Luận văn thạc sĩ Đặc điểm từ xưng hô qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm số đỏ của Vũ Trọng Phụng - Pdf 58

Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
___________________________________

ĐẶC ĐIỂM TỪ XƯNG HÔ QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT
TRONG TÁC PHẨM SỐ ĐỎ CỦA NHÀ VĂN VŨ TRỌNG PHỤNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đức Thuận

HẢI PHÒNG – 2017


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

i
LỜI CAM ĐOAN

Xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, tháng 5 năm 2017
Tác giả


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................ii
MỤC LỤC........................................................................................................iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ............................................................................. vi
DANH MỤC VIẾT TẮT ................................................................................vii
PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI .............................................................................................................. 7
1.1. Vấn đề hội thoại và lời thoại......................................................................7
1.1.1. Khái niệm hội thoại................................................................................. 7
1.1.2. Lời thoại nhân vật ................................................................................... 8
1.2. Khái niệm xưng hô và từ xưng hô trong hội thoại..................................... 9
1.2.1. Khái niệm xưng hô và từ xưng hô .......................................................... 9
1.2.2. Sử dụng từ xưng hô trong hội thoại ...................................................... 12
1.3. Từ xưng hô trong tiếng Việt..................................................................... 15
1.3.1. Từ xưng hô chuyên dụng - đại từ nhân xưng........................................ 15
1.3.2. Từ xưng hô không chuyên dụng ........................................................... 16
1.4. Nhân vật và ngôn ngữ nhân vật trong hội thoại....................................... 17
1.4.1. Khái niệm nhân vật ............................................................................... 17
1.4.2. Ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả ............................................... 19
1.5. Vài nét về Vũ Trọng Phụng và tác phẩm Số đỏ....................................... 19
1.5.1. Vài nét về Vũ Trọng Phụng .................................................................. 19
1.5.2. Về tác phẩm Số đỏ................................................................................. 22

v
3.5. Từ xưng hô thể hiện chiến lược giao tiếp của nhân vật ........................... 80
3.6. Những tương đồng và khác biệt về việc sử dụng TXH qua lời thoại nhân
vật trong tác phẩm Số đỏ so với một số tác phẩm của dòng văn học hiện thực
phê phán .......................................................................................................... 86
3.6.1. Những tương đồng ................................................................................ 88
3.6.2. Những khác biệt .................................................................................... 95
3.7. Tiểu kết chương 3................................................................................... 102
KẾT LUẬN ................................................................................................... 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................. 106
PHỤ LỤC ...................................................................................................... 109


vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu

Tên bảng

bảng

Trang

2.1

Bảng TXH là từ đơn trong Số đỏ

30

2.2


ĐTNX

:

Đại từ nhân xưng

TXHCD :

Từ xưng hô chuyên dụng

TTT

:

Từ thân tộc

TXH

:

Từ xưng hô


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
1.1 Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, từ xưng hô (TXH) là yếu tố đầu
tiên mà các vai giao tiếp cần phải lựa chọn để xác lập vị trí của mình. Qua
cách sử dụng TXH người ta có thể biết được tình cảm, thái độ, mối quan hệ,

đã thu hút sự quan tâm, yêu mến của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học và
đông đảo công chúng. Kết quả là đã có rất nhiều bài viết, nhiều công trình
nghiên cứu về sáng tác của ông, trong đó cũng có không ít các công trình
nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học. Song, hầu hết các công trình đó mới
chỉ đề cập đến những vấn đề như cách đặt tiêu đề, ngôn ngữ nhân vật, ngôn
ngữ độc thoại, ngôn ngữ đối thoại. Đặc biệt việc nghiên cứu về từ xưng hô
qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng theo sự
tìm hiểu của chúng tôi đến nay dường như còn là một khoảng trống.
Tiếp cận tiểu thuyết Số đỏ để tìm hiểu đặc điểm TXH qua lời thoại
nhân vật nhằm khai thác giá trị của một tác phẩm văn học thông qua hệ thống
TXH trong lời thoại nhân vật là một điều không kém phần thú vị. Bởi qua đó,
người viết có điều kiện tiếp cận, tìm hiểu khả năng xây dựng nhân vật và nhất
là tâm lí nhân vật của nhà văn Vũ Trọng Phụng.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn và tiến hành nghiên
cứu đề tài: Đặc điểm từ xưng hô qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm Số đỏ
của nhà văn Vũ Trọng Phụng.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Về từ xưng hô trong tiếng Việt
Từ lâu, TXH đã trở thành lĩnh vực được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ
học quan tâm từ góc độ đại cương đến tiếng Việt, từ phương diện miêu tả đến
đối chiếu và dụng học. Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
TXH. Các tác giả đi theo ba hướng nghiên cứu:
- Bàn về TXH ở góc độ lý luận chung.
- Bàn về TXH được sử dụng trong phạm vi gia đình và xã hội.
- TXH được nghiên cứu từ góc độ đối chiếu.
Về hướng thứ nhất có thể kể đến công trình nghiên cứu Grammaire de


3
la lenggua annamite, Trương Vĩnh Ký đã dành 30 trang để nói về đại từ,

4
tác giả nào nghiên cứu về từ xưng hô qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm Số
đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng.
Như thế, chúng ta thấy, hướng nghiên cứu từ xưng hô dưới góc độ ngôn
ngữ học trong tác phẩm văn học chưa được giới nghiên cứu quan tâm chú ý.
2.2. Về việc nghiên cứu từ xưng hô trong tác phẩm Số đỏ của nhà văn Vũ
Trọng Phụng.
Nghiên cứu về nhà văn Vũ Trọng Phụng, mà nổi bật là tác phẩm Số đỏ,
người ta không thể không nhớ đến những tác phẩm trong dòng văn học hiện
thực phê phán . Ngay từ khi ra đời, tác phẩm đã trở thành đối tượng nghiên
cứu của nhiều cây bút phê bình văn học. Trong số những công trình đó có cả
sự nghiên cứu về bình diện văn học và bình diện ngôn ngữ.
Nhìn lại lịch sử nghiên cứu tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng dưới
góc độ ngôn ngữ học, chúng tôi thấy các công trình tập trung làm sáng tỏ một
số phương diện như: Cách thức tổ chức ngôn ngữ trong tiểu thuyết, các
phương tiện đặc trưng trong ngôn ngữ nghệ thuật, thành ngữ, đồng nghĩa
trong tiểu thuyết Số đỏ.
Đỗ Đức Hiểu, Những lớp sóng ngôn từ trong Số đỏ, Vũ Trọng Phụng
tài năng và sự thật, Nxb. Văn học, H., 1997, tr.117.
Nguyễn Hoài Thanh, Chất khẩu ngữ trong lời văn phóng sự của Vũ
Trọng Phụng, Bản sắc hiện đại trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, Nxb.
Văn học, H., 2003, tr.307.
Chim Văn Bé (2013), Ngôn ngữ văn chương Việt Nam, Trường Đại học
Cần Thơ .
Thái Thị Kiều Lan, Ngôn từ nhân vật trong số đỏ của Vũ Trọng
Phụng, Trường Đại học Cần Thơ 2014 ).
Tuy nhiên cho đến nay, theo sự tiếp cận của chúng tôi, chưa thấy có
công trình nào nghiên cứu tiếp theo về đặc điểm từ xưng hô qua lời thoại
nhân vật trong tác phẩm Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng.


Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu là Đặc điểm từ xưng hô qua lời
thoại nhân vật trong tác phẩm Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng.


6
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết áp dụng một số phương pháp, thủ
pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học.
- Trên cơ sở các tư liệu thu thập được, chúng tôi sử dụng các thủ pháp
thống kê, phân loại, hệ thống hóa các TXH trong tác phẩm Số đỏ thành các
nhóm, các tiểu hệ thống cho việc miêu tả, nhận xét và phân tích để từ đó miêu tả
đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của chúng qua lời thoại nhân vật.
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu cũng được sử dụng khi so sánh giá trị
ngữ nghĩa, ngữ dụng của các TXH trong tiếng Việt với các từ này trong tác
phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng .
6. Đóng góp mới của luận văn
Trong một chừng mực nhất định luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu
tương đối đầy đủ về đặc điểm của TXH qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm Số
đỏ theo hướng tiếp cận ngôn ngữ học. Luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ đặc điểm
TXH trong tiếng Việt thông qua việc sử dụng chúng trong lời thoại nhân vật ở
một tác phẩm cụ thể, ở một tác giả tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán.
Đồng thời, việc thực hiện đề tài này sẽ là một gợi dẫn bổ ích cho việc khai thác
giá trị của một tác phẩm văn học thông qua hệ thống TXH qua lời thoại nhân vật.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn gồm ba chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và những vấn đề liên quan đến đề tài.
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo và sử dụng từ xưng hô qua lời thoại nhân
vật trong tác phẩm Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng.

thiết cho việc dùng ngôn ngữ được bình thường trong quá trình hội thoại.
Có những câu hỏi, câu chào, câu gọi, câu cầu khiến, có những đại từ
như này, kia, ấy, nọ… mà sự quy chiếu của chúng liên quan đến người nói,
người nghe, ngữ cảnh, sự định hướng không gian.


8
Gần đây, Nguyễn Thiện Giáp [16; 219-221] cũng giải thích khá kĩ về
khái niệm này cũng như đặc điểm của hội thoại. Dưới đây là một số ý kiến cụ
thể của các nhà nghiên cứu về vấn đề này.
Theo Nguyễn Như Ý thì: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời, ở
dạng nói, giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và
liên cá nhân theo đích được đặt ra” [35;122].
Còn theo Đỗ Hữu Châu, “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường
xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động
ngôn ngữ khác” [4;20].
Và theo Nguyễn Đức Dân, “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói, bên
kia nghe và phản hồi trở lại. Lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi. Bên nghe lại
trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe. Đó là hội thoại. Hoạt động
giao tiếp phổ biến và căn bản nhất của con người là hội thoại…” [8;76].
Hay Nguyễn Thiện Giáp thì cho rằng: "Mỗi cuộc thoại đều diễn ra vào lúc
nào đó, ở đâu đó, trong hoàn cảnh nào đó. Nhân tố ngữ cảnh có vai trò to lớn
trong việc tạo lập và lĩnh hội các phát ngôn trong hội thoại". [16 ;219-220].
Như vậy, từ những ý kiến trên ta nhận thấy trong hội thoại bao giờ cũng
bao gồm các yếu tố: người nói, người nghe, nội dung trao đổi và ngữ cảnh.
1.1.2. Lời thoại nhân vật
Lời thoại nhân vật có thể là độc thoại, có thể là đối thoại.
Theo tác giả Lê Bá Hán, “Đối thoại là cuộc giao tiếp song phương mà
lời này xuất hiện như một phản ứng đáp lại lời nói của đối phương giao tiếp.
Lời đối thoại có sự tiếp xúc phi quan phương và không công khai, không bị

mình vào cuộc thoại, để người nghe biết rằng mình đang nói và chịu trách
nhiệm về lời nói của mình. Đây là hành động tự quy chiếu của người nói
(ngôi thứ nhất).
Hô là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người
nghe vào trong cuộc thoại. Hô được hiểu là tập hợp những biểu thức mà
người nói dùng để chỉ người đối thoại với mình.
Đặc điểm của xưng hô là phải có sự hiện diện của người nói và người
nghe. Có thể nói, trong bất kỳ một cuộc giao tiếp nào không thể thiếu được từ


10
xưng và từ hô. Ngay cả khi trong trường hợp vắng mặt (zezo), cũng có thể coi
là một sự có mặt không hiện hữu mang tới một ý nghĩa nhất định. Tuy nhiên,
do ngôn ngữ của một dân tộc phản ánh và thể hiện đặc điểm tư duy, văn học,
phong tục, truyền thống riêng của dân tộc đó, nên việc đánh giá về sự xuất
hiện hay không xuất hiện từ xưng hô cũng như cách xưng và hô là có khác
nhau. Đây cũng là một trong những lý do giải thích vì sao khi giao tiếp bằng
ngoại ngữ, người ta thường ít nhiều mang thói quen lối tư duy bản ngữ vào
việc sử dụng TXH trong câu, như dùng TXH vào trong những câu đáng lẽ
không cần dùng TXH và không dùng TXH trong những câu đúng ra là phải
dùng TXH. Ngay trong một dân tộc, giao tiếp bằng ngôn ngữ của một dân tộc
đó, ở mỗi giai đoạn lịch sử và ở các cộng đồng nói năng khác nhau do nhiều
lý do khác nhau mà cũng có cách xưng hô khác nhau và nhìn nhận khác nhau
về cách xưng hô.
Cần phân biệt xưng hô và xưng gọi. Nếu như xưng gọi là một phát ngôn
của người nói (thường chỉ là một lần trong hội thoại), hướng vào người nghe để
người nghe biết được người hô gọi muốn thực hiện cuộc hội thoại với anh ta thì
xưng hô là một hoạt động ngôn từ diễn ra thường xuyên liên tục trong cuộc
thoại, nó được diễn tiến qua ngôn ngữ của các nhân vật tham gia hội thoại.
Tuy nhiên, mỗi ngôn ngữ đều có hệ thống TXH và có cách dùng

Xưng hô là một hành vi ngôn ngữ và là một hành vi ở lời, bởi hành vi ở
lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng.
Hiện nay, nhiều nhà Việt ngữ đã dùng thuật ngữ từ xưng hô gồm nhiều
từ loại khác nhau để chỉ các từ, ngữ, các cấu trúc ngôn ngữ dùng để trỏ người
trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ ở dạng nói và viết. Với quan điểm này, hệ
thống TXH trong tiếng Việt được chia làm hai nhóm, gồm:
a) Nhóm TXH chuyên dụng (các ĐTNX).
b) Nhóm từ (ngữ) xưng hô không chuyên dụng (từ, ngữ thuộc các từ
loại khác nhau được lâm thời dùng để xưng hô).
Rõ ràng, khái niệm TXH có ngoại diên rộng hơn đại từ nhân xưng
(ĐTNX). Trong hệ thống TXH, ngoài các ĐTNX chuyên dụng còn có lớp
TXH lâm thời phong phú và đa dạng đáp ứng được nhu cầu giao tiếp của con


12
người và biểu hiện rõ nhiều nét đặc trưng trong văn hoá ứng xử của cộng
đồng dân tộc.
Các nhà Việt ngữ có những ý kiến khác nhau về phạm trù xưng hô.
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu thì: “Phạm trù xưng hô hay phạm trù ngôi
bao gồm những phương tiện chiếu vật, nhờ đó người nói tự quy chiếu, tức tự
đưa mình vào diễn ngôn (tự xưng) và đưa người giao tiếp với mình (đối
xứng) vào diễn ngôn. Như thế phạm trù ngôi thuộc quan hệ vai giao tiếp ngay
trong cuộc giao tiếp đang diễn ra với điểm gốc là lời nói”[4;73]. Còn
Nguyễn Văn Chiến lại quan niệm: “Hệ thống xưng hô là những từ được “rút
ra” từ trong hệ thống ngôn ngữ, dùng để xưng hô (biểu thị các phạm trù xưng
hô nhất định) giao tiếp xã hội.”[6;41]. Thế nhưng, Nguyễn Thị Trung Thành
thì lại coi: “Từ xưng hô là toàn bộ những đơn vị từ vựng được dùng để người
nói tự xưng, để gọi người giao tiếp với mình và để chỉ người thứ ba vắng mặt
trong cuộc giao tiếp. Còn đại từ xưng hô là một từ loại, hay chính xác hơn là
một bộ phận của từ loại đại từ được dùng để xưng hô” [32;3].

b) Xưng hô bằng chức danh, gồm:
4. Gọi bằng một trong các chức danh.
5. Gọi bằng nhiều hoặc tất cả các chức danh,
d) Xưng hô bằng họ và tên, gồm:
6. Xưng hô bằng tên.
7. Xưng hô bằng họ.
8. Xưng hô bằng tên đệm + tên.
9. Xưng hô bằng họ + tên.
10. Xưng hô bằng họ + tên đệm + tên.
e) Xưng hô bằng tên của những người thân thuộc như tên của chồng,
vợ, con (cách gọi thay).
11. Gọi bằng tên của người thân thuộc (chồng, vợ, con).
g) Xưng hô bằng sự kết hợp (6) (7) (8) (9)
12. Gọi bằng các kết hợp khác nhau (thí dụ chức danh + tên; chức danh +
họ tên; từ xưng hô + tên / họ tên...)
h) Xưng hô bằng sự khuyết vắng TXH:


14
13. Không xuất hiện TXH trong giao tiếp (khuyết vắng TXH).
Các mối quan hệ về xưng hô trong giao tiếp phụ thuộc vào từng bối
cảnh giao tiếp cụ thể. Qua khảo sát, các tác giả đều đưa ra một nhận định
chung là, giữa bạn bè với nhau thường gọi bằng tên, giữa người lạ hoặc chỉ
biết nhau thì gọi bằng chức danh hoặc họ. Tuy nhiên, ranh giới này không rõ
ràng. Chẳng hạn, trong giao tiếp chỉ cần tìm thấy một mối quan hệ nhỏ nào
đấy thì sau năm phút người ta có thể chuyển từ cách gọi chức danh, họ sang
gọi bằng tên. Người ít tuổi gọi người lớn tuổi hơn bằng chức danh, họ và
ngược lại, người lớn tuổi gọi người ít tuổi hơn bằng tên. Cũng vậy, người có
địa vị thấp gọi người có địa vị cao bằng chức danh, họ/tên và ngược lại người
có địa vị cao gọi người có địa vị thấp bằng tên. Nhưng khi tuổi tác, địa vị

Từ thân tộc là các từ chỉ những người trong gia đình, họ hàng thuộc các
thế hệ, lớp tuổi, thứ bậc tôn ti (riêng bốn từ: vợ, chồng, dâu, rể không dùng).
Đó là các từ: ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em, chú, bác, cô, dì, con, cháu… và cả
một số danh từ chỉ bạn bè hay ngôi thứ như: bạn, đồng chí, ngài, vị… được
dùng trong xưng hô. Khi trở thành TXH, các từ thân tộc đã biểu thị vị trí của
các nhân vật trong giao tiếp là người nói, người nghe hay người được nói tới.
Đó chính là phạm trù ngôi. Hơn nữa, từ thân tộc không chỉ nhằm biểu thị
phạm trù ngôi mà còn nhằm thông báo gián tiếp về tuổi tác, vị thế xã hội, tình
cảm…giữa các nhân vật tham gia giao tiếp.
1.3. Từ xưng hô trong tiếng Việt
1.3.1. Từ xưng hô chuyên dụng - đại từ nhân xưng
Trong tiếng Việt, khi nói đến các TXH người ta thường nhắc tới các
nhóm từ: ĐTNX: tôi, tao, mày, nó, hắn… và được gọi là các từ xưng hô
chuyên dụng (TXHCD) vì chức năng chính, chủ yếu là xưng hô; từ thân tộc
(TTT): cha, mẹ, ông,bà, anh, chị em…..; từ ngữ chỉ chức vụ, nghề nghiệp:
giáo sư, tiến sĩ, giám đốc, hiệu trưởng, bác sĩ… Các từ này được gọi là từ
xưng hô lâm thời.
Trong tiếng Việt, ĐTNX có thể được phân thành 3 loại (theo các ngôi
giao tiếp):
+ Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (chỉ người đang nói):


16
Số ít: tôi, tao, tớ, mình, ta…
Số nhiều: chúng tôi, chúng tao, chúng tớ…
+ Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (chỉ người đang giao tiếp cùng):
Số ít: mày…
Số nhiều: chúng mày,chúng ta…
+ Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba (chỉ những người không tham gia giao
tiếp nhưng được nhắc đến trong cuộc giao tiếp):

hoặc “ấy” với các từ chỉ quan hệ thân thuộc. Ví dụ: ông ta/ông ấy, bà ta/bà
ấy, chị ta/chị ấy. Đại từ hắn cũng có thể kết hợp với ta để tạo thêm đại từ
“hắn ta” ở ngôi thứ ba.
Các TXH trong tiếng Việt rất đa dạng và mang màu sắc biểu cảm.
Người nói cần sử dụng các TXH sao cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp,
mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp, đối tượng tham dự giao tiếp và các
mối quan hệ liên cá nhân. Do vậy, “Từ xưng hô không chỉ là công cụ để
người nói thực hiện cái việc không thể không làm là đưa mình và người đối
thoại với mình vào diễn ngôn, mà còn là công cụ để người nói tự mình câu
thúc (bó buộc) mình và câu thúc người trong một kiểu quan hệ liên cá nhân
nhất định” [4; 75].
1.4. Nhân vật và ngôn ngữ nhân vật trong hội thoại
1.4.1. Khái niệm nhân vật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong
tác phẩm văn học, là tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng của tác phẩm và
đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm
khắc họa” [ 17; 28].
Nhân vật trong văn học là một đơn vị nghệ thuật, mang tính ước lệ, qua
nhân vật nhà văn muốn phản ánh đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm của
mình. Chức năng của nhân vật là do nhà văn ngầm quy định. Đó có thể là
chức năng khái quát quy luật cuộc sống con người, những suy nghĩ, ước ao,
kì vọng của con người, cho nên nhà văn xây dựng nhân vật là để thể hiện
những cá nhân nhất định và quan niệm đánh giá về cá nhân đó. Đó cũng có
thể là chức năng khái quát tính cách số phận con người (tính cách nhân vật là



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status