Đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn nguyễn ngọc tư - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Hoàng Thị Thu Hà K32B
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Văn chương là nghệ thuật ngôn từ. Đó là ngôn từ của tác phẩm văn học,
của thế giới nghệ thuật, kết quả sáng tạo của nhà văn. Tác phẩm nghệ thuật
không phải là sự sao chép cuộc sống một cách đơn giản một chiều, mà đã
được khúc xạ qua lăng kính của tác giả. Sức mạnh của các tác phẩm văn
chương chính là việc vận dụng ngôn ngữ một cách điêu luyện, tài hoa của mỗi
nhà văn, nhà thơ.
Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học, vì vậy văn học
được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ. Macxim Gorki khẳng định: “Ngôn
ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”.
Trong tác phẩm, ngôn ngữ văn học là một yếu tố quan trọng thể hiện cá
tính sáng tạo của nhà văn. Mỗi nhà văn phải là tấm gương sáng về mặt hiểu
biết sâu sắc ngôn ngữ nhân dân, cần cù lao động để trau dồi ngôn ngữ trong
quá trình sáng tác.
Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn trẻ (sinh năm 1976), quê quán ở Cà
Mau. Chị sinh ra và lớn lên ở vùng đất Mũi. Chị xuất hiện trên văn đàn như
một “hiện tượng” khá đặc biệt. Có thể nói hiếm có nhà văn nào mới bước vào
nghề đã gặt hái nhiều thành công đến như vậy. Các giải thưởng cao quý chị
nhận được đã khẳng định được điều đó.
- Giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần thứ I với tác
phẩm “Ngọn đèn không tắt”, năm 2000.
- Giải B do Hội nhà văn Việt Nam trao tặng cho tập truyện “Ngọn đèn
không tắt”, năm 2001.

Khoa Ngữ văn


xoay quanh truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư đăng tải trên các tạp chí (chẳng
hạn Tạp chí nghiên cứu văn học, Tạp chí xuân Mậu Tý) hay các báo (báo Văn
nghệ, báo Cần Thơ) và cả trên các diễn đàn trên mạng internet (đặc biệt là
trang web “Văn học và giáo dục” do Trần Hữu Dũng quản lý, trong đó có hẳn
“tủ sách Nguyễn Ngọc Tư”). Qua đó, bạn đọc có cái nhìn tổng quan về truyện
ngắn của Nguyễn Ngọc Tư nói chung, về ngôn ngữ của chị nói riêng.

Khoa Ngữ văn

-2

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Khóa luận tốt nghiệp

Hoàng Thị Thu Hà K32B

Tuy vậy, chưa có một chuyên luận, một công trình nghiên cứu hay một
đề tài khoa học nào nói về Đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư. Vấn đề ngôn ngữ trong các truyện ngắn của chị chỉ được trình bày
một cách riêng lẻ, rời rạc trong các bài báo, bài phê bình, hay các cuộc thảo
luận khoa học. Sau đây chúng tôi xin điểm qua lịch sử nghiên cứu vấn đề về
ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
Trần Hữu Dũng cho rằng: “…Cái đầu tiên làm cho người đọc choáng
váng (một cách thích thú) là nồng độ phương ngữ miền Nam trong truyện của
Nguyễn Ngọc Tư. Nếu bạn đọc là người nam và nhất là bạn đã xa quê hương
lâu năm, thì chỉ những chữ mà Nguyễn Ngọc Tư dùng cũng đủ làm bạn sống
lại những ngày thơ ấu xa xôi ấy. Từ vựng của Nguyễn Ngọc Tư không quý
phái hay độc sáng (như của Mai Ninh chẳng hạn), nhưng đối nghịch đó là

những bài báo, bài nghiên cứu đó chưa đặt đặc điểm ngôn ngữ thành vấn đề
riêng biệt, chưa khảo sát toàn diện, hệ thống và còn tản mạn. Chính vì vậy
trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của những người đi trước, tác giả khóa
luận mong muốn ở mức độ nhất định sẽ khám phá ngôn ngữ của Nguyễn
Ngọc Tư ở ba bình diện: Ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Qua đó giúp cho tác
giả khóa luận hiểu rõ hơn về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nói chung và ngôn
ngữ trong truyện của chị nói riêng.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư, người viết cố gắng khắc họa một cách toàn diện về đặc điểm ngôn
ngữ trong truyện ngắn của chị. Từ đó, khóa luận giúp bạn đọc có được sự cảm
nhận sâu sắc về cái hay, cái độc đáo của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư trong việc
sử dụng đậm đặc phương ngữ Nam Bộ.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Khóa luận Đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
có đối tượng nghiên cứu là các đặc điểm ngôn ngữ ở ba bình diện: Ngữ âm, từ
vựng, ngữ pháp qua một số tập truyện tiêu biểu:
-Tập truyện Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Nhà xuất bản Văn hóa Sài
Gòn, năm 2005)
-Tập truyện Ngọn đèn không tắt (Nhà xuất bản Trẻ, năm 2006)
-Tập truyện Cánh đồng bất tận (Nhà xuất bản Trẻ, năm 2006)
-Tập truyện Giao Thừa (Nhà xuất bản Trẻ, năm 2006)
5. Phương pháp nghiên cứu

Khoa Ngữ văn

-4

Trường ĐHSP Hà Nội 2




Khóa luận tốt nghiệp

Hoàng Thị Thu Hà K32B

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT

1.1. Sự hình thành vùng đất và con người Nam Bộ
Vùng đất Nam Bộ chia thành ba khu vực: Đông Nam Bộ, Sài Gòn-nay
gọi là thành phố Hồ Chí Minh và Tây Nam Bộ. Có thể khái quát một số nét về
sự hình thành khu vực này như sau:
1.1.1. Miền Đông Nam Bộ
Đông Nam Bộ bao gồm 8 tỉnh, thành phố (tương đương cấp tỉnh) là
Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu, Bình
Thuận, Ninh Thuận với diện tích 34904,2 km 2 , chiếm hơn 10,5% diện tích tự
nhiên của toàn quốc, dân số của vùng là 10441,2 nghìn người, chiếm 14,9%
dân số của cả nước.
Đây là một vùng đất mới trong lịch sử phát triển của đất nước, là khu
vực tập trung nhiều đô thị nằm giữa các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Tây
Nguyên, những vùng giàu tài nguyên đất đai, rừng và khoáng sản.
Phía Tây và Tây Nam nằm kề đồng bằng Châu thổ sông Cửu Long,
vùng có tiềm năng lớn về nông nghiệp, lương thực, thực phẩm và cây ăn quả,
vùng sản xuất lương thực, thực phẩm lớn nhất của nước ta. Phía Đông và

Khoa Ngữ văn

-6


1.1.2. Sài Gòn _ nay là thành phố Hồ Chí Minh
Sài Gòn là trung tâm chính trị, kinh tế, một trung tâm giao dịch quốc tế
và du lịch lớn của cả nước. Vị trí quan trọng của Sài Gòn không chỉ được
khẳng định ở thời điểm hiện tại mà cả trong quá khứ. Sài Gòn nằm ở vị trí

Khoa Ngữ văn

-7

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Khóa luận tốt nghiệp

Hoàng Thị Thu Hà K32B

trung tâm của vùng Đông Nam Á, được ví như “hòn ngọc Viễn Đông” của
vùng.
Thành phố Hồ Chí Minh với số dân 4,9 triệu người, mật độ dân số là
388 người/ km 2 (năm 1999), là thành phố lớn nhất của cả nước. Đây là thành
phố có cơ sở hạ tầng rất thuận lợi cho việc tổ chức các mối liên hệ kinh tế - xã
hội (bao gồm cảng, sân bay, mạng lưới đường sá, thông tin liên lạc, vào loại
tốt nhất cả nước). Trong tương lai dân số thành phố Hồ Chí Minh có thể đạt
6-7 triệu người.
Như vậy, việc dân cư tập trung quá đông, đến từ nhiều vùng miền,
khiến cho sự giao tiếp của người Việt ở khu vực diễn ra thường xuyên liên
tục. Do đó tính chất phương ngữ Nam Bộ ở Sài Gòn có thể bị biến đổi, không
còn giữ những đặc trưng “ban đầu” của một số vùng, một số tỉnh ở Nam Bộ.
1.1.3. Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang,

các vùng đến xây dựng kinh tế, tạo nên sự đa dạng, phong phú cho ngôn ngữ
của vùng. Sự pha trộn, ảnh hưởng, tiếp thu ngôn ngữ của các lưu dân Việt
vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã làm cho phương ngữ Nam Bộ cũng có sự
thay đổi.
Tiểu kết: Môi trường mới đã tạo nên một hoàn cảnh mới, từ đó cũng
làm thay đổi ở lớp cư dân người Việt ở Nam Bộ một tính cách mới, một tư
duy khác trước. Những đặc trưng văn hóa mới cũng được hình thành song
song với những đặc điểm ngôn ngữ mới. Sự giao lưu giữa các cư dân Việt
mới chuyển đến với dân bản địa đã làm cho phương ngữ Nam Bộ “ban đầu”
bị biến đổi.
1.2. Khái quát về phương ngữ
1.2.1. Sự hình thành phương ngữ
Theo từ điển tiếng Việt: “Phương ngữ là biến thể của một ngôn ngữ
được sử dụng theo địa phương hoặc theo tầng lớp xã hội” [15,983]. Như vậy
đối với tiếng Việt, phương ngữ địa lí là những biến thể địa lí của nó.
Trong lòng mỗi địa phương lại có những thổ ngữ riêng, tức là những
biến thể của tiếng địa phương ở những khu vực địa lí hẹp hơn như một tỉnh,
một huyện, thậm chí một làng.
Các phương ngữ có sự khác nhau ở giọng nói, cách phát âm, từ ngữ,
phong cách, ngữ pháp…không đồng đều nhau. Ở phương diện ngữ âm, từ
ngữ, sự khác nhau giữa các phương ngữ lớn hơn so với phương diện ngữ
pháp. Sự khác nhau này không do nguồn gốc ngôn ngữ mà do điều kiện địa lí,

Khoa Ngữ văn

-9

Trường ĐHSP Hà Nội 2



của họ bị tù túng, kìm kẹp trong khuôn khổ của mỗi vùng, miền. Do đó tiếng

Khoa Ngữ văn

- 10

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Khóa luận tốt nghiệp

Hoàng Thị Thu Hà K32B

Việt toàn dân không thống nhất được. Chỉ đến khi Nguyễn Ánh lấy lại Phú
Xuân, thống nhất đất nước (năm 1802) thì sự giao lưu, tiếp xúc giữa đàng
trong và đàng ngoài mới diễn ra bình thường.
Nhưng sự giao lưu ấy chưa được bao lâu thì Nguyễn Ánh lại “cõng rắn
cắn gà nhà”, thực dân Pháp nhảy vào xâm lược nước ta, chấm dứt những năm
tháng trị vì ngắn ngủi của nhà Nguyễn. Với chính sách cai trị tàn bạo về chính
trị, kinh tế, văn hóa… thực dân Pháp đã đẩy nhân dân ta vào thân phận nô lệ.
Trong điều kiện đất nước có giặc ngoại xâm, ngôn ngữ của dân tộc sẽ không
có điều kiện để phát triển, thậm chí còn bị kìm hãm. Bọn chúng đã rất thâm
độc khi chia nước ta thành ba miền với ba thể chế chính trị khác nhau: Chế độ
bảo hộ ở Bắc kỳ, chế độ nửa bảo hộ ở Trung kỳ và trực trị ở Nam kỳ. Sự chia
cắt về thể chế hành chính và những luật lệ cai trị khác nhau đã góp phần tô
đậm sự chia cắt trong tiếng Việt.
Ngày 19/8/1945, cách mạng tháng tám thành công, non sông đất nước
Việt Nam thu về một mối. Nhân dân ba miền kề vai, sát cánh trong công cuộc
xây dựng cuộc sống mới thì đế quốc Mỹ tiến hành xâm lược nước ta biến
nước ta thành thuộc địa của chúng. Nhân dân Việt Nam phải chịu cảnh “một

dụng không giống nhau, gây ngạc nhiên cho tất cả mọi người ở mỗi miền. Ví
dụ người miền Bắc không thể hiểu cái cà ràng, cái đờn mà người miền Nam
gọi là cái gì? nhưng những ai đã từng sống ở miền Nam đều hiểu đó là cái bếp
và cái đàn.
Tuy vậy, để phân chia phương ngữ, các nhà ngôn ngữ học đã dựa vào
các bình diện khác nhau của ngôn ngữ để chia tiếng Việt thống nhất ra làm
các vùng phương ngữ khác nhau.
Căn cứ vào sự khác biệt ngôn ngữ ở bình diện ngữ âm có thể chia tiếng
Việt thành bốn vùng phương ngữ lớn, đó là các vùng phương ngữ: Phương
ngữ Bắc Bộ, phương ngữ Bắc Trung Bộ, phương ngữ Nam Trung Bộ và
phương ngữ Nam Bộ, cụ thể:
Vùng phương ngữ Bắc Bộ bao gồm các tỉnh Bắc Bộ và Thanh Hóa (tuy
nhiên cách phát âm, sử dụng từ ngữ của Thanh Hóa vẫn ảnh hưởng của
phương ngữ Bắc Trung Bộ vì Thanh Hóa có vị trí địa lí là điểm giao thoa giữa
vùng Bắc Bộ và vùng Bắc Trung Bộ).
Vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ bao gồm các tỉnh từ Nghệ An đến
Thừa Thiên Huế.
Vùng phương ngữ Nam Trung Bộ bao gồm các tỉnh từ Đà Nẵng đến
Bình Thuận.

Khoa Ngữ văn

- 12

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Khóa luận tốt nghiệp

Hoàng Thị Thu Hà K32B

- 13

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Khóa luận tốt nghiệp

Hoàng Thị Thu Hà K32B

Trong hai vùng phương ngữ Nam Bộ và phương ngữ Bắc Bộ thì vùng
phương ngữ Bắc Bộ được coi trọng và đề cao hơn. Bởi đây là ngôn ngữ của tổ
tiên người Việt, nó đã có từ lâu đời, được hình thành và phát triển qua bao
biến động và thăng trầm của lịch sử. Phương ngữ Bắc Bộ được coi là ngôn
ngữ chuẩn, ngôn ngữ toàn dân, được các nhà văn, nhà thơ sử dụng để sáng tác
nên các tác phẩm văn chương, được dùng trong các văn bản hành chính và
pháp luật…Nó được sử dụng trong hầu hết các hoạt động chính trị - xã hội
của đất nước. Phương ngữ Bắc Bộ nói riêng, tiếng Việt nói chung là niềm tự
hào của người Việt bởi một đất nước có diện tích nhỏ bé, kinh tế kém phát
triển lại có một ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, trong khi đó một cường
quốc kinh tế như nước Mỹ lại không có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình,
phải mượn ngôn ngữ của nước Anh (trước khi giành độc lập, 13 bang của Mỹ
là thuộc địa của nước Anh). Vì vậy khi tiến hành quá trình chuẩn hóa tiếng
Việt, các nhà nghiên cứu đều cho rằng tiếng Việt chuẩn được xây dựng trên
cơ sở phương ngữ Bắc Bộ, lấy tiếng Hà Nội làm chuẩn. Các chuẩn mực này
được thể hiện trong các cuốn từ điển như từ điển tiếng Việt, từ điển chính tả
phổ thông, …
Tuy vậy cũng không nên quá đề cao phương ngữ Bắc Bộ mà xem nhẹ
phương ngữ Nam Bộ. Việc tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ có ý nghĩa đặc biệt,
góp phần vào việc chuẩn hóa tiếng Việt, làm phong phú thêm kho tàng ngôn
ngữ của tiếng Việt toàn dân, tạo cho lời ăn tiếng nói của người dân Việt Nam

xuất hiện một số từ ngữ mới mà thời trước không có như “bóc lịch”, “chát
chít”, “nối mạng”, “internet”… Nói như Ssaussure: “Người ta quên nhân tố
thời gian, vì nó không cụ thể bằng nhân tố không gian. Nhưng thật ra, chính
do nó mà có sự phân hóa ngôn ngữ. Tính đa dạng địa lí phải được phiên dịch
ra thành tính đa dạng trong thời gian”.
Như vậy, lịch sử thay đổi theo thời gian thì phương ngữ được hình
thành theo thời gian cũng biến đổi. Trong quá trình di dân (hay không có quá
trình di dân) sự biến đổi này cũng diễn ra như một tất yếu ở cả phương ngữ
Nam Bộ, phương ngữ Bắc Bộ hay phương ngữ Trung Bộ.
Nói tới đặc điểm của phương ngữ là nói tới ba bình diện: Ngữ âm, từ
vựng, ngữ pháp. Đề cập đến vấn đề phương ngữ Nam Bộ chúng tôi cũng nhắc
đến ba bình diện đó (Sự khác biệt của phương ngữ Nam Bộ với tiếng Việt
chuẩn cũng diễn ra theo hướng đó).
1.3.1. Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ trên bình diện ngữ âm

Khoa Ngữ văn

- 15

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Khóa luận tốt nghiệp

Hoàng Thị Thu Hà K32B

Ở bình diện ngữ âm, sự khác biệt ngữ âm học của phương ngữ Nam Bộ
so với tiếng Việt chuẩn (phương ngữ Bắc Bộ), phương ngữ Trung Bộ diễn ra
trên các thành phần của âm tiết, phụ âm đầu, thanh điệu, phần vần.
Với thành phần phụ âm đầu, có hiện tượng sai biệt như hiện tượng


Khóa luận tốt nghiệp

Hoàng Thị Thu Hà K32B

Thứ nhất: Xuất phát từ việc thiên về khuynh hướng chọn sự dễ dãi,
thoải mái trong cách phát âm của người Nam Bộ.
Thứ hai: Cách phát âm này xuất phát từ tính cách của người Nam Bộ
chân chất, giản dị, chịu ảnh hưởng của lối sống dân dã, gắn liền với môi
trường sông nước đã có từ lâu đời.
Sự khác biệt về ngữ âm của phương ngữ Nam Bộ vừa góp phần làm
phong phú cho ngôn ngữ dân tộc, vừa gây ra những khó khăn nhất định: Đó là
tình trạng viết sai lỗi chính tả diễn ra một cách phổ biến không chỉ ở học sinh
mà còn xảy ra ở một bộ phận trí thức (một cách rất đáng tiếc)… đây là điều
cần phải sớm khắc phục để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
1.3.2. Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ trên bình diện từ vựng- ngữ
nghĩa
Căn cứ vào hệ thống từ vựng trong phương ngữ Nam Bộ, chúng tôi
nhận thấy từ vựng của phương ngữ Nam Bộ có một số đặc điểm sau:
1.3.2.1. Lớp từ ngữ Nam Bộ chính gốc
Đây là lớp từ ngữ riêng của phương ngữ Nam Bộ, không thấy xuất hiện
ở các phương ngữ khác. Lớp từ này mang đậm bản sắc của vùng đất Nam Bộ.
Tuy vậy chúng chỉ được lưu hành trong nội bộ một vùng nên rất dễ gây khó
khăn cho người tiếp nhận, thậm chí gây ra những ngộ nhận, hiểu lầm đáng
tiếc. Vì vậy khi sử dụng lớp từ ngữ này cần thận trọng lựa chọn để hợp với
ngữ cảnh được nói tới.
Dưới đây, chúng tôi điểm qua một số từ ngữ riêng của người Nam Bộ:
- Các từ chỉ phương tiện di chuyển trên sông, rạch như vỏ lãi (loại
phương tiện dùng để di chuyển, có chiều dài khoảng 5-6m, chiều ngang tương
đối nhỏ, chỉ rộng vừa khoảng hai người ngồi), trẹt (có hình chữ nhật, nông

để cán làn đường), bi da (bi-a, trò chơi dùng cơ thụt những quả bi trên một
mặt bàn, có băng chận), lô can (lô canh), bẹc ma năng (thường xuyên, liên
tục, không có sự gián đoạn, ngưng nghỉ), giấy can kê (giấy than, giấy có phết
một lớp muội đen hoặc xanh dùng để nhân bản, can hay đồ lại)…
- Các từ phản ánh cuộc sống riêng của con người, vùng đất Nam Bộ.
Đặc trưng của người Nam Bộ là rất thích nghe cải lương, ca cổ, nhạc tài tử,
với các kép chánh, đào hát, đào con, nghệ sĩ, tuồng, gánh hát, đoàn cải
lương, vai diễn, hát, đào chính, nghiệp ca hát, giọng ca …họ là những người
dân yêu, say mê loại hình nghệ thuật này. Ngoài ra đó còn là cách gọi tên,
cách xưng hô giữa mọi người trong gia đình và ngoài gia đình của người Nam

Khoa Ngữ văn

- 18

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Khóa luận tốt nghiệp

Hoàng Thị Thu Hà K32B

Bộ cũng rất đặc biệt, chẳng hạn như gọi theo thứ bậc trong gia đình ( hai, ba,
sáu bảy,...) đi kèm với tên riêng (già Hai Chi, ông Ba Già, chế Hai, dì Út
Hên…) hoặc trong gia đình hay ngoài xã hội đều có cách gọi là cậu, mợ, dì,
chú… Đối với cách xưng gọi không quá phân biệt ngôi thứ như ở miền Bắc ví
dụ để chỉ người già, người cao tuổi trong gia đình đều gọi chung là ông,
không phân biệt là cố, cụ, kỵ... Ngoài ra còn có cách sử dụng hàng loạt các từ
ở ngôi ba số ít như: Thằng chả, ảnh, ổng, tui,…trong cách xưng hô cũng là
một nét đặc sắc của phương ngữ Nam Bộ về mặt từ vựng, ngữ nghĩa.


- Lớp từ cổ ít được dùng trong tiếng Việt chuẩn nhưng lại được dùng
rất phổ biến trong phương ngữ Nam Bộ. Chẳng hạn như hương dũng (hương
dõng, lính địa phương ở làng, xã thời phong kiến), nhà thương (bệnh viện),
dơ (bẩn), mầng (mừng), ngộ (dễ nhìn), thơ (thư)… lớp từ cổ này mang sắc
thái bình dân, không trang trọng, cao sang, được lưu truyền và sử dụng đến
ngày nay.
- Lớp từ gồm các từ biến âm. Đây là từ có số lượng lớn, được sử dụng
khá phổ biến trong đời sống sinh hoạt của người dân. Có nhiều nguyên nhân
dẫn đến hiện tượng biến âm của từ, có thể do thói quen phát âm của người
Nam Bộ mà dần hình thành có tính hệ thống như: Tánh (tính), chánh (chính),
thiệt (thật), vầy (vậy), đờn (đàn), kinh (kênh), thúi (thối), trết (trét), trừng
(trành), thu đủ (đu đủ), chằm bẳm (chăm bẵm), lìu khìu (lều khều), nhơn
(nhân), nhỡn quan (nhãn quan), tròm trèm (thòm thèm), …hoặc do vấn đề
kiêng kị hay kị húy như huỳnh (hoàng), võ (vũ)…
- Lớp từ gồm các từ biến nghĩa. Các từ này vốn là từ toàn dân nhưng đã
bị biến nghĩa, người Nam Bộ dùng với nghĩa gốc, chẳng hạn chích dùng trong
chích thuốc...
Phương ngữ Nam Bộ rất phong phú và đa dạng là nhờ lớp từ riêng tồn
tại trong lòng Nam Bộ cùng với lớp từ có nguồn gốc ở phương ngữ Trung Bộ
và Bắc Bộ. Do vậy các lớp từ vựng sẽ trở nên linh hoạt và hấp dẫn hơn.
Chẳng hạn trong lớp từ chỉ sản vật, riêng giống “vịt” cũng có nhiều loài “vịt”
khác nhau: Vịt áo lá (vịt còn nhỏ mới thay lớp lông măng bằng lớp lông
mượt, nhưng chưa đầy đủ lông chỉ mới mọc lông ở phần thân), vịt cò (vịt có
lông trắng hoàn toàn), vịt cồ (con vịt lớn hơn hẳn ở trong bầy, thường là vịt
trống), vịt đẹt (chỉ đối tượng yếu kém, chậm phát triển hơn trong đàn), vịt
hãng (vịt nuôi thành đàn, thành bầy, con bằng bắp vế chân, khi di chuyển kêu
la om sòm, được nuôi để lấy trứng và thịt), vịt phá bầy (vịt lớn độ một tháng,

Khoa Ngữ văn

Đúng như vậy, hiện tượng nói lái của người Nam Bộ đã thể hiện tư duy lôgic,
trí tưởng tưởng phong phú, sự liên tưởng bất ngờ, sự lạc quan yêu đời theo
cách riêng của người Nam Bộ.
Tiểu kết: Như vậy, đặc điểm lịch sử, địa lý, văn hóa xã hội của vùng đất
Nam Bộ đã chi phối đến cách sử dụng phương ngữ của vùng. Trong xu hướng
hội nhập, giao thoa giữa các phương ngữ, phương ngữ Nam Bộ tiếp thu các

Khoa Ngữ văn

- 21

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Khóa luận tốt nghiệp

Hoàng Thị Thu Hà K32B

yếu tố tích cực của các phương ngữ khác, loại bỏ các yếu tố tiêu cực để làm
giàu thêm vốn từ vựng của vùng.

CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ

2.1. Bình diện ngữ âm

Khoa Ngữ văn

- 22


tôi thống kê được một số trường hợp biến thể phát âm phụ âm đầu sau: hỏng,
hông/ không, giở/ mở, thẹo/ sẹo, day/ quay, bừng/ lừng, xào/ sào , dòm/
nhòm, chi/ gì…

Khoa Ngữ văn

- 23

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Khóa luận tốt nghiệp

Hoàng Thị Thu Hà K32B

Các tập truyện có tỉ lệ phần trăm các biến thể phụ âm đầu trong tổng số
biến thể ngữ âm như sau: Tập truyện “Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư ” xuất
hiện 39/131 phiếu, chiếm 29,8%; tập truyện “Ngọn đèn không tắt” có 10/65
phiếu, chiếm 15,4%; tập truyện “Giao thừa”, có 32/222 phiếu, chiếm 14,4%;
tập truyện “Cánh đồng bất tận” có 35/402 phiếu, chiếm 8,7%.
Ví dụ 1: “Mấy ông bạn cùng tổ công tác vừa đọc truyện “Mối tình nho
nhỏ” của Nguyễn Ngọc Thọ vừa khóc, “hỏng có nhà văn nào được như nó,
viết truyện ngắn mà ai cũng mê, thuộc lòng như bài ca cải lương, đám cưới,
đám giỗ, đám ma đều được đem ra làm văn nghệ hết”. [13,74]
Ví dụ 2: “Chú Sa nói liền: Ghé, ghé chớ, hổng ghé chỗ này thì biết đi
đâu”. [14,31]
Ví dụ 3: “Ông đi vài bước ông day lại nhìn Thương (cho chắc là nó
đứng đây, và có thiệt trên đời) ngước về phía trời sao, rồi ngó thằng Thàn,
ông cười, để miệng muốn méo sao thì méo “Tía kiếm có con Cải rồi, dễ ợt à
mầy ơi”.[13,10]

cho rằng Lương bị khùng. Ai cũng biết Lương không khùng, bởi vì một người
khùng đâu biết trân trọng một người con gái vì hoàn cảnh xô đẩy mà phải
bước vào con đường lầm lỗi, và đâu có thể suy nghĩ cho tương lai (sẽ dựng
một căn nhà nho nhỏ, rồi lấy vợ). Sử dụng cụm từ “hỏng dám đâu” làm cho
câu văn như có duyên hơn, đáng yêu hơn, cảm nhận được rõ rệt tình cảm chân
thành Lương dành cho Bông.
Có thể nói, tuy tần số xuất hiện của các biến thể phụ âm đầu không
nhiều và cũng không phải là đặc trưng cho phong cách của Nguyễn Ngọc Tư,
nhưng nhờ các biến thể này mà bạn đọc dễ dàng nhận thấy tính chất giản dị,
mộc mạc và sinh động trong cách nói chuyện của người Nam Bộ. Cách nói ấy
gần gũi với tính cách xuề xòa, không cầu kì, không khách sáo khi giao tiếp ở
Nam Bộ.
2.1.2. Biến thể phần vần
Các biến thể phát âm phần vần trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
chiếm số lượng lớn nhất và tiêu biểu cho cách phát âm của người dân Nam
Bộ, được chị phản ánh một cách hấp dẫn, lôi cuốn trong các truyện ngắn của
mình.
Trong các biến thể phần vần thì các phát âm chệch chuẩn thường diễn
ra ở bộ phận âm chính và đó thường là hiện tượng rút ngắn độ mở của nguyên
âm. Chúng tôi thống kê một số trường hợp như sau: Bịnh/ bệnh, lịnh/ lệnh,
chánh/ chính, tánh/ tính, bí thơ/ bí thư, đờn/ đàn, thiệt/ thật, kinh/ kênh, biểu/

Khoa Ngữ văn

- 25

Trường ĐHSP Hà Nội 2




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status