Luận văn thạc sĩ nhân vật trong truyện ngắn nguyễn thị thu huệ, nguyễn ngọc tư và đỗ hoàng diệu - Pdf 44

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

------------------------

LÊ THỊ TUYẾT

NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ
THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƢ VÀ ĐỖ HOÀNG DIỆU

Chuyên ngành: Lí luận Văn học
Mã số: 60 22 32
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội - 2010
1


Công trình được hoàn thành tại Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân
văn, ĐH Quốc gia Hà Nội.
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đoàn Đức Phƣơng

Phản biện 1: PGS. TS. Nguyễn Bích Thu
Phản biện 2: PGS. TS. Vũ Văn Sĩ

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại
Khoa Văn học, trường ĐH KHXH & NV, ĐHQGHN
16 giờ 00 ngày 05 tháng 11 năm 2010

Có thể tìm hiểu luận văn tại
- Trung tâm thư viện ĐH Quốc gia Hà Nội

Cùng với ngôn ngữ, kết cấu, giọng điệu,... thì nhân vật cũng là một phương
diện độc đáo góp phần tạo nên chất riêng, làm nên phong cách tác giả. Nguyễn
Minh Châu đã từng cho rằng, “văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm
3


mà tâm điểm là con người”, và ông không thể tưởng tượng nổi một nhà văn mà
lại không mang trong mình tình yêu cuộc sống, và nhất là tình yêu con người.
Tìm hiểu nhân vật, đặc biệt là nhân vật nữ trong truyện ngắn ba nữ tác giả chính
là chúng ta đi khám phá đời sống và bản chất con người ấy; cũng là tìm hiểu một
trong những phương diện đặc sắc nhất thể hiện chất riêng, phong cách tác giả,
thấy được những điểm tương đồng của ba nhà văn, đặc biệt là khi họ đứng trên
quan điểm của giới mình, nhân danh giới mình viết về tình yêu, hạnh phúc của
người phụ nữ một cách chân thực nhất. Đây cũng là cách tiếp cận để chúng ta
đánh giá, khẳng định ý thức lao động, sáng tạo nghệ thuật của ba cây bút được
nhiều độc giả yêu mến này.
Và tìm hiểu nhân vật trong truyện ngắn ba tác giả cũng là một hướng tiếp
cận để chúng ta giải thích được vì sao họ lại từng được xem là những “hiện
tượng văn học” của nước nhà.
2. Lịch sử vấn đề
Đã có khá nhiều bài viết về Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ
Hoàng Diệu và những tác phẩm của họ. Song có thể khẳng định rằng, cho đến
nay chưa có một công trình khoa học nào đi sâu vào truyện ngắn của họ một
cách cụ thể, có hệ thống. Hầu hết các bài viết chỉ dừng lại dưới dạng giới thiệu,
nhận xét sơ bộ, trình bày cảm xúc về một truyện ngắn hoặc một tập truyện ngắn
nào đó của từng tác giả.
Với Nguyễn Thị Thu Huệ, đáng chú ý là những lời giới thiệu và nhận định
của nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng.
Với Nguyễn Ngọc Tư, độc giả đặc biệt chú ý đến tập Cánh đồng bất tận
(2005) - tập truyện làm nên tên tuổi của chị. Vì vậy, có rất nhiều bài viết xoay

kê, phân tích, so sánh, phân tâm học cùng một số phương pháp thi pháp học...
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn được triển khai trong 3
chương:
Chương 1: Truyện ngắn và màu sắc nữ quyền trong truyện ngắn Nguyễn Thị
Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng Diệu
Chương 2: Nhân vật trong truyện ngắn ba tác giả
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật.
5


CHƢƠNG 1: TRUYỆN NGẮN VÀ MÀU SẮC NỮ QUYỀN TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ
VÀ ĐỖ HOÀNG DIỆU
1.1. Thể loại truyện ngắn
1.1.1. Khái niệm truyện ngắn, sự hình thành và phát triển của thể loại
Có nhiều định nghĩa khác nhau về truyện ngắn. Trong 150 thuật ngữ văn
học thì truyện ngắn được xác định là “thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường
được viết bằng văn xuôi, đề cập đến hầu hết các phương diện đời sống con
người và xã hội. Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác
phẩm truyện ngắn thích hợp với người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch
không nghỉ” [1, 359-360].
Ở Việt Nam, hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về sự ra đời của thể loại
này. Nhưng chúng ta không thể phủ nhận rằng, từ những năm 30 của thế kỉ XX,
truyện ngắn Việt Nam thực sự nở rộ với các tên tuổi: Nguyễn Công Hoan, Thạch
Lam, Nam Cao… sau đến là Đỗ Chu, Nguyễn Minh Châu cho đến Nguyễn Huy
Thiệp, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ… và sự xuất hiện của hàng loạt cây
bút trẻ có triển vọng của thế kỉ XXI như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu
v.v… mang đến cho thể loại truyện ngắn những hình thức vừa cũ, vừa mới, vừa
lạ vừa quen, thể hiện sự đổi mới rõ rệt trong phong cách thể loại.

đã thay đổi từ sau đổi mới, Nguyễn Thị Thu Huệ có dịp đi vào những vấn đề rất
đỗi dung dị, bình thường nhưng không hề tầm thường là vấn đề gia đình và
những mâu thuẫn, xung đột xoay quanh tình yêu, những bi kịch tình yêu, bi kịch
xã hội, những cái tưởng chừng vụn vặt nhưng lại có tác động ghê gớm tới hạnh
phúc gia đình…Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ cũng đã đụng chạm đến
những vấn đề cấm kị của văn học, tình yêu đã chớm mang màu sắc nhục thể
nhưng đằm thắm, kín đáo, nhẹ nhàng. Đây lại là điểm mà các nhà văn trẻ sau này
như Nguyễn Ngọc Tư, và đặc biệt là Đỗ Hoàng Diệu khai thác một cách mạnh
bạo, công khai hơn.

7


Tự ví văn mình như trái sầu riêng, “có người ăn khen ngon, có người bưng
mũi quay đi vì chê nó nặng mùi”, Nguyễn Ngọc Tư đã sớm định hình một phong
cách viết khá ấn tượng. Nổi tiếng ở miền Nam nhưng xuất hiện muộn hơn ở
miền Bắc với tập truyện Cánh đồng bất tận (2005), Nguyễn Ngọc Tư đã mang
đến cho người đọc nhiều cảm xúc rất trong trẻo và đậm chất nhân văn. Xuyên
suốt những trang văn của Nguyễn Ngọc Tư là con người Nam Bộ với những suy
tư, trăn trở rất người, với không gian sông nước, thuyền, ghe, với các món cá
bông chua, canh súng… quá đỗi thân thiết với người con Nam Bộ. Chị được xem
như là một “đặc sản Nam Bộ”.
Xuất hiện gần như cùng thời điểm với Nguyễn Ngọc Tư thế nhưng văn của
Đỗ Hoàng Diệu lại mang một phong cách hoàn toàn khác lạ. Xuất hiện trên văn
đàn Việt với tác phẩm Bóng đè cực kì gây choáng, Đỗ Hoàng Diệu đã làm xôn
xao giới văn nghệ nước nhà, khiến nhiều người phải giật mình. Thế hệ chị có sự
“phá rào” bằng cách phần đông hướng vào tính dục, viết trần trụi hơn, có phần
thô thiển, và có sự lạm phát yếu tố sex. Đằng sau ngôn ngữ của họ là nhiều ẩn ý
cần phải giải mã. Đỗ Hoàng Diệu là nhà văn tiêu biểu không nằm ngoài xu
hướng đó. Nhiều người thích, nhưng cũng nhiều người chê, nhưng tất cả đều

2. “Phải bước sang xã hội hiện đại, khi trình độ dân trí được nâng cao, phụ nữ
được đi học, được tự do bầu cử, tầng lớp công chức đã có sự tham gia của phụ nữ thì
cán cân công bằng về giới mới bắt đầu được hiện thực hoá” [13].
Vấn đề nữ quyền, cụ thể là làn sóng nữ quyền thịnh hành và phát triển rầm
rộ ở các nước phương Tây và ngày càng lan rộng ra các châu lục khác trên thế
giới. Tuy vậy, ở các nước thuộc khu vực Á Đông, đặc biệt là ở các nước đang
phát triển thì vấn đề nữ quyền chưa thực sự có độ chín rõ nét để đẩy lên thành
một phong trào, một làn sóng trên nhiều bình diện.
3. Ở Việt Nam, vào những năm đầu thế kỉ XX, do ảnh hưởng của làn sóng
tân thư, một số tác giả như Đạm Phương, Sương Nguyệt Ánh… đã bắt đầu bàn
đến vai trò của người phụ nữ. Phan Khôi cũng nhiều lần đòi sự bình quyền, kêu
gọi phụ nữ phải có vị trí xứng đáng hơn trong gia đình và xã hội. Một số nhà văn
lãng mạn cũng đã đề cập đến vấn đề này trong tác phẩm của mình.

9


Sau năm 1945, văn học nữ tính có điều kiện để phát triển hơn do có tiền đề văn
hóa và xã hội thuận lợi là sự ra đời của Hội Phụ nữ Việt Nam. Vai trò của người phụ
nữ, cũng vì thế mà ngày càng được đề cao hơn.
Đặc biệt là khi đất nước bước vào thời kì đổi mới từ 1986, sự khởi sắc của
nền kinh tế cùng những nỗ lực tạo nên sự bình đẳng về giới đã tạo nên những
tiền đề cơ bản để văn học nữ quyền có điều kiện phát triển. Điều quan trọng nhất
là “ý thức về giới - một cách tự giác đã ăn sâu vào tâm thức của đội ngũ những
người cầm bút, tạo nên âm hưởng nữ quyền trong văn học” [13].
Khi ý thức dân chủ ngày càng được nâng cao, thì cũng đồng nghĩa, trong văn
học có sự xuất hiện ngày càng rầm rộ và đầy ấn tượng của các cây bút nữ. Sự xuất
hiện ấy đã đem đến cho văn học Việt Nam một diện mạo mới, một làn gió mới.
Nhiều cách tân ở thể loại truyện ngắn đương đại đã phần đông gắn với tên tuổi
của các nhà văn nữ như: Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Y Ban,

1.2.2.2. Màu sắc nữ quyền trong truyện ngắn ba tác giả
Nằm trong mạch vận động và phát triển của văn học đương đại Việt Nam
nói chung, sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng
Diệu đã mang đậm màu sắc nữ quyền, đầy mới mẻ và hiện đại mặc dù chưa bao
giờ trong sáng tác của mình lẫn trong thực tế, họ tuyên bố một cách trực tiếp về
mục đích sáng tác là để khẳng định màu sắc nữ quyền ấy.
Thực tế chứng minh cho màu sắc nữ quyền trong truyện ngắn ba tác giả trên
là khi khảo sát nhân vật trong truyện ngắn của họ, điều chúng ta dễ nhận thấy
nhất chính là nhân vật người phụ nữ chiếm đa số với sự phong phú của những số
phận, những cảnh đời. Các tác giả đã nhân danh phái mình viết về tình yêu, sự
khát khao tình yêu, khát khao hạnh phúc - dù là hạnh phúc rất đỗi giản dị nhưng
không phải người phụ nào cũng được đón nhận.
Truyện ngắn của họ xuất hiện những người phụ nữ nhiệt tình, mạnh mẽ,
khát khao một tình yêu đích thực; ý thức cá nhân, yếu tố riêng tư bắt đầu cựa
quậy để thoát ra khỏi những ràng buộc gia đình, xã hội. Tính nữ quyền trong
truyện ngắn của ba tác giả thể hiện rất rõ trong sự quyết liệt đấu tranh giành giữ
tình yêu, sự bình quyền trong tình cảm và sự khẳng định của giới mình. Họ chủ động
trong đời sống, trong hạnh phúc của chính mình. Họ cũng không cam chịu. Nhân vật
11


nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ thường có những chiêm nghiệm chát
chúa từ những từng trải trong cuộc sống. My (Thiếu phụ chưa chồng) đã quả quyết
rằng, “thời của tôi khác thời của chị rồi… Tôi muốn tự do và sung sướng. Tôi muốn
là bà chủ”. Nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, một khi đã khao khát
trở thành cô đào hát nổi tiếng, cũng có nghĩa là họ sẽ quyết tâm thực hiện cho bằng
được, kể cả nhiều khi họ phải đánh đổi cả gia đình của mình; họ tự đi tìm cho mình
một hạnh phúc mới; Trong truyện ngắn Đỗ Hoàng Diệu, là những cô gái luôn tỉnh
táo, không thể chung sống với những người đàn ông như “một bầy cánh cụt, con nào
con nấy mũm mĩm, phì phạch”, sẵn sàng từ bỏ người đàn ông tầm thường bên mình

tác phẩm Bóng đè của tác giả Nguyên Ngọc). Gần như chủ yếu, Đỗ Hoàng Diệu
viết về phụ nữ và dục tính, với tất cả dữ dội, ẩn ý, thâm thuý trong truyện ngắn
của mình. Hình ảnh người phụ nữ trong truyện ngắn của chị luôn luôn ở tư thế
chủ động: “Tôi hay chồm lên người Thụ nuốt lấy anh vồ vập…tôi muốn đã cơn
khát thèm từ buổi trưa ấy…” [7,6].
Vẻ đẹp đặc tính nữ, xét cho đến cùng vẫn là vẻ đẹp bất tận và vĩnh cửu. Và làm
nên cái vẻ đẹp ấy, cao quý nhất vẫn là vẻ đẹp của tình mẫu tử. Dù có gặp bi kịch
trong tình yêu, hôn nhân; dù phải lìa bỏ con cái để theo đuổi danh vọng,… thì cái
thiên tính mẫu ấy vẫn cháy âm ỉ và cuối cùng rồi cũng sẽ được bộc phát ra.
Nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ
Hoàng Diệu, đặc biệt là nhân vật nữ sẽ thực sự là một “đạo quân” đấu tranh cho
hạnh phúc của người phụ nữ, cũng là đấu tranh cho quyền của con người trong
thế giới hiện đại.

CHƢƠNG 2: NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN BA TÁC GIẢ
2.1. Nhân vật trong truyện ngắn
2.1.1. Khái niệm, vai trò và sự phân chia các loại hình nhân vật trong
tác phẩm văn học
“Văn học không thể thiếu nhân vật vì đó chính là phương tiện cơ bản để nhà
văn khái quát hiện thực một cách hình tượng” [14,126]. Nhân vật đóng vai trò
quan trọng, góp phần làm nên sự thành công của tác phẩm. Nhà văn có tên tuổi

13


sáng tạo thành công nhân vật trong tác phẩm của mình nhưng nhiều khi, chính
nhân vật cũng lại làm nên tên tuổi của tác giả.
Sự phân chia loại hình văn học nhìn chung mang tính chất tương đối. Khi
phân chia các loại hình hay các kiểu nhân vật chúng ta cần linh hoạt và nên dựa
vào mặt ưu trội của nó để xếp nhân vật vào loại, kiểu thích hợp.

Con người trong văn học đương đại được nhìn ở nhiều vị thế và trong tính
đa chiều của mọi mối quan hệ: con người với xã hội, con người với lịch sử, con
người của gia đình, gia tộc, con người với phong tục…, được đặt vào các trạng
huống phức tạp mới của cuộc đời như trong đời sống hiện thực phồn tạp, trong
đời sống bản năng và trong đời sống tâm linh. Nhiều vấn đề trước đây ít có điều
kiện để nói tới thì nay được công nhiên mổ xẻ, khơi sâu. Nhiều kiểu nhân vật
mới như nhân vật dị biệt, bản năng, tha hoá, người điên hay kẻ lạc loài… xuất
hiện ngày càng nhiều.
Đối với quan niệm về người phụ nữ, có thể nói, văn học đương đại Việt
Nam “đã không còn những người phụ nữ sắt đá, gan dạ, kiên cường của thời
chiến tranh nữa mà thay vào đó là những con người nhẹ dạ, yếu đuối, đa cảm,
và đa đoan” [12]. Từ cách nhìn như vậy, các nhà văn đã tìm thấy ở người phụ nữ
một “công cụ” hữu hiệu để đổi mới đề tài. Đề tài gia đình đã thực sự trở thành
một đề tài lớn, có ý nghĩa lớn trong văn xuôi đương đại. Vai trò của người phụ
nữ, vì thế, ngày càng quan trọng hơn bao giờ hết. Càng về sau đề tài này càng
được khẳng định, nhất là trong thể loại truyện ngắn. Sự xuất hiện của không gian
gia đình trong văn học diễn ra đồng thời với sự trở lại thiên chức làm vợ, làm mẹ
của người phụ nữ.
2.2. Nhân vật trong truyện ngắn ba tác giả
2.2.1. Khái quát về hệ thống nhân vật
2.2.1.1. Một điều rất dễ nhận thấy là, trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ,
mọi chuyện diễn ra xung quanh ta, những cái bình thường, nhỏ nhặt nhất đều có thể đi
vào trong tác phẩm, và do đó, nhân vật của chị rất gần gũi với cuộc sống đời thường.

15


Ở truyện ngắn của chị, chúng ta thấy xuất hiện nhiều nhân vật là những cô gái mới
lớn háo hức vào đời. Đó là Mi (Sơ-ri đắng); Cô gái trong truyện ngắn Biển ấm; cô con
gái trong truyện ngắn Hậu thiên đường; My (Thiếu phụ chưa chồng)…

sướng, thanh thản.
2.2.1.3. Nếu như nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ vừa từng
trải, vừa ngây thơ; nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư bao dung, hiền
hậu thì nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Hoàng Diệu hiện lên đầy cá tính, bạo liệt
nhưng cũng không kém chiều sâu tâm hồn.
Ở những truyện ngắn viết thời kì đầu, nhân vật của chị ngây thơ, mơ mộng,
lãng mạn, tin vào tình yêu và chung thủy trong tình yêu.
Trong những sáng tác sau này, nhân vật chủ yếu trong truyện ngắn Đỗ
Hoàng Diệu là những người phụ nữ, “tất cả đều còn trẻ, khao khát sống, mãnh liệt
sống” [41] . Họ quá thông minh nhưng cũng quá cả tin, vì vậy nhiều khi trong cuộc đời,
dù tỉnh táo là vậy nhưng họ vẫn bị trượt dài theo những người đàn ông. Họ yếu đuối
nhưng lúc nào cũng phải cố tỏ ra thật mạnh mẽ. Hầu hết họ là những người con gái bị
phụ bạc, bị chiếm đoạt, là những người con gái trong trắng nhưng nhẹ dạ trao thân cho
người khác, và khi người yêu, người tình ra đi, họ tao tác trong đợi chờ.
Những nhân vật nam, trên trang viết của Đỗ Hoàng Diệu, cũng muôn màu
muôn vẻ. Truyện ngắn của chị thật hiếm những người đàn ông lãng mạn, ngu
ngơ và thành thật. Có một Thụ của Bóng đè nhu nhược và nhạt nhẽo. Có một
người đàn ông Trung Hoa trong Vu quy nham hiểm, thâm sâu. Đó là Công
(Dòng sông hủi) đểu giả và tàn ác, với “đôi mắt sưng him híp” đầy nghi ngờ,
gờm gờm nhìn vợ dò xét mỗi buổi chiều, một kẻ “chuyên rình rập những tâm
hồn phụ nữ”, xăm soi từng chữ số trên mỗi tờ hoá đơn mua hàng…Trí (Dòng
sông hủi) lại thuộc dạng đớn hèn, tầm thường…
2.2.2. Các kiểu nhân vật nữ mang màu sắc nữ quyền
2.2.2.1. Ngƣời phụ nữ chủ động kiếm tìm hạnh phúc
Không thể phủ nhận rằng, khao khát hạnh phúc, đấu tranh cho hạnh phúc, chủ
động kiếm tìm hạnh phúc, được bình quyền trong tình cảm là một trong những biểu
hiện rất rõ ràng của tính nữ quyền trong truyện ngắn của những cây bút nữ.
17





nồng nàn trói buộc, bắt Đậm phải day dứt giữa nỗi khát khao và tủi hổ… Quý
mặc áo đứt tiêu cái nút trên, lồ lộ ra mảng ngực rám nắng. Trong Đậm nhiều khi
dậy lên một cái gì rưng rức khó tả, chỉ mong nép đầu vào đó để quên nhọc nhằn,
để quên nỗi cô độc lùi lũi trong đời” [61,71]. Đến Cánh đồng bất tận, chị sẵn
sàng viết về một cô Sương tự nhận mình “làm đĩ”, chuyên kiếm tiền từ việc mồi
chài những người đàn ông, và đâm nghiện họ: “tưởng như chị có thể ngốn ngấu,
bào mòn tất cả đàn ông trên thế gian này. Lúc đầu là kiếm sống, nhưng lâu dần,
sự chung đụng của thể xác làm chị nghiện” [64,200].
Trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, là những người phụ nữ đã qua
một lần đò, có thể do lầm lỡ nhưng chưa bao giờ hết khao khát một hạnh phúc,
cho dù đó là hạnh phúc muộn mằn; Là người đàn bà chưa đến bốn mươi tuổi tràn
trề sức sống, khao khát yêu đương nhưng phải xa chồng… Nhân vật nữ của Đỗ
Hoàng Diệu bạo liệt và rất giàu “năng lượng bản năng”. Không chịu lép vế,
không chịu là một thứ nô lệ cho đàn ông, họ phải được chủ động, được tự mình
quyết định. Họ căm ghét những người đàn ông chưa một lần cho họ được chủ
động yêu đương. Họ muốn được là chính mình: “Nay tôi đã thoát ra khỏi kiếp nô
lệ của ông, tôi trở thành người đàn bà trưởng thành. Chồng tôi sẽ bế tôi lên ngồi
trên, để tôi được mặc sức tung hoành, chà cây đốn gốc. Không cần anh bế, tôi
trườn lên như một con rắn chúa… Tôi không phải nô lệ, tôi là mình, bình
đẳng…” [7,73].
4. Khi nhắc đến các nhân vật nữ mang màu sắc nữ quyền, chúng ta không
thể bỏ qua cái hơi ấm nữ tính được bảo lưu một cách vô thức tạo nên hương vị
riêng cho tác phẩm của các nhà văn nữ. Đó là những vấn đề gần gũi với bản thân,
những câu chuyện không to tát mà gắn với cuộc sống thường nhật, và do đó, có
những người phụ nữ được xem là người phụ nữ của đời thường. Họ lo lắng nỗi lo
của đàn bà, về miếng cơm, manh áo, những khi con cái ốm đau, lo cho gia đình,
lo kiếm sống… Được là một người phụ nữ bình thường, với những nỗi lo lắng
bình thường, chắc gì lại không phải là hạnh phúc?

đặc tính nữ ấy của mình.

CHƢƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
3.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình
20


Để nhân vật trở nên sinh động, hấp dẫn đối với người đọc thì ngoài hoạt
động, tính cách, thế giới nội tâm thì ngoại hình của nhân vật đóng vai trò khá
quan trọng, bởi “ngoại hình nhân vật được thể hiện sinh động sẽ góp phần bộc lộ
tính cách nhân vật, đặc biệt nó có tác dụng khá rõ trong việc cá biệt hóa nhân
vật” [14,134].
Trong xây dựng nhân vật, Đỗ Hoàng Diệu đặc biệt chú ý đến đôi mắt - một
phần thân thể mà đôi khi, chỉ cần nó thôi cũng đủ nói lên bản chất của một con
người. Đỗ Hoàng Diệu cũng thường quan tâm đến hình ảnh đôi bàn tay, xem nó
như là một biểu tượng nghệ thuật độc đáo.
Với Nguyễn Ngọc Tư, chị thường rất hay chú ý đến miêu tả dáng người. Khuôn
mặt là điểm nhận biết đầu tiên khi con người tiếp xúc với nhau, là nơi bộc lộ cảm xúc
dễ nhận biết nên nó là một phần để người ta đoán biết tâm lí của nhau. Do đó, rất
nhiều nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư cũng được nắm bắt tâm lí thông qua khuôn
mặt, và cùng với đó là đôi mắt- cửa sổ tâm hồn. Khá nhiều nhân vật của Nguyễn Thị
Thu Huệ cũng gây ấn tượng với độc giả bằng ngoại hình.
Một trong những điểm khác biệt cơ bản của nhân vật nữ trong văn xuôi đổi
mới và trong văn xuôi cách mạng là, khi nhìn nhận người phụ nữ ở những cái
thuộc về thiên tính, các nhà văn hôm nay quan tâm đến vẻ đẹp cơ thể của người
phụ nữ và những nhu cầu bản năng của họ chứ không chỉ là vẻ đẹp toát ra từ
những phẩm chất cao quý như lòng dũng cảm, sự hi sinh… Các nhà văn ngày
càng quan tâm hơn đến vẻ đẹp của làn da, của bộ ngực, đôi chân, những đường
cong cơ thể. Đó là vẻ đẹp tự nhiên mà tạo hoá ban tặng cho người phụ nữ, đánh
thức ở họ những khát khao nhục cảm rất người. Khi họ ý thức được vẻ đẹp ấy,

của con người hiện đại một cách có cơ sở nhất.
3.3. Nghệ thuật xây dựng tình huống
Nhà văn Nguyễn Minh Châu có lần đã viết: “Với truyện ngắn và với một tác giả
có kinh nghiệm viết, tôi nghĩ rằng đôi khi người ta nghĩ ra được một cái tình thế xảy
ra câu chuyện thật hay, thế là coi như xong một nửa” [30, 320]. Truyện của cả ba nữ
tác giả trên không nhiều tình huống có mâu thuẫn gay gắt như kịch, nhưng “nó là cái
cớ chắc chắn, hết sức cụ thể và mang tính riêng, ở đó cốt truyện và nhân vật nương
tựa vào để thực hiện tất cả ý định của tác giả” [30,321].
22


Đến với truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Đỗ Hoàng Diệu và Nguyễn
Ngọc Tư, ta chủ yếu bắt gặp những nhân vật không phân tuyến thiện ác nhưng lại
là nhân vật được đặt trong những va đập thường ngày của cuộc sống, của hoàn cảnh,
xây dựng nên những tình huống truyện rất đời thường. Những va đập - không phải
bao giờ cũng to tát, không phải bao giờ cũng là những biến cố, sự kiện trọng đại mà
đơn thuần chỉ là một sự việc, nho nhỏ thôi trong cuộc sống hằng ngày xảy ra được
chứng kiến nhưng lại buộc con người ta phải suy nghĩ, đắn đo, phải bộc lộ hoặc thay
đổi mình. Không có những mâu thuẫn lên đến mức đỉnh điểm như trong kịch, nhưng
nó vẫn buộc nhân vật phải suy nghĩ, dằn vặt.

KẾT LUẬN
Phụ nữ viết văn không phải chuyện đơn giản, bởi bên cạnh chuyện viết văn, họ
còn biết bao nhiêu chức phận khác. Làm con đối với mẹ, làm mẹ đối với con, chỉ
riêng hai điều đó cũng đủ để họ bù đầu cả ngày. Ấy thế mà, không những làm tốt các
chức phận của mình, các nhà văn nữ còn không ngừng sáng tạo, mang đến cho nền
văn học Việt Nam một diện mạo mới: “một gương mặt nữ ngày càng trắc ẩn và
khoan dung, ngày càng tinh tế mà đằm thắm” (Bùi Việt Thắng).
Ấn tượng bao trùm khi đọc những truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ là
những câu chuyện, theo đó là những nhân vật rất đời thường, gần gũi xung quanh

pháp nghệ thuật ấy, các tác giả có điều kiện đi sâu vào thế giới nội tâm của con
người, tâm sự với bạn đọc về thân phận con người, về nhân tình thế thái và về
những ẩn ức của chính giới mình.
Dù dư luận có khen chê thế nào, với việc thay đổi cách viết, sự tìm tòi sáng
tạo của một nhà văn, đặc biệt ở những nhà văn nữ như Nguyễn Thị Thu Huệ,
Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng Diệu thì họ rất đáng được khích lệ và ghi nhận.
Họ cũng rất xứng đáng là những tấm gương cho các nhà văn trẻ của thế hệ 8X,
9X noi theo.

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status