lênin và những kinh nghiệm thành công cũng như thất bại
trong phong trào cách mạng các nước, Hồ Chí Minh đi tới những kết luận
khẳng định về sức mạnh của cách mạng nước ta. Cuốn “Đường cách mệnh”
của người đã viết “công nông là người chủ cách mệnh”. Như vậy nhờ tiếp thu
chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã có một cách nhìn khác biệt căn bản về 15
lực lượng cách mạng với các nhà yêu nước trước kia và cả một số nhà cách
mạng Châu Á đương thời. Từ luận điểm của Lênin đối với phong trào cách
mạng ở các nước thuộc địa “Đặc điểm chủ yếu của những nước đó là ở chỗ
những quan niệm tiền tư bản chủ nghĩa hay còn thống trị ở đây, và vì thế ở
đây không thể nói đến phong trào thuần tuý vô sản được” và “nhất thiết phải
đặc biệt ủng hộ phong trào nông dân” [11, tr.293]. Hồ Chí Minh đã đề ra
đường lối chiến lược và sách lược trong Chính cương vắn tắt và sách lược vắn
tắt của Đảng là làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi
tới xã hội cộng sản. Như vậy, trong vấn đề dân tộc và quan hệ giữa dân tộc và
giai cấp, Hồ Chí Minh đã tiếp thu sâu sắc những luận điểm của Lênin, vận
dụng một cách sáng tạo và phát triển đúng đắn với một bản lĩnh chính trị
vững vàng và kiên định. Tóm lại quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin
về đại đoàn kết dân tộc là tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, cách
mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, giai
cấp vô sản lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc liên minh công nông là
cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng, đoàn kết dân tộc phải gắn
với đoàn kết quốc tế.
Có thể khẳng đinh rằng, trong các cơ sở thực tiễn và lý luận hình thành
nên tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc thì yếu tố tiếp thu, phát
triển lý luận Mác-Lênin về đại đoàn kết là cơ sở lý luận quan trọng nhất đánh
dấu sự phát triển về chất của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và về đoàn kết
nói riêng. Như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đánh giá: “Bước ngoặt đó đánh
đoàn kết của Hồ Chí Minh đã hình thành về cơ bản. Đó là nhận thức của
Người về sự cần thiết phải giác ngộ, tập hợp các dân tộc bị áp bức bóc lột ở
các nước thuộc địa bằng một hệ tư tưởng cách mạng tiên tiến chủ nghĩa Mác-
Lênin; là nhận thức của Người về sự cần thiết phải kết hợp chặt chẽ cách 17
mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa với phong trào cách mạng của giai cấp
công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa. Tháng 4 năm 1921, Tạp chí Cộng sản
số 14 (bằng tiếng Pháp) đã đăng bài Đông Dương ký tên Nguyễn Ái Quốc.
Đây là bài báo đầu tiên Người nêu lên sức mạnh đoàn kết và khả năng cách
mạng của đồng bào mình Người viết: “Không người Đông Dương không
chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của
bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt
tư tưởng cách mạng của người Đông Dương. Đằng sau sự phục tùng tiêu cực,
người Đông Dương giấu một cái gì đó đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng
nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc
đẩy cho thời cơ mau đến” [16, tr.28]. Từ năm 1925, mở đầu bằng sự kiện
thành lập “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” đến khi Đảng cộng
sản Việt Nam ra đời là giai đoạn Hồ Chí Minh bổ sung, hoàn thiện các luận
điểm về đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế tạo thành một hệ thống các luận
điểm có ý nghĩa chiến lược. Tác phẩm “Đường cách mệnh” là tập hợp những
bài giảng của Nguyễn Ái Quốc ở lớp huấn luyện cho các hội viên của “Hội
Việt Nam thanh niên cách mạng” do Người tổ chức. Trong cuốn sách này
Người nêu lên luận điểm về đoàn kết: “Phàm việc gì cũng vậy, bất kỳ lớn bé,
bất kỳ khó dễ, nếu không gia sức thì chắc không thành công. Việc gì khó cho
mấy, quyết tâm làm thì làm chắc được, ít người làm không nổi, cách mạng là
việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người” [41,
tr.261-262]. Khi khẳng định cách mạng là sự nghiệp chung của quần chúng
nhân dân. Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ khối quần chúng cần được tổ chức lại và để
của nó. Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị về việc thành lập hội phản
đế đồng minh. Chỉ thị chỉ rõ giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng tư sản dân
quyền ở Đông Dương mà không tổ chức được toàn dân lại thành một lực
lượng thật rộng, thật kín, cuộc cách mạng cũng khó thành công. Như vậy, trên
thực tế lại thừa nhận quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về vị trí và mối quan hệ
giữa vấn đề dân tộc và giai cấp trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở 19
thuộc địa trong thời đại đế quốc chủ nghĩa. Tuy vậy những quan điểm đúng
đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vẫn được thể hiện
trong nhiều tài liệu nhiều văn kiện của Đảng. Trong nghị quyết chính trị của
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất (1935), một trong ba nhiệm vụ chủ
yếu mà Đảng nêu ra đã thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về tập hợp đoàn kết
nhân dân. Đó là “Đảng muốn chỉ huy nổi phong trào, muốn đưa cao trào cách
mạng mới lên trình độ cao, tới toàn quốc vũ trang lao động, đánh đổ đế quốc,
phong kiến, lập nên chính quyền Xô Viết, thì trước hết phải thâu phục quảng
đại quần chúng. Thâu phục quảng đại quần chúng là một nhiệm vụ trung tâm,
căn bản, cần kíp của Đảng hiện thời” [2, tr.489-490].
Từ năm 1937 trở đi, hàng trăm cuộc bãi công đã nổ ra, công tác báo
chí, văn học thời kỳ này phát triển mạnh mẽ. Những kết quả trên là thực tế
sinh động chứng tỏ hiệu lực của chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh được
thể hiện trong tổ chức và hoạt động của mặt trận dân tộc thống nhất.
Từ năm 1941 đến năm 1969 là giai đoạn Hồ Chí Minh trực tiếp cùng
ban chấp hành trung ương Đảng lãnh đạo dân tộc ta tiến hành cuộc đấu tranh
giành và giữ độc lập - tự do, lập ra mặt trận Việt Minh, thực hiện đại đoàn kết
dân tộc trên cơ sở công nông liên minh đưa tới thắng lợi của cách mạng
Tháng Tám. Sau khi giành lại chính quyền, Đảng và nhân dân ta phải tiến
hành hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vừa xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà.