Nghiên cứu từ ngữ xưng hô qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm Gone with the wind và bản dịch Cuốn theo chiều gió - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ KIM TUYẾN

NGHIÊN CỨU TỪ NGỮ XƢNG HÔ
QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT
TRONG TÁC PHẨM GONE WITH THE WIND
VÀ BẢN DỊCH CUỐN THEO CHIỀU GIÓ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ KIM TUYẾN

NGHIÊN CỨU TỪ NGỮ XƢNG HÔ
QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT
TRONG TÁC PHẨM GONE WITH THE WIND
VÀ BẢN DỊCH CUỐN THEO CHIỀU GIÓ
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 62.22.01.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Cán bộ hướng dẫn khoa học:


chúng tôi sẽ đạt được thành công trong nghiên cứu và hoàn thành được luận án.
Cuối cùng, chúng tôi rất trân trọng những góp ý chân thành của quý thầy cô
trong hồi đồng chấm luận án để nghiên cứu của chúng tôi được hoàn thiện hơn và
bản thân chúng tôi cũng được trưởng thành hơn.
Tác giả luận án

Trần Thị Kim Tuyến


iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................ ii
BẢNG QUI ƢỚC VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU ....................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG ................................................................................... vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ ........................................................................ viii
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lí do chọn đề tài.............................................................................................. 1
2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu .................................................................. 2
3. Nhiệm vụ của luận án ...................................................................................... 2
4. Tư liệu và phương pháp nghiên cứu ................................................................ 3
5. Đóng góp của đề tài luận án ............................................................................ 4
6. Cấu trúc của luận án ........................................................................................ 4
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
CỦA ĐỀ TÀI ......................................................................................................... 5
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu từ xưng hô ................................................. 5
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu từ xưng hô trong tiếng Anh...................................... 5
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu từ xưng hô trong tiếng Việt...................................... 8
1.2. Cơ sở lý thuyết của đề tài ........................................................................... 11

2.5.2. Biểu hiện các đại từ nhân xưng được thêm vào các cuộc thoại ở
bản dịch tiếng Việt ................................................................................75
2.6. Những điểm tương đồng và khác biệt trong chuyển dịch đại từ nhân xưng ... 78
2.6.1. Những điểm tương đồng........................................................................78
2.6.2. Những điểm khác biệt ...........................................................................78
2.7. Tiểu kết chương 2 ....................................................................................... 81
Chƣơng 3. DANH TỪ DÙNG ĐỂ XƢNG HÔ QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT
TRONG BẢN GỐC GONE WITH THE WIND VÀ NHỮNG ĐƠN VỊ
TƢƠNG ĐƢƠNG TRONG BẢN DỊCH CUỐN THEO CHIỀU GIÓ ............... 83
3.1. Kết quả tổng hợp về chuyển dịch các danh từ dùng để xưng hô qua lời
thoại nhân vật từ [I] sang [II]............................................................................. 83
3.2. Chuyển dịch các tiểu nhóm danh từ dùng để xưng hô qua lời thoại nhân
vật từ [I] sang [II] .............................................................................................. 86
3.2.1. Chuyển dịch họ và tên ...........................................................................86
3.2.2. Chuyển dịch danh từ thân tộc ................................................................89
3.2.3. Chuyển dịch các danh từ chỉ tình cảm ...................................................94
3.2.4. Chuyển dịch các danh từ chỉ giới tính ...................................................98
3.2.5. Chuyển dịch các danh từ chỉ sự lịch sự................................................ 101
3.2.6. Chuyển dịch các danh từ vật hóa ......................................................... 104
3.2.7. Chuyển dịch các danh từ chức nghiệp ................................................. 109
3.2.8. Chuyển dịch các biểu thức dùng để xưng hô ....................................... 111
3.3. Các danh từ dùng để xưng hô được thêm vào trong các cuộc thoại ở [II]......... 112
3.3.1. Thống kê số lượng............................................................................... 112
3.3.2. Về những biểu hiện của các danh từ dùng để xưng hô và các biểu
thức dùng để xưng hô được thêm vào [II] ............................................ 113


v
3.4. Những điểm tương đồng và khác biệt khi chuyển dịch các danh từ dùng
để xưng hô về ngữ nghĩa, ngữ dụng và văn hóa ............................................... 115



vi
BẢNG QUI ƢỚC VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU

TT

Nội dung viết tắt

Viết tắt, kí hiệu

1

Biểu thức dùng để xưng hô

BTXH

2

Danh từ dùng để xưng hô

DTXH

3

Danh từ thân tộc

DTTT

4



vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1:
Bảng 1.2:
Bảng 2.1:

Các đại từ nhân xưng và các biến thể của chúng trong tiếng Anh ...... 21
Các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt ............................................... 21
Kết quả tổng hợp về hình thức chuyển dịch các đại từ nhân xưng
qua lời thoại nhân vật từ [I] sang [II] ................................................. 39

Bảng 2.2:

Số lần đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít I, me được sử dụng
trong [I] và các hình thức chuyển dịch tương đương sang [II] ........... 41
Số lần đại từ nhân xưng we, us được sử dụng trong [I] và các
hình thức chuyển dịch tương đương sang [II] .................................... 49
Số lần đại từ nhân xưng ngôi thứ hai you được sử dụng trong [I]

Bảng 2.3:
Bảng 2.4:
Bảng 2.5:
Bảng 2.6:
Bảng 2.7:
Bảng 2.8:
Bảng 3.1:
Bảng 3.2:

Số lần biểu thức dùng để xưng hô được sử dụng trong [I] và các
hình thức chuyển dịch tương đương sang [II] .................................. 111
Bảng 3.10: Danh từ và biểu thức dùng để xưng hô được thêm vào các cuộc
thoại ở [II] ....................................................................................... 112
Bảng 3.9:


viii
Bảng 3.11: Danh từ dùng để xưng hô được sử dụng trong giao tiếp ở [I] và [II] .. 116
Bảng 4.1: Tần số tương ứng của đại từ nhân xưng trong giao tiếp ở [I] và [II] ... 127
Bảng 4.2: Tần số tương ứng của danh từ dùng để xưng hô trong giao tiếp ở
Bảng 4.3:
Bảng 4.4:

[I] và [II] ......................................................................................... 127
Cách chuyển dịch đại từ nhân xưng từ tiếng Anh sang tiếng Việt .... 140
Cách chuyển dịch danh từ dùng để xưng hô từ tiếng Anh sang
tiếng Việt ........................................................................................ 141

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ:
Sơ đồ 4.1:
Sơ đồ 4.2:

Trang
Mối quan hệ liên cá nhân là cái biểu đạt và cái được biểu đạt ............ 32
Mô hình từ ngữ xưng hô thê hiện mối quan hệ liên cá nhân giữa
các nhân vật ở [I]............................................................................. 121
Mô hình từ ngữ xưng hô thê hiện mối quan hệ liên cá nhân giữa
các nhân vật ở [II] ........................................................................... 122

hội thoại của nhân vật từ tiếng Anh sang tiếng Việt có những điểm tương đồng và
khác biệt giữa hai ngôn ngữ Anh - Việt về cách sử dụng đại từ nhân xưng, các danh
từ dùng để xưng hô (họ và tên, danh từ chức nghiệp, danh từ thân tộc…), sắc thái
tình cảm, văn hóa…
1.4. Trong thực tế, người Việt học tiếng Anh và đặc biệt là người nước ngoài
sử dụng tiếng Anh học tiếng Việt gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng từ ngữ
xưng hô trong việc học cũng như trong việc chuyển dịch từ tiếng Anh sang tiếng
Việt hay ngược lại. Họ thường mắc nhiều lỗi trong sử dụng do chưa hiểu rõ chức
năng, ngữ nghĩa ngữ dụng, văn hóa của từng loại từ (đại từ nhân xưng hay danh từ
dùng để xưng hô) của từ ngữ xưng hô. Vì vậy, việc “Nghiên cứu từ ngữ xưng hô


2
qua lời thoại nhân vật từ bản gốc Gone with the wind sang bản dịch Cuốn theo chiều
gió” là vấn đề cần thiết, cần được quan tâm nghiên cứu.
2. Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi chọn đơn vị từ ngữ xưng hô được sử dụng
trong giao tiếp ở các ngữ cảnh, qua lời thoại nhân vật thể hiện trong tác phẩm Gone
with the wind (tiếng Anh) và bản dịch Cuốn theo chiều gió (tiếng Việt) làm đối
tượng nghiên cứu.
Tác phẩm này được một số dịch giả dịch sang tiếng Việt, như Dương Tường,
Lê Công Thành... Ở đây, chúng tôi chọn bản dịch Cuốn theo chiều gió của Vũ Kim
Thư (năm 2009, nhà xuất bản Thời đại) vì chất văn trong sáng, tự nhiên, giàu tính
văn chương, là bản dịch mới nhất và đang được sử dụng rộng rãi nhất trên thị
trường sách hiện nay với cách sử dụng từ ngữ xưng hô và được các nhà nghiên cứu
đánh giá cao vì bám sát tác phẩm.
2.2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi quan tâm đến từ ngữ xưng hô trong sử dụng như vai
giao tiếp, thái độ… trong hội thoại qua tác phẩm Gone with the wind (tiếng Anh) và

cá nhân đã xác định, từ đó áp dụng vào hoạt động dạy - học và hoạt động chuyển
dịch Anh - Việt.
4. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Tư liệu nghiên cứu
Các từ ngữ xưng hô qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm Gone with the
wind của tác giả Margaret Mitchell và bản dịch Cuốn theo chiều gió của dịch giả Vũ
Kim Thư được chúng tôi thống kê làm tư liệu nghiên cứu. Ngoài ra chúng tôi cũng
sử dụng bản dịch Cuốn theo chiều gió của dịch giả Dương Tường để so sánh.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp thống kê, phân loại
Chúng tôi thống kê số lượng từ ngữ xưng hô gồm các đại từ nhân xưng, các
tiểu nhóm danh từ và các biểu thức dùng để xưng hô qua lời thoại nhân vật trong
từng ngữ cảnh cụ thể, từ đó phân loại các từ ngữ xưng hô thành từng nhóm và tiểu
nhóm để rút ra những nhận xét khái quát.
4.2.2. Phương pháp phân tích diễn ngôn
Trên cơ sở số lượng các đơn vị từ ngữ xưng hô thu thập được dựa trên
phương pháp diễn ngôn, chúng tôi tiến hành miêu tả tính tương ứng từ bản gốc sang
bản dịch dựa trên đặc điểm ngữ nghĩa, nội dung của lời, hệ qui chiếu từ ngữ xưng
hô, đích giao tiếp... Bên cạnh đó, chúng tôi đi sâu phân tích, lý giải quan hệ giữa
ngôn ngữ với tâm lý, văn hóa, xã hội để miêu tả những đặc điểm, cách thức chuyển
dịch các đơn vị từ ngữ xưng hô được sử dụng qua lời thoại nhân vật ở phạm vi này
của bản gốc (tiếng Anh) và bản dịch (tiếng Việt).
4.2.3. Phương pháp so sánh
Vận dụng phương pháp so sánh, chúng tôi tiến hành so sánh đặc điểm, cách
sử dụng từ ngữ xưng hô phù hợp với vai giao tiếp, ngữ cảnh và chức năng của các
đơn vị từ ngữ xưng hô được sử dụng trong chuyển dịch từ bản gốc (tiếng Anh) sang
bản dịch (tiếng Việt), nhằm tìm ra những điểm đồng nhất và khác biệt của chúng
trong cách sử dụng từ ngữ xưng hô ở hai ngôn ngữ này.
Ngoài những phương pháp nghiên cứu trên, luận án của chúng tôi còn sử
dụng một số thủ pháp khác như hệ thống hóa, mô hình hóa cách sử dụng các đơn vị

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu từ xƣng hô
Cho đến nay, nhiều tác giả đi trước đã đề cập đến vấn đề TNXH (từ ngữ
xưng hô) nhưng cách quan niệm về phạm trù xưng hô cũng chưa hoàn toàn thống
nhất. Nhìn chung, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, việc nghiên cứu
lớp TXH (từ xưng hô) đã thu được những thành tựu đáng kể.
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu từ xưng hô trong tiếng Anh
Vấn đề TNXH trong tiếng Anh từ rất lâu đã có nhiều tác giả nghiên cứu:
Năm 1961, Brown, Roger W. và Marguerite Ford trong bài Address in
American English đã phân tích TXH trong cuộc hội thoại giữa hai người trong
nhiều ngữ cảnh khác nhau với sự tác động từ yếu tố tâm lí xã hội dựa trên mối quan
hệ mật thiết của 3 loại TXH (tên hoặc họ để xưng gọi, danh xưng, xưng gọi cho
người vắng mặt (tên hoặc họ) [127, tr.371]. Năm 1968, Hanning, Robert W đã đề
cập đến những cách sử dụng TXH trong văn hóa học thời trung cổ [135, tr.325].
Năm 1973, Eliason Norman E. đã nói đến TXH và những tham chiếu [133, tr.137].
Năm 1985, Lou Quangquinh đã viết về xã hội và văn hóa trong quy tắc gọi tên [138,
tr.3]. Năm 1988, Braun, F đã có bài viết nghiên cứu về những vấn đề về mô hình và
cách sử dụng của đa ngôn ngữ, đa văn hóa trong TXH [126]. Cũng trong năm 1988,
tác giả Thái Duy Bảo trong Đối chiếu nghi thức lời nói đối thoại Anh - Việt [5] đã
đề cập đến ĐTNX và các DTXH trong tiếng Anh. Tác giả viết: “Trong đối thoại
tiếng Anh, hình thức sử dụng các ĐTNX được coi là bắt buộc, truyền thống như
ĐTNX I, we dùng cho ngôi thứ nhất, chủ thể phát ngôn (xưng) và ĐTNX you dùng
cho ngôi thứ hai, đối tượng tiếp nhận là người cùng giao tiếp (gọi). Các ĐTNX này
xuất hiện trong mọi tình huống giáo tế, trong mọi quan hệ xã hội có những khác biệt
địa vị cao thấp, tuổi tác và mức độ thân sơ xa gần. Nói cách khác, nó là sự biểu thị
mối quan hệ giữa các nhân vật tham gia giao tiếp, giữa người nói và người nghe…”
[5, tr.45-46]. Ngoài ra, tác giả còn nêu rõ đặc điểm các hình thức xưng hô trong
tiếng Anh có thể hiện ngôi thứ nhưng không chứa đựng phạm trù lịch sự, cũng như
không bị ảnh hưởng bởi những sắc thái giao tiếp khác nhau trong những tình huống
giao tiếp khác nhau… Mặc dù, những hình thức xưng hô tiếng Anh thể hiện sự bình

Năm 2003, Chunming Gao đã nghiên cứu về đối chiếu các TXH giữa tiếng Hán và
tiếng Anh. Tác giả đã cho rằng hình thức xưng hô có vai trò quan trọng giúp cho
toàn bộ quá trình giao tiếp được diễn ra suôn sẻ. Trong tiếng Hán và tiếng Anh,
hình thức xưng hô có cả sự tương đồng và dị biệt. Tác giả trình bày kết quả nghiên
cứu đối sánh về cách thức xưng hô giữa hai ngôn ngữ Hán - Việt và khẳng định ý
nghĩa của đề tài được dựa trên bốn khía cạnh: tên gọi, danh từ thân tộc, chức danh
và ĐTNX với những nét văn hóa khắc biệt của chúng [131, tr.190]. Năm 2006,
nhóm tác giả Bull, Peter, Fetzer, Anita lại đề cập về chiến lược sử dụng các TXH
trong các cuộc phỏng vấn công chức lãnh đạo mà điển hình là những vấn đề xung
quanh câu hỏi [128, tr.1].
Đặc biệt năm 2010, Chunli Yang với bài viết về vấn đề dịch TXH từ tiếng
Anh sang tiếng Trung Quốc trong lĩnh vực văn hóa [130, tr.738]. Xiaomei Yang đã
viết về những qui tắc chung trong cách sử dụng và một loạt các yếu tố xã hội làm
ảnh hưởng đến TXH, cùng những điểm khác biệt của TXH trong những tình huống


7
sử dụng khác nhau [150, tr.143]. Còn Lillian A. Parrott trong bài viết về nghiên cứu
đối chiếu các hô ngữ và hình thức xưng hô trực tiếp khác, đã phân tích các hình
thức xưng hô trực tiếp trong tiếng Nga đối với các hình thức xưng hô tỉnh lược và
xưng hô theo danh tính. Đồng thời, tác giả cũng đã đối chiếu những hạn chế về mặt
hình thức và chức năng đối với trường hợp xưng hô tỉnh lược với các từ chỉ xưng hô
trong các ngôn ngữ khác (ví dụ tiếng Cộng Hòa Czech và tiếng Ba Lan), và so sánh
cách thêm các hình thức xưng hô trực tiếp vào phát ngôn theo tình huống trong
tiếng Anh. Mặc dù có những tương đồng về hình thức và cách sử dụng các hình
thức xưng hô trực tiếp giữa tiếng Nga và các ngôn ngữ khác, nhưng những chi phối
về ngôn điệu và cú pháp trong tiếng Anh tỏ ra lớn hơn so với tiếng Nga. Cuối cùng
tác giả đã khẳng định là trong nghiên cứu đối chiếu về chức năng ngắt câu của các
hình thức xưng hô trực tiếp trong tiếng Nga uyển chuyển hơn tiếng Anh [139,
tr.211-226]. Qian Chen đã viết về sự khác biệt về văn hóa trong các hô ngữ giữa

quyết định cách sử dụng TXH như độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, chức vụ…
Đây cũng chính là nguồn tư liệu quí báu cho các nhà ngôn ngữ trong nghiên cứu
về TXH sau này. Còn L.C.Thompson (1965) trong quyển Vietnamese Grammar,
lại rất chú ý đến các mức độ (levels) biểu cảm của TXH. Ông quan niệm một số


9
ĐTNX: hắn, người ta… là đại từ tuyệt đối với khả năng kết hợp của nó với từ
chúng. Theo ông, có ba nhân tố tác động đến TXH: tình huống xưng hô, thái độ
của người nói, cương vị của những nhân vật hội thoại. Năm 1963, Nguyễn Kim
Thản trong Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt đã có đề cập đến TXH, ông cho đây
là những từ có chức năng trỏ và thay thế. Năm 1975, Nguyễn Tài Cẩn trong
quyển Từ loại danh từ tiếng Việt hiện đại đã quan tâm đến khả năng được dùng
lâm thời như đại từ thay thế cho đại từ ở cả ba ngôi của các danh từ như họ và
tên, danh từ chỉ giới, danh từ thân tộc và danh từ chức nghiệp. Đến năm 1981,
Đỗ Hữu Châu trong quyển Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng đã chú ý đến chức năng
chiếu vật của các TNXH trong hội thoại. Đặc biệt, trong quyển Đại cương ngôn
ngữ học (phần ngữ dụng học) năm 1999 và 2000, ông đề cập đến vấn đề chiếu
vật và chỉ xuất hành vi ngôn ngữ, lí thuyết lập luận, lí thuyết hội thoại... và
khẳng định yếu tố lời nói, hành động, nhân tố giao tiếp đều liên quan đến xưng
hô. Từ năm 1991 đến năm 1993, Nguyễn Văn Chiến đã có các bài viết về Sắc
thái địa phương của các danh từ thân tộc trong tiếng Việt [18], Từ xưng hô
trong tiếng Việt (Nghiên cứu ngữ dụng học và dân tộc học giao tiếp) [20], Từ
xưng hô trong tiếng Việt (Nghiên cứu ngữ dụng học và dân tộc học giao tiếp tt)
[21]. Tác giả Mai Xuân Huy trong bài viết Thử khảo sát các cung bậc ngôn ngữ
trong giao tiếp vợ chồng người Việt đã tìm hiểu sự biến thiên của cách dùng
ngôn ngữ theo sự thay đổi của các cung bậc tình cảm khác nhau giữa hai chồng
vợ trong phạm vi gia đình người Việt [48]. Trong Ngữ nghĩa lời hội thoại [58]
và Giáo trình ngữ dụng học [59, tr.191-197], tác giả Đỗ Thị Kim Liên đã đề
cập đến các vấn đề có liên quan đến TXH trong hội thoại hoặc trong giao tiếp

hô “bác” trong hoạt động giao tiếp [30]; Và đặc biệt, trong Luận án tiến sỹ Từ
xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt đã khảo sát, miêu
tả, phân tích một cách kỹ lưỡng, đầy đủ, toàn diện về hoạt động của danh từ thân tộc
dùng để xưng hô trong giao tiếp của người Việt [31]. Đến năm 2012, tác giả Trương
Thị Diễm đã viết về Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong Cộng đồng
công giáo Việt [32].
Còn tác giả Mai Xuân Huy đã có các bài viết về từ xưng hô như: Thử khảo
sát các cung bậc của ngôn ngữ trong giao tiếp vợ chồng người Việt [48], Ứng xử
ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt [49], Về hiện tượng xưng hô trong
giao tiếp quảng cáo [50]. Tác giả Dương Thị Nụ với các bài viết về đối chiếu từ
xưng hô như: Từ chỉ quan hệ thân tộc trong tri nhận của người Anh và người Việt
[70], Một số khác biệt cơ bản về nghĩa của từ thân tộc trong tiếng Anh và tiếng Việt
nhìn từ góc độ văn hóa [71], Bước đầu tìm hiểu từ thân tộc trong ẩn dụ (Trên cơ sở
đối chiếu tương phản Anh - Việt) [72]. Tác giả Mai Thị Kiều Phượng có bài viết về
Từ xưng hô và cách xưng hô trong câu hỏi mua bán bằng tiếng Việt [81]. Năm
2012, tác giả Trương Thị Minh Phương trong bài viết về Từ xưng hô trong giao tiếp
của người Việt [79] đã nhấn mạnh đến một số đặc điểm cơ bản trong việc sử dụng
các lớp TXH trong tiếng Việt và một số ứng dụng thiết thực trong giao tiếp. Năm
2013, Vũ Minh Hiền với bài viết bằng tiếng Nhật về Đối chiếu hệ thống từ xưng hô
trong tiếng Nhật và tiếng Việt [42] đã đưa ra những điểm tương đồng và khác biệt
giữa những từ chỉ người trong hai ngôn ngữ Nhật và Việt trong cách sử dụng các
ĐTNX, các DTXH để chỉ người nói ở ngôi thứ nhất, người đối thoại ở ngôi thứ hai
và người thứ ba được nhắc đến ở ngôi thứ ba.


11
Năm 2014, Lã Thị Thanh Mai trong Luận án tiến sỹ Đặc điểm xưng hô của
người Hàn và người Việt [64] đã bàn về điểm giống nhau, khác nhau về cách xưng
hô trong giao tiếp từ trong gia đình đến ngoài xã hội giữa người Hàn và người Việt.
Điểm lại lịch sử nghiên cứu lớp từ xưng hô trong tiếng Anh và tiếng Việt,

là yếu tố thực hành giao tiếp... Các TXH được sử dụng rất phổ biến trong mọi ngôn
ngữ, thường xuyên và dễ dàng quan sát trong giao tiếp cá nhân và chúng được xem
là một đơn vị lớp từ rất nổi bật của mối quan hệ trong giao tiếp. [131, tr.190-191].


12
Xiaomei Yang cho rằng TXH là một hiện tượng xã hội. Trong tiếng Anh có
qui tắc chung về cách sử dụng, nhưng do một loạt các yếu tố xã hội làm ảnh hưởng
nên chúng biến đổi đa dạng những tình huống sử dụng khác nhau [150, tr.143].
Sanae Tsuda cho rằng TXH không chỉ được sử dụng để thu hút sự chú ý, mà
còn là phương tiện thể hiện ý định của người nói hay những cảnh báo để thay đổi về
chủ đề trò chuyện hoặc tiếp tục tiếp tục cuộc trò chuyện, vv (xem Wierzbicka 1992;
Kasper và Blum-Kulka 1993; Verschueren 1999: 84; Lansisalmi 1999). Các nghiên
cứu này xem xét vị trí của các TXH bằng tiếng Anh trong ánh sáng của sự tương
phản giữa các chức năng qui chiếu và tình cảm của họ. [147, tr.33-34 ].
Tác giả Scott James Calvert cho rằng TXH là một cách chấp nhận xã hội hóa
trong văn hóa chung của người Anh hay đang được xác định đến người nào bằng
văn bản hoặc bằng miệng trong giao tiếp được lựa chọn. Tùy mức độ quen thuộc và
sự hiểu biết về những người nói khác nhau mà có sự lựa chọn từng cấp độ thân mật
trong TXH khác nhau. [148, tr.179].
Tác giả Chunli Yang cho rằng TXH là những từ hay từ ngữ dùng để chỉ mối
quan hệ nhất định nào đó giữa hai hay nhiều người với nhau, hoặc để diễn tả sự
khác biệt về cách nhận diện một ai đó, cấp bậc và địa vị trong xã hội. Chúng phản
ánh rõ các nền văn hóa dân tộc. Chúng giữ vai trò rất quan trọng trong giao tiếp
trực tiếp “mặt đối mặt” khi chúng là thông tin đầu tiên được truyền đến người
khác [130, tr.738].
b. Khái niệm từ xưng hô trong tiếng Việt
TXH trong tiếng Việt không chỉ dùng để “xưng” và “hô” nhằm định vị quan
hệ giữa các đối tượng giao tiếp mà còn là phương tiện biểu đạt tình cảm, tạo nên
nhịp cầu giao cảm giữa các cá nhân trong xã hội. Xưng hô là thuật ngữ không thể

ngữ để đưa mình vào trong cuộc thoại, để người nghe biết rằng mình đang nói và
chịu trách nhiệm về lời nói của mình. Đây là hành động tự qui chiếu của người nói
(ngôi thứ nhất).
Ngoài ra, các tác giả như Nguyễn Đức Dân [27], Diệp Quang Ban [2], Đinh
Văn Đức [35], Hoàng Trọng Phiến [22]... cũng có bàn về xưng hô, tuy trong quan
niệm riêng, họ có những điểm cụ thể ít nhiều khác nhau.
Nói đến TXH, người ta thường đề cập đến hai nhóm từ loại: Đại từ xưng hô
chuyên dùng hay nói cách khác là ĐTNX như tôi, tao… và DTXH là những yếu tố
đại từ hóa để xưng hô như tên riêng như Hồng, Lan…; DTTT như ông, bà, ba,
mẹ…; danh từ chỉ địa vị, chức vụ như chủ tịch, sếp…; danh từ chức nghiệp như bác
sỹ, kỹ sư…; danh từ chỉ quan hệ xã hội như đồng chí, đồng hương, bạn…; tổ hợp từ
làm ngữ DTXH (BTXH) như ông ấy, bà ấy, chị đó, anh đó, con nhỏ đó...
TXH gắn với ngôi thứ: ngôi thứ nhất trỏ người nói, ngôi thứ hai trỏ người
nghe, ngôi thứ ba trỏ người hay vật được nhắc đến với chức năng định vị và chức
năng thể hiện mối quan hệ liên cá nhân.
Như vậy, ở trong cả hai ngôn ngữ Anh - Việt, các tác giả nghiên cứu đều có
điểm chung là thừa nhận rằng TXH thường xuyên xuất hiện trong giao tiếp hay
trong các văn bản văn chương. Đặc biệt, cả hai ngôn ngữ đều có một số từ nhất định
dùng để xưng hô khi giao tiếp. Chúng bao gồm các ĐTNX và các DTXH hay các
BTXH (đây là cơ sở để chúng tôi đi vào phân tích và so sánh ở chương 2 và chương
3) và được chúng tôi gọi là các đơn vị TNXH được các nhân vật tham gia giao tiếp
đưa ra sử dụng để “xưng” (tự qui chiếu) và “hô” (qui chiếu vào người khác) với
chức năng định vị, thiết lập quan hệ liên nhân và biểu lộ thái độ tình cảm, tâm lý,


14
nhận thức khi tham gia giao tiếp trong gia đình và ngoài xã hội. Đồng thời, TXH
cũng thể hiện trình độ và bản sắc văn hóa dân tộc, vốn đã được hình thành từ lâu đời
trong cộng đồng và trở thành thói quen của các nhân vật tham gia giao tiếp. Hầu
hết, các TXH trong tiếng Việt được phân bố cách sử dụng theo thang độ quyền thế,

Như trong ca dao “Chàng lên non, thiếp cũng lên non. Chàng lên trời, vượt
biển, thiếp cũng bồng con theo chàng” (ca dao), ở đây, DTXH chàng được định vị
là chồng ở vai người nghe và DTXH thiếp được định vị là vợ ở vai người nói.


15
Tóm lại, định vị là xác định rõ vị trí thời gian, không gian của một sự vật,
hiện tượng, lời nói nào đó được đề cập đến. Còn đối với định vị lớp từ xưng hô là
xác định vai vế, mối quan hệ, sắc thái tình cảm… của nhân vật thể hiện qua các
chức năng của chúng.
a2. Những biểu hiện của chức năng định vị
Tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định “Định vị xã hội ngôn ngữ hóa những phân
biệt về vị thế xã hội của người tham gia giao tiếp. Trong tiếng Việt, ngoài một số từ
như ngài, bệ hạ… các từ định vị xã hội đều dựa vào một số định vị trong gia đình,
họ hàng như ông, bà, anh, chị… làm cơ sở” [13, tr.237].
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên cho rằng, “Trong ngôn ngữ, người ta thường nói
đến ba phạm trù định vị: định vị không gian, định vị thời gian, định vị vai giao tiếp,
tức định vị xưng hô. Ngoài ba phạm trù định vị đối với ngữ pháp nói trên, người ta
quan tâm đến định vị trong diễn ngôn” [59, tr.176].
Nói chung, chức năng định vị thể hiện sự qui chiếu của người nói và người
nghe về vai giao tiếp của mình ở một không gian và thời gian cụ thể với các đối
tượng (con người, sự vật, hành động hay tính chất nào đó của chúng) và chúng có
xác định về:
- Vai giao tiếp: TXH thể hiện vai của người tham gia giao tiếp (người nói,
người nghe, người được nhắc đến). Nếu trong hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, vai
của họ cũng khác nhau, vì thế TXH cũng khác nhau. Do đó, con người luôn có sự
lựa chọn và sử dụng TXH sao cho phù hợp với ngữ cảnh khi tham gia giao tiếp.
- Quan hệ giữa các nhân vật tham gia giao tiếp: để sử dụng TXH hợp lí
trong các cuộc thoại, con người phải dựa vào các yếu tố như: tuổi tác, giới tính,
nghề nghiệp, địa vị, các mối quan hệ liên cá nhân… để định vị được vai của mình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status