đặc điểm từ xưng hô qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm tắt đèn - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

DƢƠNG HƢƠNG LAN
ĐẶC ĐIỂM TỪ XƯNG HÔ QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT
TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
ĐẶC ĐIỂM TỪ XƯNG HÔ QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT
TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS -TS. Đoàn Văn Phúc
Thái Nguyên - 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CẢM ƠN


Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI 7
1.1. Vấn đề hội thoại và lời thoại 7
1.1.1. Khái niệm hội thoại 7
1.1.2. Lời thoại nhân vật 8
1.2. Khái niệm xưng hô và từ xưng hô trong hội thoại 9
1.2.1. Khái niệm xưng hô và từ xưng hô 9
1.2.2. Sử dụng từ xưng hô trong hội thoại 12
1.3. Từ xưng hô trong tiếng Việt 15
1.3.1. Từ xưng hô chuyên dụng - đại từ nhân xưng 15
1.3.2. Từ xưng hô không chuyên dụng 16
1.4. Nhân vật và ngôn ngữ nhân vật trong hội thoại 17
1.4.1. Khái niệm nhân vật 17
1.4.2. Ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả 19
1.5. Vài nét về Ngô Tất Tố và tác phẩm Tắt đèn 20
1.5.1. Vài nét về Ngô Tất Tố 20
1.5.2. Về tác phẩm Tắt đèn 21
1.5.3. Tình hình nghiên cứu về Tắt đèn 22
1.6. Tiểu kết 23
Chƣơng 2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO, CÁCH SỬ DỤNG TỪ XƢNG HÔ
QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT TRONG TẮT ĐÈN 25
2.1. Các yếu tố chi phối cách sử dụng từ xưng hô 25


TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii

DANH MỤC VIẾT TẮT

TXHCD
:
Từ xưng hô chuyên dụng
ĐTCĐ
:
Đại từ chỉ định
TXH
:
Từ xưng hô
TTT
:
Từ thân tộc
ĐTNX
:
Đại từ nhân xưng

1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ông. Song, hầu hết các công trình đó mới chỉ đề cập đến những vấn đề như
cách đặt tiêu đề, ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ độc thoại, ngôn ngữ đôí
thoại… Việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ nói chung, đặc biệt việc nghiên cứu
về từ xưng hô qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố
đến nay dường như còn bỏ ngỏ.
Tiếp cận tiểu thuyết Tắt đèn để tìm hiểu đặc điểm TXH qua lời thoại
nhân vật nhằm góp thêm một tiếng nói khẳng định những cống hiến của Ngô
Tất Tố đối với nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Mặt khác, việc thực hiện đề
tài này sẽ là một gợi dẫn bổ ích cho việc khai thác giá trị của một tác phẩm
văn học thông qua hệ thống TXH trong lời thoại nhân vật.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn và tiến hành nghiên cứu
đề tài: Đặc điểm từ xưng hô qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm Tắt đèn.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Nghiên cứu về từ xưng hô tiếng Việt
Từ lâu, TXH đã trở thành lĩnh vực được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ
học quan tâm từ góc độ đại cương đến tiếng Việt, từ phương diện miêu tả đến
đối chiếu lẫn dụng học. Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
TXH. Các tác giả đi theo ba hướng nghiên cứu:
- Bàn về TXH ở góc độ lý luận chung.
- Bàn về TXH được sử dụng trong phạm vi gia đình và xã hội.
- TXH được nghiên cứu từ góc độ đối chiếu.
Về hướng thư nhất có thể kể đến công trình nghiên cứu Grammaire de
la lenggua annamite, Trương Vĩnh Kí đã dành 30 trang để nói về đại từ, trong
đó là đại từ nhân xưng. Theo Nguyễn Phú Phong (1996) thì “cho đến nay,
người đã cung cấp một bảng đại danh từ nhân xưng sớm nhất và đầy đủ nhất
… là Trương Vĩnh Ký”.
Trong công trình Studies in Vietnamese Grammar (Ngữ pháp tiếng
Việt, 1951), tác giả M.B. Emeneau đã dành nhiều trang viết về đại từ. Ông tập

4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2.2. Về việc nghiên cứu tác phẩm Tắt đèn
Nhắc đến Ngô Tất Tố, người ta không thể không nhớ đến những tác
phẩm trong dòng văn học hiện thực phê phán, trong đó nổi bật là tác phẩm
Tắt đèn. Ngay từ khi ra đời, tác phẩm đã trở thành tài liệu nghiên cứu cho giới
nghiên cứu phê bình. Trong số những công trình đó là sự nghiên cứu về bình
diện văn học và bình diện ngôn ngữ.
Nhìn lại lịch sử nghiên cứu tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, chúng
tôi thấy các công trình tập trung làm sáng tỏ một số phương diện như: Cách
thức tổ chức ngôn ngữ trong tiểu thuyết, các phương tiện đặc trưng trong
ngôn ngữ nghệ thuật, thành ngữ, đồng nghĩa trong tiểu thuyết Tắt đèn Đó là
các công trình của Lê Thị Hoàn (2005), Nguyễn Thị Huệ (2010), Nguyễn Thị
Nguyệt (2008)
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích
Đề tài “Đặc điểm từ xưng hô qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm Tắt
đèn” nhằm tìm hiểu về đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm thông qua
việc sử dụng các TXH (bao gồm ĐTNX và lớp TXH) cũng như đặc điểm ngữ
nghĩa, ngữ dụng của chúng trong các hoàn cảnh giao tiếp. Chính điều này đã
làm nên giá trị nghệ thuật khi Ngô Tất Tố xây dựng các hình tượng nhân vật
trong tác phẩm của mình. Đồng thời, luận văn sẽ so sánh và chỉ ra những
tương đồng và khác biệt qua cách sử dụng TXH trong tác phẩm Tắt đèn của
Ngô Tất Tố để tạo nên hình ảnh một "người đàn bà lực điền" dám phản kháng
và chống lại một tầng lớp quan lại nông thôn của xã hội phong kiến Việt Nam
trước cách mạng với cách xưng hô của nhân vật trong tác phẩm của Nam Cao
để xây dựng nên được những nhân vật "anh Chí", "cụ Bá"
3.2. Nhiệm vụ

vật. Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các thủ pháp thống kê, tâm lý, văn
hóa để lý giải các từ này trên bình diện văn hóa.
- Phương pháp so sánh cũng được sử dụng khi so sánh giá trị ngữ nghĩa,
ngữ dụng của các TXH trong tiếng Việt với các từ này trong tác phẩm Tắt đèn
6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

của Ngô Tất Tố hay so sánh các TXH trong tác phẩm Tắt đèn với các truyện
ngắn của Nam Cao.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện, đề tài còn áp dụng một số phương
pháp nghiên cứu của các ngành khoa học khác: Phương pháp quy nạp, diễn
dịch vốn là những phương pháp của tư duy lôgíc cũng được áp dụng.
6. Đóng góp mới của luận văn
Lần đầu tiên có một đề tài nghiên cứu tương đối đầy đủ về đặc điểm
của TXH qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm Tắt đèn theo hướng tiếp cận
ngôn ngữ học. Luận văn góp phần làm sáng tỏ đặc điểm TXH trong tiếng Việt
thông qua việc sử dụng chúng trong lời thoại nhân vật ở một tác phẩm cụ thể,
ở một tác giả tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán. Đồng thời, việc
thực hiện đề tài này sẽ là một gợi dẫn bổ ích cho việc khai thác giá trị của một
tác phẩm văn học thông qua hệ thống TXH qua lời thoại nhân vật.
Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể được sử dụng để biên
soạn các tài liệu phục vụ cho việc dạy học tiếng Việt, về đặc điểm TXH trong
tác phẩm văn học nói riêng, cũng như việc dạy-học tác phẩm văn chương
trong trường phổ thông nói chung.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồm ba chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và những vấn đề liên quan đến đề tài.
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo, cách sử dụng từ xưng hô qua lời thoại

2. Về quan hệ giữa những người tham dự.
3. Về chu cảnh của những cuộc thoại (thời gian và không gian)
Tác giả cũng đưa ra những lưu ý về không gian hội thoại: sự có mặt của
người đối thoại có tầm quan trọng đáng kể trong hội thoại. Theo quan điểm
ngữ dụng, sự có mặt hiện thực hoặc tưởng tượng cuả người đối thoại là yếu tố
cần thiết cho việc dùng ngôn ngữ được bình thường trong quá trình hội thoại.
8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Có những câu hỏi, câu chào, câu gọi, câu cầu khiến, có những đại từ như này,
kia, ấy, nọ… mà sự quy chiếu của chúng liên quan đến người nói, người nghe,
ngữ cảnh, sự định hướng không gian.
Gần đây, Nguyễn Thiện Giáp [16; 219-221] cũng giải thích khá kĩ về
khái niệm này cũng như đặc điểm của hội thoại. Dưới đây là một vài ý kiến cụ
thể của các nhà nghiên cứu về vấn đề này.
Theo Nguyễn Như Ý thì: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời, ở
dạng nói, giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và
liên cá nhân theo đích được đặt ra.” [40;122]
Còn theo Đỗ Hữu Châu, “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường
xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động
ngôn ngữ khác.” [4;20]
Còn Nguyễn Đức Dân, “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói, bên kia
nghe và phản hồi trở lại. Lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi. Bên nghe lại
trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe. Đó là hội thoại. Hoạt động
giao tiếp phổ biến và căn bản nhất của con người là hội thoại…” [8;76].
Hay Nguyễn Thiện Giáp thì cho rằng "mỗi cuộc thoại đều diễn ra vào lúc
nào đó, ở đâu đó, trong hoàn cảnh nào đó. Nhân tố ngữ cảnh có vai trò to lớn
trong việc tạo lập và lĩnh hội các phát ngôn trong hội thoại". [16 ;219-220].
1.1.2. Lời thoại nhân vật

cả các cộng đồng người. Theo Từ điển tiếng Việt [Hoàng Phê, 1997] thì xưng
hô là ''tự xưng mình và gọi người khác là gì đó khi nói với nhau để biểu thị
tính chất của mối quan hệ với nhau''. Xưng hô là một bộ phận của lời nói. Nó
được biểu thị qua giao tiếp giữa con người với con người trong xã hội.
Xưng là một hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa
mình vào cuộc thoại, để người nghe biết rằng mình đang nói và chịu trách nhiệm
về lời nói của mình. Đây là hành động tự quy chiếu của người nói (ngôi 1).
Hô là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người
nghe vào trong cuộc thoại. Hô được hiểu là tập hợp những biểu thức mà
người nói dùng để chỉ người đối thoại với mình.
10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Đặc điểm của xưng hô là phải có sự hiện diện của người nói và người
nghe. Có thể nói, trong bất kỳ một cuộc giao tiếp nào không thể thiếu được từ
xưng và từ hô. Ngay cả khi trong trường hợp vắng mặt (zezo), cũng có thể coi
là một sự có mặt không hiện hữu mang tới một ý nghĩa nhất định. Tuy nhiên,
do ngôn ngữ của một dân tộc phản ánh và thể hiện đặc điểm tư duy, văn học,
phong tục, truyền thống riêng của dân tộc đó, nên việc đánh giá về sự xuất
hiện hay không xuất hiện từ xưng hô cũng như cách xưng và hô là có khác
nhau. Đây cũng là một trong những lý do giải thích vì sao khi giao tiếp bằng
ngoại ngữ, người ta thường ít nhiều mang thói quen lối tư duy bản ngữ vào
việc sử dụng TXH trong câu, như dùng TXH vào trong những câu (đáng lẽ
không cần dùng TXH) và không dùng TXH trong những câu (đúng là phải
dùng TXH). Ngay trong một dân tộc, giao tiếp bằng ngôn ngữ của một dân
tộc đó, ở mỗi giai đoạn lịch sử và ở các cộng đồng nói năng khác nhau do
nhiều lý do khác nhau mà cũng có cách xưng hô khác nhau và nhìn nhận khác
nhau về cách xưng hô.
Cần phân biệt xưng hô và xưng gọi. Nếu như xưng gọi là một phát ngôn

dụng theo thang độ quyền thế, kết liên, lịch sự ở cả trong ''xưng'' lẫn ''gọi''.
Vì thế, thông qua cách sử dụng từ xưng hô có thể thấy được thái độ, quan
điểm của các thành viên tham gia giao tiếp. Trong giao tiếp có rất nhiều yếu
tố tác động đến sự lựa chọn từ ngữ xưng hô. Và, ngay trong mối quan hệ giữa
''xưng'' và ''hô'' cũng hình thành nên hai mối quan hệ: mối quan hệ tương hỗ
và mối quan hệ phi tương hỗ.
Xưng hô là một hành vi ngôn ngữ và là một hành vi ở lời bởi hành vi ở
lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng.
Hiện nay nhiều nhà Việt ngữ đã dùng thuật ngữ Từ xưng hô gồm nhiều
từ loại khác nhau để chỉ các từ, ngữ, các cấu trúc ngôn ngữ dùng để trỏ người
trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ ở dạng nói và viết. Với quan điểm này, hệ
thống TXH trong tiếng Việt được chia làm hai nhóm, gồm:
12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

a) Nhóm TXH chuyên dụng (các ĐTNX).
b) Nhóm từ (ngữ) xưng hô không chuyên dụng (từ, ngữ thuộc các từ
loại khác nhau được lâm thời dùng để xưng hô).
Rõ ràng, khái niệm TXH có ngoại diên rộng hơn ĐTNX. Trong hệ
thống TXH, ngoài các ĐTNX chuyên dụng còn có lớp TXH lâm thời phong
phú và đa dạng đáp ứng được nhu cầu giao tiếp của con người và biểu hiện rõ
nhiều nét đặc trưng trong văn hoá ứng xử của cộng đồng dân tộc.
Các nhà Việt ngữ có những ý kiến khác nhau về phạm trù xưng hô.
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu thì: “Phạm trù xưng hô hay phạm trù ngôi
bao gồm những phương tiện chiếu vật, nhờ đó người nói tự quy chiếu, tức tự
đưa mình vào diễn ngôn (tự xưng) và đưa người giao tiếp với mình (đối
xứng) vào diễn ngôn. Như thế phạm trù ngôi thuộc quan hệ vai giao tiếp ngay
trong cuộc giao tiếp đang diễn ra với điểm gốc là lời nói.”[4;73]. Còn
Nguyễn Văn Chiến lại quan niệm “Hệ thống xưng hô là những từ được “rút

tiếp như sau:
a) Xưng hô bằng các từ dùng để xưng hô, gồm:
1. Các từ là ĐTNX.
2. Các từ thân tộc (TTT) dùng làm TXH.
3. Các từ khác được dùng làm TXH.
b) Xưng hô bằng chức danh, gồm:
4. Gọi bằng một trong các chức danh.
5. Gọi bằng nhiều hoặc tất cả các chức danh,
d) Xưng hô bằng họ và tên, gồm:
6. Xưng hô bằng tên.
7. Xưng hô bằng họ.
8. Xưng hô bằng tên đệm + tên.
9. Xưng hô bằng họ + tên.
10. Xưng hô bằng họ + tên đệm + tên.
e) Xưng hô bằng tên của những người thân thuộc như tên của chồng,
vợ, con (cách gọi thay).
14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11. Gọi bằng tên của người thân thuộc (chồng, vợ, con).
g) Xưng hô bằng sự kết hợp (6) (7) (8) (9)
12. Gọi bằng các kết hợp khác nhau (thí dụ chức danh + tên; chức
danh + họ tên; từ xưng hô + tên / họ tên )
h) Xưng hô bằng sự khuyết vắng TXH:
13. Không xuất hiện TXH trong giao tiếp (khuyết vắng TXH).
Các mối quan hệ về xưng hô trong giao tiếp phụ thuộc vào từng bối
cảnh giao tiếp cụ thể. Qua khảo sát, các tác giả đưa ra một nhận định chung
là, giữa bạn bè với nhau thường gọi bằng tên, giữa người lạ hoặc chỉ biết nhau
thì gọi bằng chức danh hoặc họ. Tuy nhiên, ranh giới này không rõ ràng.

chủ yếu mang sắc thái không lịch sự. Mặt khác, trong giao tiếp, xưng hô
thường thể hiện ở hai phạm vi: Xưng hô trong gia tộc và xưng hô ngoài xã
hội. Hơn nữa, điểm đặc biệt trong giao tiếp của người Việt là quan hệ giữa
người và người trong gia tộc chuyển thành quan hệ giữa người với người theo
chuẩn mực xã hội, chuẩn mực xã hội chi phối việc lựa chọn từ ngữ xưng hô
của các cá nhân trong giao tiếp.
Từ thân tộc là các từ chỉ những người trong gia đình, họ hàng thuộc các
thế hệ, lớp tuổi, thứ bậc tôn ti (riêng bốn từ: vợ, chồng, dâu, rể không dùng).
Đó là các từ: Ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em, chú, bác, cô, dì, con, cháu… và
cả một số danh từ chỉ bạn bè hay ngôi thứ như: Bạn, đồng chí, ngài, vị…
được dùng trong xưng hô. Khi trở thành TXH, các từ thân tộc đã biểu thị vị trí
của các nhân vật trong giao tiếp là người nói, người nghe hay người được nói
tới. Đó chính là phạm trù ngôi. Hơn nữa, từ thân tộc không chỉ nhằm biểu thị
phạm trù ngôi mà còn nhằm thông báo gián tiếp về tuổi tác, vị thế xã hội, tình
cảm…giữa các nhân vật tham gia giao tiếp. Các phương tiện xưng hô trong
tiếng Việt.
1.3. Từ xƣng hô trong tiếng Việt
1.3.1. Từ xưng hô chuyên dụng - đại từ nhân xưng
Trong tiếng Việt, khi nói đến các TXH người ta thường nhắc tới các
nhóm từ: ĐTNX: tôi, tao, mày, nó, hắn… và được gọi là các từ xưng hô
16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

chuyên dụng (TXHCD) vì chức năng chính, chủ yếu là xưng hô; TTT: cha,
mẹ, ông,bà, anh, chị em… ; từ ngữ chỉ chức vụ, nghề nghiệp: giáo sư, tiến sĩ,
giám đốc, bác sĩ… Các từ này được gọi là từ xưng hô lâm thời.
Trong tiếng Việt, ĐTNX có thể được phân thành 3 loại (theo các ngôi
giao tiếp):
+ Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (chỉ người đang nói):

đồng chí, ngài, vị, và những từ ngữ chỉ chức vụ, nghề nghiệp, học hàm, học
vị, như giám đốc, thủ trưởng, bộ trưởng, thủ tướng, thày giáo, cô giáo, bác sĩ,
giáo sư, tiến sĩ, cũng được dùng làm đại từ chỉ ngôi (ngôi thứ hai).
Một số danh từ chỉ tên riêng của các nhân vật tham gia giao tiếp: Huệ,
Hồng, Hoa, Thơm, Nghi… Nhiều trường hợp các tên riêng của các nhân vật
được dùng kết hợp với các danh từ thân tộc, danh từ chỉ nghề nghiệp: em
Hoa, anh Nghi, bác sĩ Thơm…
ĐTNX ở ngôi thứ ba số ít có thể được tạo ra bằng cách kết hợp từ “ta”
hoặc “ấy” với các từ chỉ quan hệ thân thuộc. Ví dụ: ông ta/ông ấy, bà ta/bà
ấy, chị ta/chị ấy. Đại từ hắn cũng có thể kết hợp với ta để tạo thêm đại từ “hắn
ta” ở ngôi thứ ba.
Các TXH trong tiếng Việt rất đa dạng và mang màu sắc biểu cảm.
Người nói cần sử dụng các TXH sao cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp,
mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp, đối tượng tham dự giao tiếp và các mối
quan hệ liên cá nhân. Do vậy, “Từ xưng hô không chỉ là công cụ để người nói
thực hiện cái việc không thể không làm là đưa mình và người đối thoại với mình
vào diễn ngôn, mà còn là công cụ để người nói tự mình câu thúc (bó buộc) mình
và câu thúc người trong một kiểu quan hệ liên cá nhân nhất định” [4; 75].
1.4. Nhân vật và ngôn ngữ nhân vật trong hội thoại
1.4.1. Khái niệm nhân vật
Theo từ điển thuật ngữ văn học: Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác
phẩm văn học, là tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng của tác phẩm và đến lượt
mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm khắc họa.
18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, mang tính ước lệ, qua nhân
vật nhà văn muốn phản ánh đời sống. Chức năng của nhân vật là do nhà văn
ngầm quy định. Đó có thể là chức năng khái quát quy luật cuộc sống con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status