Lời "đề từ" trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư - Pdf 19

Lời "đề từ" trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư 1. Trước khi có cuộc “Đối thoại với Cánh đồng bất tận” trên báo Tuổi trẻ tháng 4.
2006, Nguyễn Ngọc Tư đã được bạn đọc biết đến với tập truyện ngắn Ngọn đèn không
tắt, giải Nhất trong cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi XX (lần 2) năm 2000, được
tặng thưởng dành cho tác giả trẻ của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ
thuật Việt Nam năm 2000, giải B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001 Nhưng quả là
đến cuộc “Đối thoại ” chị trở thành một hiện tượng văn học đáng chú ý, một sự kiện
văn học hy hữu trong lịch sử văn học nước ta, thể hiện tinh thần dân chủ hoá của thời kỳ
đổi mới và hết sức tập trung, đến mức chỉ trong một thời gian ngắn, báo Tuổi trẻ đã nhận
được 868 ý kiến gửi về tham gia diễn đàn, trong đó có 855 ý kiến khen và chỉ có 13 ý
kiến chê.
Nhìn chung, cả khen và chê tác phẩm Cánh đồng bất tận đều theo tư duy kiểu cũ,
đều lấy hiện thực đời sống làm thước đo, làm tiêu chuẩn để đánh giá tác phẩm. Người
chê, phản đối tác phẩm thì cho rằng những chi tiết, nhân vật, vấn đề trong tác phẩm đều
không thể có trong hiện thực đời sống, chủ yếu đó là ý kiến của những người làm công
tác chính trị.
Ở phía đa số, những người khen Nguyễn Ngọc Tư cũng lấy hiện thực đời sống
làm tấm gương phản chiếu, bởi “đó là sự chân thực, đôn hậu, trong sáng toả ra từ những
gì cô viết”
(1)
.
Sự khen – chê đều xoay quanh vấn đề nội dung, vấn đề hiện thực và hư cấu, mà
không căn cứ vào văn bản ngôn từ để lý giải vì sao, bằng quan niệm nào mà tác giả viết
như thế và cách viết ấy tạo được hiệu ứng thẩm mỹ như thế nào? Một trong những đặc
điểm nghệ thuật nổi bật của Nguyễn Ngọc Tư, thu hút đông đảo người đọc, đó chính là

mới thấy hết giá trị nội dung của tác phẩm. Ở đây, lời đề từ có thể là một danh ngôn,
một đoạn trích từ kinh Phật, một câu hát dân gian, hoặc đôi khi chỉ là một ý nghĩ bâng
quơ, nêu một sở thích ngộ nghĩnh, hoặc một đoạn tự sự tồn tại song song với truyện
nhưng tất cả đều có thể vận vào, đều thể hiện chiều sâu của tư tưởng, là một phần bổ
sung không thể thiếu cho văn bản tác phẩm, góp phần tạo nên sự toàn vẹn của chỉnh thể,
thực chất là một bộ phận của chỉnh thể tác phẩm, thể hiện ý đồ sáng tạo của tác giả và tư
tưởng - nghệ thuật của tác phẩm, cần phải được lưu ý xem xét, nếu bỏ qua, hoặc bỏ sót
sẽ không khám phá hết giá trị nội dung của tác phẩm.
Truyện Cải ơi! có lời đề từ sau: “Mỗi lần nghe câu hát “Gió đưa cây cải về trời.
Rau răm ở lại ”, tôi hơi quạu, ông bà mình quá hiền lành đi, thí dụ có bị phụ phàng, thì
cũng có chanh chua, hằn học một tí. “Gió đưa thằng quỷ sứ về thành. Để tôi ở lại chành
ành đắng cay”. Đau, tức vậy mà trách cứ nhẹ hều Dường như người ta vẫn yêu, đến
mức không thể giận dỗi, nặng lời. Và mình thì chưa bao giờ yêu ai đến như vậy ?!!!”
(4)
.
Đó là nỗi oan của ông già Năm Nhỏ, bỏ nhà đi tìm đứa con riêng của vợ, tên là Cải. Từ
năm mười ba tuổi, khi đi chăn trâu, vì ham chơi đôi trâu lạc mất, Cải sợ bị đòn không
dám về nhà, ông già Năm bị vợ và bà con lối xóm nghi là đã xua đuổi, thậm chí đánh
chết Cải rồi vùi xác ở đâu đó. Hơn mười hai năm ông đi tìm, ông xin làm chân sai vặt
cho đoàn ca múa nhạc, để trước giờ biểu diễn, ông lên thông báo tìm con: “Cải ơi, ba là
Năm Nhỏ nè con”; rồi ông đẩy xe kẹo kéo đi bán, cố tình vi phạm pháp luật như lấn
chiếm lòng lề đường để bị phạt, ăn trộm trâu để bị bắt, được đưa lên ti vi, cũng chỉ để
được gọi hai tiếng “Cải ơi ”. Ở truyện Một trái tim khô, lại được mở đầu dòng tự sự
bằng những câu hát sướt mướt để đối lập với hành động phi nhân thuê người giết vợ:
“Dạo trước, hồi chưa có phong trào nhạc “Sáng sáng anh uống cà phê. Tối tối anh uống
cà phê ” hay “ở bên người ấy xin đừng nhớ đến tôi, ở bên cạnh tôi xin đừng làm khổ
tôi ”, mấy chiếc xe kẹo kéo, khoai mì luộc hay mở bản nhạc như vầy “Một trái tim khô,
một trái tim mùa đông. Trái tim đã nhiều lần, nhiều lần chạy trốn tình yêu. Suốt đời tôi
mãi mãi là người đến sau ”, nghe cũng hay hay / Mà hơi mắc cười, tình yêu, ai cũng
khoái, sao cha nội nầy đòi chạy trốn ?!” (tr.144). Đây là truyện có nhiều tình tiết éo le,

phần mở đầu trong phương thức tự sự của tác giả. Tương tự, ở Cái nhìn khắc khoải,
được mở đầu bằng lời đề từ: “Một ngày khác thường của tuổi hai mươi - tuổi bè bạn,
tuổi vui chơi, tôi lùa mười sáu con vịt - một trong những gia tài của má tôi - ra đồng,
mưa đầm đìa vào mùa. Tôi thường ngồi ở bờ ruộng, mắt trông chừng bầy vịt, không cho
chúng lân la đến những đám mạ muốt xanh, và da diết thèm người, thèm được nói
chuyện / Bây giờ, quay quanh tôi bao nhiêu là người, tôi lại thèm cảnh đồng nước vắng
tanh ” (tr.48). Những số phận trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư, là những con người
sống giữa mọi người, không cô đơn nhưng lại cô độc, con người cá thể với những ý thức
cá nhân không được đầy đủ. Một ông lão chăn vịt, trước đã từng tham gia chiến tranh,
khi trở về vợ đã bị chết vì đạn pháo, sống một mình giữa bầy vịt, nhặt được một người
phụ nữ bị chồng bỏ rơi đưa về chăm sóc, rồi tìm nơi chồng cô ta ở để chỉ đường cho cô
ta tìm đến, còn mình chỉ ngoái nhìn theo với cái nhìn khắc khoải. Hầu hết những con
người trong truyện đều có đời sống nội tâm phong phú, có lương tâm, có nhân phẩm,
sống lặng lẽ, không phô bày tâm trạng.
Cũng là những mối tình thầm lặng, kín đáo, nhưng ở Nhà cổ được diễn đạt theo
một hướng khác: “Tôi thích những mối tình câm, tình thầm. Tôi tưởng tượng đó là
những mối tình da diết, sâu sắc. Mãi mãi chẳng dám nói thật lòng, cho đến cuối đời, tình
ấy vẫn bàng bạc, rập rờn, và mỗi khi có dịp (như đi qua chỗ ngồi cũ, con đường cũ,
gương mặt cũ ), ta bỗng thấy nhói ran / Chắc là khó chịu lắm, khi yêu mà giả bộ không
yêu, khi buồn cố diễn mặt vui, khi đau tình phải tỏ ra vô tình ” (tr.62). Đó là mối tình
giữa anh em Tứ Hải, Tứ Phưng với Thể. Phương nhường Thể cho anh, để suốt đời đau
khổ, mà không hề hay biết cô hàng xóm Út Nhỏ cũng thầm yêu
Nhiều truyện, lời đề từ được dẫn dắt một cách dài dòng, như là một câu chuyện bổ
sung, tồn tại song song bên cạnh tác phẩm, vừa góp phần làm nổi bật tư tưởng - chủ đề
của tác phẩm, vừa như một đoạn trữ tình ngoại đề thổi vào không gian tâm tưởng của
người đọc những day dứt khôn nguôi. Trong 22 chương của tiểu thuyêt Paris 11 tháng
8 của Thuận, tác giả người Việt sống tại Pháp, không có chương nào là không sử dụng
lời đề từ, cái ngắn nhất là gần một trang sách, có cái dài hơn ba trang sách, nó tạo nên sự
dồn nén thông tin, lần giở từng trang sách, người đọc cảm nhận được cái sức nặng của
đời sống hiện đại. Nguyễn Ngọc Tư cũng đã làm được điều ấy trên cái nền của đời sống

người mà cũng dài cũng rộng vô phương bởi cuộc sống rày đây mai đó, lênh đênh cuối
bãi đầu ghềnh / Những chiều tà, chợ nổi đìu hiu bập bềnh đâu hết một vạt áo nắng vàng
hoe hoe, đỏ hoe hoe. Những người đàn bà cúi đầu ngó chăm chăm xới nồi cơm dào dạt
khói, những người đàn ông xếp bằng ngồi trên mui ghe vấn những điếu thuốc to đùng
bằng đầu những ngón chân cái, phì phà nhả khói lên trời. Những đứa trẻ con ngồi tênh
hênh trên mũi ghe câu cá chốt, cá mè. Những cô con gái sau một ngày bán hàng mệt mỏi
soi mình xuống sông, chải tóc / Họ chắc cũng từng yêu từng vui từng đau, từng nghe
phảng phất niềm thương nhớ đất” (tr.112). Có thể coi đây là một đoạn văn miêu tả đầy
đủ nhất về sinh hoạt đời sống của người dân buôn bán trên chợ nổi ở Cà Mau. Duyên
phận So Le viết về nhóm tiếp viên nhà hàng một khu du lịch ở đất Mũi, trong đó diễn ra
mối tình giữa cô Xuyến và những người đàn ông chợt đến, chợt đi, tác giả đã có dòng tự
sự bổ sung: “Tôi mới gặp lại thằng bạn cũ, cái thằng mỗi khi cười làm tim tôi thút thít
thòm thèm. Tốn tới bốn năm, ủa, vậy thì bốn năm đó, chúng tôi chẳng rời xa cái thành
phố chật chội này, cớ sao không gặp nhau? / Tôi ngồi ngẫm nghĩ mấy giả thuyết (tất
nhiên là trong lúc rảnh), có thể, khi tôi tất tả trên con đường này thì thằng bạn lại đi trên
con đường khác; tôi đi chợ mua cá nấu cơm, bạn đang nhậu; tôi thức gần trắng đêm để
viết lách kiếm cơm, bạn phải ngủ; khi tôi ngược về vùng sâu vùng xa công tác, bạn được
sếp cử đi Sài Gòn Kẻ xuôi người ngược. Nhưng tôi nghĩ, cũng không loại trừ chúng tôi
từng bị mắc trong một vụ kẹt xe, có cách nhau chừng năm ba thước cũng vô phương đối
mặt. Hay chúng tôi cùng học, ở, thí dụ như học nghị quyết, chắc là tôi ngồi đằng cuối
còn thằng bạn ngồi dãy đầu, tôi lên cầu thang bên này bạn xuống cầu thang bên kia /
Về cái sự chúng tôi không gặp (dù thi thoảng cũng nhớ nhau), có quá nhiều giả thuyết.
nhưng, nếu quyết lòng, thì có khó khăn gì để gặp nhau, hở trời?!” (tr.134). Hiu hiu gió
bấc tả mối tình của anh Hết và chị Hoài yêu nhau dữ dội mà không lấy được nhau, do
mẹ chị Hoài chê anh Hết nghèo. Anh thầm lặng chôn chặt tình yêu trong lòng. Anh có
biết đâu bên cạnh anh còn có chị Hảo, thương anh, chờ đợi anh đến thành gái lỡ thì, tác
giả đã có lời đề từ: “Tôi thường đón gió chướng về với một tâm trạng lộn xộn, ngổn
ngang. Mừng đó rồi bực đó. Sao tôi lại chờ đợi nó, chẳng phải năm nào cũng vậy, lúc
cầm cây chổi ra quét sân, đứng trong gió đầm đìa tôi cũng buồn. Trời ơi, gió này là hết
năm đây, già thêm một tuổi đây, mình đã kịp sống gì đâu, tay mình vẫn trắng như vầy

dàng, gió mồ côi, gió đầm đìa, Thật ít có tác giả nào phổ vào gió nhiều cung bậc đến
như vậy. Ngay trong lời đề từ của truyện mở đầu Cải ơi!, chị cũng mở đầu bằng câu hát
cửa miệng của người dân Nam bộ: “Gió đưa cây cải về trời” (tr. 6); mở đầu cho lời đề
từ Hiu hiu gió bấc, chị thổ lộ: “Tôi thường đón gió chướng về với một tâm trạng lộn
xộn, ngổn ngang” Gió thổi xuyên suốt tập sách dày mấy trăm trang của chị (ở các
trang 6, 26, 36, 61, 71, 120, 136, 158, 191, 198, 202, 208 ). Cái không gian đủ các kiểu
gió trên vùng sông nước kênh rạch, đồng ruộng ấy, đậm đặc chất liệu của đời sống đồng
bằng Nam bộ, nó thổi vào tâm trạng, vào đời sống nội tâm của những con người có tâm
hồn trong như ngọc, chất phác, thánh thiện nhưng cũng hết sức bản năng. Những gì hiện
ra trên văn bản, trên ngôn từ mà ta thường gọi là hiển ngôn hữu hạn hơn rất nhiều so với
sự hàm ngôn, ở tầng sâu hơn, chị có khả năng mở ra những ngóc ngách tận đáy tâm hồn
của con người, trong sự đồng hiện, đồng cảm giữa người đọc và thế giới nhân vật. Một
trong những thủ pháp nghệ thuật tạo cho chị thành công, đó chính là việc sử dụng nhuần
nhuyễn các lời đề từ. Có lẽ nhờ vậy, mà gần đây Cánh đồng bất tận của chị vừa được
dịch giả Ha Jae Hong dịch ra tiếng Hàn, được Nhà xuất bản Châu Á (Asia Publishers)
cho ra mắt độc giả Hàn Quốc. Đánh giá về sự kiện này, Thời báo Hàn Quốc (Korea
Times) đã có bài viết trang trọng giới thiệu về tác giả và tác phẩm, trong đó có đoạn:
“Trở thành một nhà văn có sách bán chạy ở tuổi 31 là một kỳ công để nhiều tác giả khác
phải thèm muốn. Nhà văn Việt Nam Nguyễn Ngọc Tư - người đã “độc chiếm” độc giả ở
tuổi 31 - không chỉ bán được khoảng tám mươi ngàn bản cho cuốn sách mới nhất, chị
còn được giới thiệu như một giọng văn riêng ăn khách ở đất nước mình ”
(5)
.
Ở nơi nào chị chưa thấu đáo, chưa thật sự chín hay như có người nói còn ít nhiều
bị ảnh hưởng trào lưu này trào lưu khác cũng là điều tất yếu. Nhưng với tôi, sau những
bậc trưởng bối đã thành danh không thể thay thế ở Nam bộ trước đây như Lý Văn Sâm,
Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, nay tôi
mới gặp được một tâm thức, một giọng điệu Nam bộ trong thế hệ trẻ là Nguyễn Ngọc
Tư. Ở chị có sự đậm đặc của một giọng điệu văn chương Nam bộ, trong đó có những kế
thừa thế hệ trước, nhưng lại là giọng điệu của đời sống hiện đại, không trộn lẫn với bất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status