Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao đồng bằng sông cửu long - Pdf 28

MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục 1
MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4. Đối tượng và pham vi nghiên cứu 7
5. Phương pháp nghiên cứu 7
6. Bố cục của khóa luận 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
1.1.Về ca dao và ca dao đồng bằng sông Cửu Long 8
1.1.1 Khái niệm ca dao 8
1.1.2 Ca dao đồng bằng sông Cửu Long 9
1.1.2.1 Vài nét về vùng đất và con người đồng bằng sông Cửu Long 9
1.1.2.2 Vài nét về hình thức và nội dung ca dao đồng bằng sông Cửu Long 14
1.2.Lý thuyết hội thoại trong mối quan hệ với ca dao đồng bằng sông Cửu
Long 16
1.2.1 Về lý thuyết hội thoại 16
1.2.1.1 Khái niệm hội thoại 16
1.2.1.2 Các hình thức hội thoại 17
1.2.2 Lý thuyết hội thoại trong mối quan hệ với ca dao Đồng bằng sông
Cửu Long 18
1.2.2.1 Các dạng hội thoại trong ca dao đồng bằng sông Cửu Long 18
1.2.2.2 Nhân vật hội thoại trong ca dao đồng bằng sông Cửu Long 19
1.3.Lý thuyết hành động ngôn ngữ trong mối quan hệ với ca dao Đồng
bằng sông Cửu Long 21
1.3.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ 21

2.2.2.2 Tỏ tình 61
2.2.2.3 Giải bày tâm trạng………………………………………………….63
2
CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG CỦA CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG QUA CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ 67
3.1 Đặc trưng của ca dao đồng bằng sông Cửu Long qua các hành động
ngôn ngữ 67
3.1.1. Từ xưng hô 67
3.1.1. Dùng các biểu tượng 77
3.2. Dấu ấn văn hóa qua ca dao đồng bằng sông Cửu Long 81
3.2.1 Văn hóa ứng xử 81
3.2.2 Văn hóa tâm linh 86
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là tiếng nói tâm tình của người bình
dân, là nơi bộc lộ những tư tưởng tình cảm, những nỗi nhớ thương, là tiếng hát yêu
thương tình nghĩa, là niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai của nhân nhân lao động
thời xưa. Nói đến ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là nói đến cái sâu lắng với
muôn nghìn cung bậc tình cảm của con người. Chính vì vậy mà từ xưa đến nay ca
dao luôn có sức hấp dẫn đối với giới nghiên cứu.
1.2. Khi bàn về ca dao Đồng bằng sông Cửu Long vì những nguyên nhân chủ
quan và khách quan mà người ta thường quan tâm đến đối tượng này từ góc độ văn
học. Cánh cửa ngôn ngữ học, đặc biệt là phân môn Ngữ dụng học vẫn còn là một lối
đi khá mới mẻ và hấp dẫn những ai quan tâm đến loại hình nghệ thuật truyền thống
đặc sắc này.
1.3. Vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học để nghiên cứu văn học dân gian nói

nếp sống, nếp nghĩ. Vì vậy ca dao Đồng bằng sông Cửu Long cũng có những nét
tương đồng với ca dao Nam Bộ. Ca dao là tiếng nói của người bình dân, để bộc lộ
tình cảm, cảm xúc.
Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận tạo nên sự đa dạng của ca
dao Nam Bộ. Do đó, việc nghiên cứu ca dao Đồng bằng sông Cửu Long ở nhiều
phương diện khác nhau cũng là một vấn đề có ý nghĩa. Bởi thế, mà trong thời gian
gần đây có những bài viết về vùng Đồng bằng sông Cửu Long, để tìm hiểu con
người vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Và để hiểu được con người Đồng bằng
sông Cửu Long như thế nào, thì không thể thiếu việc tìm hiểu ca dao Đồng bằng
sông Cửu Long.
Trong “Kỷ yếu Hội nghị khoa học năm 1999”, tác giả Bùi Thị Tâm đã có bài
nghiên cứu “Đặc điểm ngôn ngữ của ca dao Đồng bằng sông Cửu Long”, tác giả
cho rằng: “Trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long, các yếu tố ngôn ngữ mang
đậm sắc thái địa phương… đã góp phần giúp ta hiểu thêm về cá tính, về tâm hồn
của những con người ở vùng đất cực nam Tổ Quốc. Ngôn ngữ ca dao Đồng bằng
sông Cửu Long còn là sự bổ sung và làm cho ngôn ngữ chung của dân tộc trở nên
giàu có, phong phú hơn”. Tác giả còn khẳng định: Nghiên cứu ca dao Đồng bằng
5
sông Cửu Long ở gốc độ ngôn ngữ, chúng ta có điều kiện hiểu sâu sắc hơn về vẻ
đẹp độc đáo, đặc sắc của nó. Những vẻ đẹp đó của ca dao Đồng bằng sông Cửu
Long sẽ góp phần làm phong phú, đa dạng hơn vẻ đẹp của ca dao dân tộc cũng như
vẻ đẹp trong đời sống tinh thần của nhân dân Đồng bằng sông Cửu Long .
Có thể nói trong phạm vi những tư liệu nói trên, các tác giả đều có những nhận
xét tinh tế về ca dao Nam Bộ nói chung và ca dao Đồng bằng sông Cửu Long nói
riêng. Đó là những gợi ý quan trọng cho việc nghiên cứu về ca dao Đồng bằng sông
Cửu Long nói chung và ca dao hội thoại trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long
nói riêng. Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Các hành động ngôn ngữ qua lời
hội thoại nhân vật trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích

- So sánh
- Nghiên cứu liên ngành
6. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận
gồm ba chương:
- Chương 1: Những tiền đề lý thuyết liên quan đến đề tài
- Chương 2: Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao
Đồng bằng sông Cửu Long
- Chương 3: Đặc trưng của ca dao Đồng bằng sông Cửu Long qua các hành
động ngôn ngữ.
7
CHƯƠNG 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Về ca dao và ca dao Đồng bằng sông Cửu Long
1.1.1 Khái niệm ca dao
Ca dao là một thuật ngữ Hán – Việt. Từ trước đến nay khái niệm ca dao đã
được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu.Có thể kể đến các tác giả như: Phạm
Thu Yến, Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Xuân Kính, Dương Quảng Hàm…
Tác giả Phạm Thu Yến trong “Giáo trình văn học dân gian Việt Nam” định
nghĩa: “Ca dao là bài hát có chương khúc hoặc có âm nhạc kèm theo còn ca dao là
bài hát ngắn không có chương khúc” [35, tr.157]. Như vậy, chỉ có khái niệm ca và
dao chứ chưa đưa ra một khái niệm ca dao rõ ràng.
Tác giả Hoàng Tiến Tựu viết: “Ca dao là bộ phận quan trọng và tiêu biểu
nhất của thơ dân gian truyền thống, có phong cách riêng, được hình thành và phát
triển trên cơ sở của thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các loại dân ca trữ tình
truyền thống” [29, tr.66 – 67].
Tác giả Nguyễn Xuân Kính lại cho rằng: “Ca dao là thơ dân gian, có nội
dung trữ tình và trào phúng, bao gồm hàng loạt những bài thơ. Người ta có thể hát,
ngâm, đọc (và cả xem bằng mắt sau khi ca dao đã được ghi chép lại)” [19, tr. 60].
Theo Dương Quảng Hàm trong “Ca dao là những bài hát ngắn lưu hành

bao gồm 12 tỉnh.
Đây là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông. Hai mặt giáp biển: phía tây nam
giáp với vịnh Thái Lan, đông nam là biển Đông. Phía tây bắc giáp với Campuchia,
phía đông bắc giáp với miền Đông Nam Bộ. Có thể coi sông Vàm Cỏ Đông là ranh
giới ở phía này.
Vùng nằm trong những bắc vĩ tuyến thấp nên nhiệt độ và độ ẩm cao. Chế độ
gió mùa đều đặn, có thể chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa
khoảng từ tháng 5 đến tháng 10 tương ứng với mùa mưa là mùa nước nổi. Mùa khô
tương ứng với mùa nắng, có gió mùa đông bắc thổi vào (gió bấc).
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng châu thổ màu mỡ với nhiều cửa sông tạo
nên hệ thống kênh rạch chằng chịt. Chính vì lẽ đó đã tạo nên một vùng đất trù phú
với biết bao huyền thoại thời mở đất.
Tiến trình lịch sử của Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng tức đồng
bằng sông Cửu Long khác với những vùng đất khác. Nó không phát triển liên tục
mà bị đứt quãng. Điển hình là trên vùng đất này đã từng có vương quốc Phù Nam
9
cổ xưa với nền văn hóa Óc Eo một thời phát triển rực rỡ. Người Việt di dân vào
Nam có thể nói bắt đầu từ khi cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn nổ ra và sau đó là
cuộc di dân thật sự thời kì nhà Nguyễn đầu thế kỉ XVIII khi nhà Nguyễn nắm được
chính quyền Đàng Trong và kêu gọi những người dân đi khai khẩn đất hoang.
Trong mấy trăm năm nay định hình và phát triển, Nam Bộ nói chung, Đồng bằng
sông Cửu Long nói riêng đã tạo nên cho mình những giá trị văn hóa vật chất và tinh
thần vô cùng phong phú, độc đáo và một bản sắc văn hóa riêng so với các vùng,
miền khác.
Theo kết quả khai quật của khảo cổ học và kết quả khảo sát của địa lý học đều
cho thấy ít ra cách ngày nay khoảng 4000 năm đến 5000 năm, phần lớn Đồng bằng
sông Cửu Long vẫn còn chìm dưới nước. Mãi đến thế kỉ V trước Công Nguyên
vùng đồng bằng sông Cửu Long mới nổi trên mực nước biển. Cũng tại thời điểm
đó, vùng Đông Nam Bộ và các cồn cát duyên hải đã có lớp người Việt đầu tiên sinh
sống và khai phá. Nhìn chung, Tây Nam Bộ được khai phá muộn hơn Đông Nam

mục đích kinh tế, văn hóa, quốc phòng. Địa hình sông nước đã làm cho nơi đây giàu
có và phong phú về các loại thủy hải sản. Ở đồng bằng sông Cửu Long có hàng
ngàn loài cá, hàng trăm loài tôm và nhiều loại cua, ốc khác. Tây Nam Bộ là nơi có
nhiều “trái thơm quả ngọt”:
Xoài chua, cam ngọt Ba Lai
Bắp thì chợ giữa, giồng khoai Mỹ Hòa.
Tây Nam Bộ còn là nơi cung cấp gỗ quý, môi trường sinh thái tốt cho thú
rừng, chim chóc, ong mật, cá… sinh sống như rừng Tràm Tháp Mười, rừng đước U
Minh.
Nếu như nhớ đến cảnh hoang vu, rừng rậm u minh nguy hiểm đang chực chờ
khi con người bắt tay vào khai khẩn đất hoang. Những lớp người đầu tiên của vùng
Châu thổ này không thể nào quên những khó khăn, nỗi ghê sợ mà nơi này có.
Ngày nay, đồng bằng sông Cửu Long không còn là vùng đất ghê rợn và bí
hiểm. Trãi qua hơn ba thế kỉ, với quá trình lao động miệt mài, cần mẫn, con người
đã chinh phục được thiên nhiên, làm cho thiên nhiên phục vụ lợi ích của mình.
Song, đất nuôi người thì người cũng nuôi đất, Đồng bằng sông Cửu Long là vùng
đất hứa hẹn của bao thế hệ mai sau:
11
Ai về Cao lãnh thì về,
Nước trong gạo trắng dễ bề làm ăn.
Hay:
An Giang cảnh trí mĩ miều,
Ta thương, ta nhớ, ta liều, ta đi.
Như vậy,vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long chính thức được hình thành
trong khoảng 300 năm, mảnh đất này được hiện lên với vẻ hoang sơ, bí ẩn nhưng
cởi mở rất dễ chịu. Những nét độc đáo về địa hình sông nước và văn hóa nơi đây đã
tạo nên một Tây Nam Bộ với dáng vẻ riêng, độc đáo, sức sống mãnh liệt.
b.Vài nét về con người đồng bằng sông Cửu Long
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất mới (vùng đất này chỉ thực sự
được khai phá bắt đầu vào thế kỉ XVII – XVIII, nơi đây tập trung 4 tộc người sinh

Làm người thế ấy cũng phi anh hùng
Tính trung thực, bộc trực, dễ tin cũng là tính cách khá đặc biệt của người Tây
Nam Bộ.
Nhà văn Nguyễn Văn Bổng đã nhận xét tính cách người Nam Bộ như sau:
“Đất nước ta càng về phương Nam, càng là đất mới, đất lưu đày, đất của những
người không có quyền sống, trên những mảnh đất đã được khai phá. Vì vậy, càng là
đất của những người nổi dậy…Con người đến đây là con người liều, con người
ngang tàng, nghĩa khí, tính mạng coi nhẹ tựa lông hồng, tiền tài coi khinh như cơm
rác… Họ vồ vập, hiếu khách vì cuộc đời họ đã buồn lắm rồi. Họ chỉ còn tình nghĩa
là đậm đà với nhau. Họ sẵn sàng nhường cơm sẻ áo vì họ đã từng biết cái cực, cái
nhục của đói khổ thế nào. Và hơn hết, họ rất căm thù. Đừng đụng đến họ…” [31; tr
357 – 358].
Hơn ba thế kỉ trôi qua, con người Nam Bộ nói chung, Tây Nam Bộ nói riêng
ngày càng gắn bó với “vùng đất mới” này hơn. Họ không chỉ đã sống mà đáng quý
hơn là họ còn sống rất đẹp. Ba trăm năm, thời gian ấy không phải dài, nhưng những
“mảnh đời lưu lạc” và sáng tạo ra nền văn hóa độc đáo và đẹp đẽ.
1.1.2.2.Vài nét về hình thức và nội dung ca dao Đồng bằng sông Cửu Long
a. Về hình thức ca dao đồng bằng sông Cửu Long.
Có thể nói trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long hình thức đặc trưng nhất
là sử dụng thể thơ lục bát. Lục bát gồm thể chính thức và thể biến thức. Thể chính
thức được hiểu thành nhiều câu ca dao có khuôn hình cơ bản bao gồm một dòng sáu
13
tiếng và một dòng tám tiếng, tức là cứ lần lượt một câu sáu tiếng tiếp đến một câu
tám tiếng, hai câu tạo nên một cặp vì thế gọi là lục bát. Còn biến thể được hiểu là
những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng có sự thay đổi về số tiếng của các
dòng thơ. Có thể là dòng lục thay đổi, dòng bát giữ nguyên hoặc dòng lục giữ
nguyên, dòng bát thay đổi.
Trong ca dao trữ tình phần lớn là các bài ca dao có thể chính thức, rất ít những
bài ca dao có thể biến thức.
Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long có hình thức sử dụng thơ lục bát rất nhiều:

Long là tình yêu đôi lứa. Nhân vật trữ tình chủ yếu trong ca dao là chàng trai và cô
gái. Hãy nghe lời tỏ tình của một chàng trai Tây Nam Bộ:
Cây bên rừng hóa kiểng
Cá dưới nước hóa long
Anh đi lục tỉnh giáp vòng,
Tới đây trời định đem lòng thương em
[tr.359]
Sông cách sông, thủy cách thủy
Anh thương em, anh xe sợi chỉ, anh bắc cây cầu
Để em qua lại giải sầu với anh
[tr.451]
Hay đó là nỗi nhớ mong:
Đêm nằm lưng chẳng bén giường,
Trong cho trời sáng, ra đường gặp anh.
[tr. 384]
Có khi đó là sự trách móc:
Ai làm cho dạ em buồn
Chim sa, cá lặn, chuồn chuồn lụy theo.
[tr. 326]
Khi hẹn thề:
“Đứng giữa trời chắng dám nói gian
Dẫu nghèo cũng đợi dẫu sang cũng chờ”
[tr.391]
15
Bên cạnh đề tài tình yêu đôi lứa trong ca dao đồng bằng sông Cửu Long về
hạnh phúc gia đình.
1.2. Lý thuyết hội thoại trong mối quan hệ với ca dao đồng bằng sông
Cửu Long
1.2.1 Về lý thuyết hội thoại
1.2.1.1 Khái niệm hội thoại

hoạt động cơ bản, điển hình nhất của hội thoại.
-Đa thoại: là dạng tồn tại của hoạt động hội thoại có nhiều người tham gia
giao tiếp.
1.2.2. Lý thuyết hội thoại trong mối quan hệ với ca dao đồng bằng sông Cửu
Long
Lâu nay khi bàn về hội thoại, người ta thường chú ý đến việc khảo sát lời
thoại trong giao tiếp hằng ngày, hoặc nếu có khảo sát trong tác phẩm văn học, thì
chỉ chú ý đến văn xuôi còn trong thơ ca thì gần như rất ít. Đề tài của chúng tôi
hướng đến một đối tượng khá mới mẻ: hội thoại trong ca dao Đồng bằng sông Cửu
Long.
1.2.2.1. Các dạng hội thoại trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long
Như chúng ta đã nói ở phần 1.2.1.1 (khái niệm hội thoại), hội thoại tồn tại
dưới ba dạng: Đơn thoại, song thoại và đa thoại. Qua khảo sát chúng ta thấy ca dao
Đồng bằng sông Cửu Long tồn tại hai dạng thoại: Đơn thoại và song thoại.
- Song thoại: là dạng lời thoại chủ yếu ở nhân vật phát ra nhằm hướng đến
người nghe và được người nghe đáp trả trực tiếp.
- Đơn thoại: (độc thoại trong màu sắc đối thoại) Đơn thoại là dạng lời thoại
của nhân vật phát ra nhằm hướng đến người nghe nhưng không có lời đáp trực tiếp.
Đây là dạng đặc biệt của song thoại, là hình thức vật tự lưỡng phân để đối thoại với
chính mình hoặc hóa thân mình vào nhân vật khác để đối thoại với chính mình.
Đối thoại để tỏ tình, để bộc lộ tâm trạng đó là câu chuyện chỉ có thể diễn ra
ở hai nhân vật: một nam và một nữ. Nhưng không phải lúc nào nhân vật trữ tình đều
bộc lộ tình cảm một cách trực tiếp với đối phương. Khảo sát 1022 lời ca dao Đồng
bằng sông Cửu Long chúng tôi thấy dạng đơn thoại có tần số xuất hiện rất cao (936
lần). Ca dao đồng bằng sông Cửu Long phản ánh nhiều cung bậc tình cảm, nhiều
trạng thái tâm lí của nhân vật trữ tình khi thì đối thoại (lời trao – lời đáp), khi thì
17
độc thoại. Ca dao đồng bằng sông Cửu Long thể hiện tình cảm trong tình yêu lứa
đôi rất phong phú đó là khi hẹn thề:
Ba mươi sáu cái răng đóng trăn cái lưỡi,

- Lựa chọn các yếu tố tình thái để thể hiện những sắc thái tình cảm, thái độ
ứng xử khác nhau: mềm mỏng, cứng rắn, nhẹ nhàng, thân mật, đe dọa, thô lỗ…
- Xử lý các tình huống hội thoại, lựa chọn chiến lược giao tiếp, đánh giá, tiếp
nhận hiệu quả giao tiếp và đồng thời nhân vật hội thoại cũng là những chủ thể nhận
thức, chủ thể hành động nên có những diễn biến về quá trình tâm lý trong quá trình
hội thoại dẫn đến sự thay đổi từ xưng hô, thay đổi hành vi ngôn ngữ [20, tr. 260 –
261].
Như vậy, nhân vật chính là nhân tố có tác dụng chi phối nội dung cuộc thoại,
sự tương tác hội thoại.
a. Đặc điểm chung về nhân vật hội thoại trong ca dao Đồng bằng sông Cửu
Long.
Nhân vật hội thoại trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là nhân vật phiếm
chỉ.Do mang tính tập thể nhân vật trữ tình ,tâm trạng của nhân vật trữ tình trong ca
dao không phải là nhân vật của một con người cụ thể,tâm trạng cụ thể mà là những
con người chung chung là tâm trạng chung chung của tập thể, của cộng đồng:
Gió đưa trăng thời trăng đưa gió,
Trăng lặn rồi, gió biết đưa ai?
Câu ca dao trên ta thấy rằng nhân vật trữ tình đang buồn nhưng không biết
chủ nhân của lời này là ai.
Nhân vật hội thoại trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là chàng trai và cô
gái. Vấn đề mà họ quan tâm là chuyện tình yêu. Do vậy, việc sử dụng cách xưng hô
của nhân vật cũng mang nét đặc trưng riêng. Đặc điểm này chi phối lời trao - đáp
cũng như về nội dung hành động hội thoại.
b. Nhân vật hội thoại sử dụng hành động ở lời
Trong quá trình giao tiếp, để biểu thị trạng thái, cảm xúc của mình nhân vật
hội thoại sử dụng hành động ngôn ngữ. Tùy vào hoàn cảnh, điề kiện, đối tượng giao
tiếp mà người nói lựa chọn những hành động ngôn ngữ thích hợp.
- Hành động ở lời trực tiếp: Là hành động có sự tương ứng giữa cấu trúc phát
ngôn trên bề mặt với hiệu lực của nó gây nên. Chẳng hạn:
19

20
Hành động ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất trong các đơn vị tạo nên hội
thoại.J.L.Austin cho rằng khi phát ngôn một câu nào đó ,người ta thực hiện đồng
thời 3 hành động:
- Hành động tạo lời,
- Hành động mượn lời.
- Hành động ở lời.
Hành động tạo lời:Là hành động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ
âm,vốn từ,quy tắc kết hợp để tạo ra những phát ngôn (đúng về hình thức và cấu
trúc) hay những văn bản có thể hiểu được.
Hành động mượn lời: Là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ,hay nói cách
khác là mượn các phát ngôn để gây ra sự tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối
với người nghe.Hiệu quả này không đồng nhất ở những người khác nhau.
Hành động ở lời: Là hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng .Hiệu
quả của chúng gây những sự tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ,gây phản ứng đối
với người nghe.Sở dĩ ta gọi là hành động ở lời vì khi nói thì ta đồng thời thực hiện
một hành động ở trong lời (còn gọi là hành động trong lời).
Các hành động ngôn ngữ này đều tạo nên những hiệu lực nhất định .Ngữ dụng
học quan tâm chủ yếu đến hiệu lực của các hành động ở lời.
1.3.2.Phân loại hành động ngôn ngữ
Đây là vấn đề cần thiết làm cơ sở cho việ triển khai nội dung của đề tài. Xung
quanh vấn đề này có thể có những cách phân loại hành động ở lời khác nhau. Ở đây,
chúng tôi chỉ chọn hai bảng phân loại hành động ở lời của J.R.Searle và J.L.Austin.
Cách phân loại của J.L.Austin. Tác giả đã đưa ra năm phạm trù phân loại các
hành động ở lời gồm :
- Phán xử (verditifs) gồm các động từ: Xử trắng án, xem là, tính toán, miêu tả,
phân tíc , đánh giá, phân loại, nêu đặc điểm.
- Hành xử (exercitifs) gồm các động từ : Ra lệnh, chỉ huy, biện hộ cho, khẩn
cầu, đặt hang, giới thiệu, van xin, khuyến cáo,bổ nhiệm, đặt tên, khai mạc,bế mạc,
cảnh cáo, tuyên bố.

Bạc lộn với than như vàng trộn trấu
Bởi em thương thầm sao thấu tai anh.
22
Cô gái này thương thầm một chàng trai và cô bộc lộ cảm xúc của mình. Ta
thấy cô đang tự nói với chính bản thân mình và đồng thời đóng cả vai nói và vai
nghe.
1.3.3.2. Vị thế giao tiếp
Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là ca dao về tình yêu đôi lứa, tình cảm vợ
chồng. Thông qua việc sử dụng từ xưng hô và cách ứng xử của các chàng trai, cô
gái Tây Nam Bộ ta thấy rằng các nhân vật giao tiếp có vị thế ngang hàng, bình
đẳng, không có người nào vị thế cao hơn:
Gió len cho héo lá lan,
Cho thiếp gặp chàng duyên nợ đẹp đô
1.4. Tiểu kết chương 1:
Tìm hiểu về ca dao, ca dao Đồng bằng sông Cửu Long, tìm hiểu về vùng đất
và con người Tây Nam Bộ để ta hiểu thêm con người, nội dung và hình thức của ca
dao Đồng bằng sông Cửu Long.Tìm hiểu hình thức lời thoại cũng như nhân vật hội
thoại giúp chúng ta có thể hiểu đúng nội dung hành động ngôn ngữ trong ca dao
Đồng bằng song Cửu Long.23
CHƯƠNG II
HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT TRONG CA
DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
2.1 Hoàn cảnh không gian, thời gian của các hành động ngôn ngữ qua lời thoại
nhân vật trong ca dao Đồng Bằng Sông Cửu Long
2.1.1 Hoàn cảnh không gian
Bất kỳ một sự vật nào cũng tồn tại trong một không gian nhất định. Những
sáng tạo nghệ thuật của con người cũng không vượt qua ra ngoài phạm vi đó.

Hay:
Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi,
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.
[tr.321]
- Các từ và tổ hợp từ chỉ sông: Trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long các
từ và tổ hợp từ chỉ sông rất đa dạng và có tần số xuất hiện cao nhất (53 lần). Sông là
hiện thân của dòng chảy lớn, dài, mênh mông, sâu và vô tận. Những đặc điểm này
khiến người ta dễ hình dung nó như một thực thể sống động, có khả năng diễn đạt
nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống tình cảm của con người. Khi bộc lộ tình
cảm:
Anh thương em lẫn đẫn, lờ đờ
Xuống sông hỏi cá, lên rừng hỏi chim.
[tr.332]
Sông sâu sóng bủa láng co
Thương em vì bởi câu hò có duyên.
[tr.452]
Khi hẹn thề: Sông dài cá lội biệt tăm
Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ.
[tr.451]
Khi trách móc:
Ai làm lỡ chuyến đò ngang
Cho sông cạn nước, cho đôi đàng biệt li.
[tr.353]
25

Trích đoạn Tỏ tình Giải bày tâm trạng Văn hóa tâm linh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status