BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ KIM TUYẾN
NGHIÊN CỨU TỪ NGỮ XƢNG HÔ
QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT
TRONG TÁC PHẨM GONE WITH THE WIND
VÀ BẢN DỊCH CUỐN THEO CHIỀU GIÓ
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 62.22.01.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2016
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong ngôn ngữ nói chung, trong tiếng Việt và tiếng Anh nói riêng, từ
xưng hô thể hiện mối quan hệ thứ bậc, thái độ và tình cảm giữa các nhân vật tham gia
hội thoại. Để cuộc hội thoại luôn diễn ra tốt đẹp, người nói bao giờ cũng định vị vai
người nghe, đặt họ trong quan hệ với người nói nhằm lựa chọn từ xưng hô cho phù
hợp. Chính mối quan hệ liên cá nhân này đã góp phần quyết định đến việc lựa chọn
và sử dụng từ xưng hô phù hợp với ngữ cảnh, với nội dung, đồng thời cũng ảnh
hưởng đến diễn biến của cuộc thoại. Việc nghiên cứu biểu hiện tính tương ứng này
giữa hai ngôn ngữ (tiếng Anh - tiếng Việt) là việc làm có ý nghĩa, có giá trị quan
trọng trong giao tiếp.
1.2. Từ xưng hô trong tiếng Việt vô cùng đa dạng và phong phú về vốn từ, về
lời thoại nhân vật từ bản gốc Gone with the wind sang bản dịch Cuốn theo chiều gió”
là vấn đề cần thiết, cần được quan tâm nghiên cứu.
2. Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi chọn đơn vị từ ngữ xưng hô được sử dụng
trong giao tiếp ở các ngữ cảnh, qua lời thoại nhân vật thể hiện trong tác phẩm Gone
with the wind (tiếng Anh) và bản dịch Cuốn theo chiều gió (tiếng Việt) làm đối tượng
nghiên cứu.
Tác phẩm này được một số dịch giả dịch sang tiếng Việt, như Dương Tường,
Lê Công Thành, Vũ Kim Thư... Trong luận án này, chúng tôi chọn bản dịch Cuốn
theo chiều gió của Vũ Kim Thư (2009, Nxb Thời đại).
2.2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này hướng đến:
- Về lý thuyết: Xác định các nhân tố chi phối từ ngữ xưng hô trong sử dụng
như: vai giao tiếp, thái độ… trong hội thoại qua tác phẩm Gone with the wind (tiếng
Anh) và bản dịch Cuốn theo chiều gió (tiếng Việt), cũng như sự tương đồng và khác
biệt trong sử dụng đại từ nhân xưng và danh từ dùng để xưng hô trong tiếng Anh và
tiếng Việt, từ đó bổ sung cho Lý thuyết nghiên cứu TXH nói chung và lí thuyết phiên
dịch TXH trong hai ngôn ngữ Anh, Việt nói riêng.
- Về thực tiễn: Ứng dụng kết quả nghiên cứu từ ngữ xưng hô trong tác phẩm
Gone with the wind (tiếng Anh) và bản dịch Cuốn theo chiều gió (tiếng Việt) vào
hoạt động dạy - học và hoạt động chuyển dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt hoặc
ngược lại, từ tiếng Việt sang tiếng Anh.
3. Nhiệm vụ của luận án
Thực hiện được đề tài này, luận án đặt ra những nhiệm vụ sau:
a. Thống kê, phân loại hệ thống từ ngữ xưng hô thể hiện quan hệ liên cá nhân
của các nhân vật tham gia giao tiếp, được sử dụng trong tác phẩm Gone with the
wind của tác giả Margaret Mitchell và bản dịch Cuốn theo chiều gió của dịch giả Vũ
Kim Thư.
b. So sánh, tổng hợp các từ ngữ xưng hô trong trong tác phẩm Gone with the
bình diện ngữ dụng và văn hóa được thể hiện trong cách lựa chọn sử dụng chúng. Từ
những kết quả về những tương đương trong chuyển dịch đại từ nhân xưng, danh từ
dùng để xưng hô, chúng tôi đưa ra những ứng dụng chúng vào hoạt động dạy - học và
chuyển dịch trong thời kì hội nhập.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án gồm bốn chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Chương 2. Đại từ nhân xưng qua lời thoại nhân vật trong bản gốc Gone with
the wind và những đơn vị tương đương trong bản dịch Cuốn theo
chiều gió
Chương 3. Danh từ dùng để xưng hô qua lời thoại nhân vật trong bản gốc
Gone with the wind và những đơn vị tương đương trong bản dịch
Cuốn theo chiều gió
Chương 4. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động dạy - học và
chuyển dịch
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu từ xƣng hô
Cho đến nay, nhiều tác giả đi trước đã đề cập đến vấn đề TNXH (từ ngữ xưng
hô) nhưng cách quan niệm về phạm trù xưng hô cũng chưa hoàn toàn thống nhất.
Nhìn chung, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, việc nghiên cứu lớp
TXH (từ xưng hô) đã thu được những thành tựu đáng kể.
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu từ xưng hô trong tiếng Anh
Vấn đề TNXH trong tiếng Anh từ rất lâu đã có nhiều tác giả nghiên cứu:
Năm 1961, Brown, Roger W. và Marguerite Ford trong bài Address in American
English đã phân tích TXH trong cuộc hội thoại giữa hai người trong nhiều ngữ cảnh
Nam Phi hay tiếng Việt… thì nhiều nhưng chưa có bài viết nào đề cập đến sự chuyển
dịch TXH trong tác phẩm Gone with the wind tiếng Anh sang tiếng Việt.
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu từ xưng hô trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt, từ những trang viết đầu tiên của Alexandre De Rodhes trong
quyển Từ điển Việt - Bồ Đào Nha - La tinh, năm 1651, ông đã đề cập đến ĐTNX,
cũng như các DTTT có chức năng xưng hô như ông, bà, chú, bác, cậu… Tuy nhiên
trong từ điển này, TXH mà ông nhắc đến còn sơ lược, chưa đầy đủ so với thực tế
xưng hô trong giao tiếp. Năm 1884, Trương Vĩnh Ký đã dành 30 trang trong quyển
Grammare de langueannamite để nói về ĐTNX. Nguyễn Văn Chiến đã có các bài
viết về Sắc thái địa phương của các danh từ thân tộc trong tiếng Việt [18], Từ xưng
hô trong tiếng Việt (Nghiên cứu ngữ dụng học và dân tộc học giao tiếp) [20], Từ
xưng hô trong tiếng Việt (Nghiên cứu ngữ dụng học và dân tộc học giao tiếp tt) [21].
Trong Ngữ nghĩa lời hội thoại [58] và Giáo trình ngữ dụng học [59, tr.191-197], tác
giả Đỗ Thị Kim Liên đã đề cập đến các vấn đề có liên quan đến TXH trong hội thoại
hoặc trong giao tiếp giữa các nhân vật tham gia giao tiếp như TXH xuất hiện thành
cặp tương tác khi trao và đáp; sự diễn biến và chuyển đổi TXH theo nội dung cuộc
thoại; sự diễn biến tâm lý - tình cảm nhân vật chi phối cách sử dụng. Ngoài ra, còn
phải kể đến bài viết có liên quan đến từ xưng hô của tác giả Bùi Minh Yến trong luận
án tiến sĩ Xưng hô trong gia đình đến xưng hô ngoài xã hội của người Việt [119].
Trong Luận án tiến sỹ Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp
tiếng Việt đã khảo sát, miêu tả, phân tích một cách kỹ lưỡng, đầy đủ, toàn diện về
hoạt động của danh từ thân tộc dùng để xưng hô trong giao tiếp của người Việt [31].
Đến năm 2012, tác giả Trương Thị Diễm đã viết về Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ
thân tộc trong Cộng đồng công giáo Việt [32]. Năm 2012, tác giả Trương Thị Minh
Phương trong bài viết về Từ xưng hô trong giao tiếp của người Việt [79] đã nhấn
mạnh đến một số đặc điểm cơ bản trong việc sử dụng các lớp TXH trong tiếng Việt
và một số ứng dụng thiết thực trong giao tiếp. Năm 2014, Lã Thị Thanh Mai trong
Luận án tiến sỹ Đặc điểm xưng hô của người Hàn và người Việt [64] đã bàn về điểm
giống nhau, khác nhau về cách xưng hô trong giao tiếp từ trong gia đình đến ngoài xã
hội giữa người Hàn và người Việt.
Ttheo chúng tôi, giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin giữa hai hay nhiều người
trong một tình huống và ngữ cảnh nhất định. Khi người nói ở ngôi thứ nhất gọi đến
người nghe bằng một ĐTNX hay một DTXH sẽ tạo ra một hoạt động, hoạt động đó
gọi là hoạt động giao tiếp. Nó có các yêu tố chi phối như vai giao tiếp, nội dung giao
tiếp, mục đích giao tiếp, ngữ cảnh giao tiếp và thái độ giao tiếp.
1.2.3. Một số vấn đề liên quan đến đơn vị tương đương trong chuyển dịch
Khi chuyển dịch từ ngôn ngữ nguồn A (tiếng Anh) sang ngôn ngữ đích B
(tiếng Việt) thì có thể khả năng xảy ra một vài trường hợp như hoàn toàn tương ứng,
không tương ứng hoàn toàn (chỉ tương ứng một phần), không tương ứng. Từ đây,
chúng tôi đưa ra biểu đồ thể hiện mối quan hệ liên cá nhân (relationship) là cái biểu
đạt và cái được biểu đạt (xem Luận án tr.32).
Vậy, dịch thuật chính là đi tìm cái tương đương trong ngôn ngữ (từ ngôn ngữ
nguồn sang ngôn ngữ đích). Mà cái được gọi là tương đương đó trong ngôn ngữ chính
là quá trình giao tiếp ngôn ngữ (quá trình chuyển dịch ngôn ngữ), quá trình này bị chi
phối bởi cái được biểu đạt là nội dung, thể loại, ý định, mục đích và phong cách của
tác giả và cái biểu đạt là đặc điểm loại hình ngôn ngữ, văn hóa của văn bản nguồn
sang văn bản đích.
1.2.3.3. Từ ngữ xưng hô trong chuyển dịch
Chuyển dịch TNXH là hoạt động chuyển đổi hình thức ngôn ngữ (về một
đơn vị nào đó của lời nói hay những tác phẩm văn bản từ ngôn ngữ nguồn sang
ngôn ngữ đích) nhưng phải đảm bảo được giá trị nội dung của ngôn ngữ nguồn.
Đây là quá trình giao lưu văn hóa xã hội giữa hai hay nhiều ngôn ngữ, đòi hỏi
những người tham gia hoạt dộng chuyển dịch hiểu rõ những đặc trưng văn hóa xã
7
hội của ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích để diễn đạt đúng, chính xác nội dung, ý
nghĩa của bản gốc.
1.2.3.4. Tính khác biệt trong chuyển dịch giữa hai ngôn ngữ qua yếu tố văn hóa
Trong hoạt động chuyển dịch giữa hai hay nhiều ngôn ngữ, bản sắc văn hóa
Ở chương 1, chúng tôi đã nêu khái niệm về lớp TXH trong tiếng Anh và trong
tiếng Việt để so sánh TNXH giữa ngôn ngữ nguồn (tiếng Anh) và ngôn ngữ đích
(tiếng Việt), trong một phạm vi hẹp là trong lời thoại nhân vật của tác phẩm Gone
with the wind và bản dịch tiếng Việt Cuốn theo chiều gió:
- Những nhân tố cơ bản của lớp TXH là: chức năng định vị, chức năng chiếu
vật, chức năng biểu thị quan hệ liên nhân để mô tả TNXH. Những chức năng này có
8
tác dụng đánh dấu vai của các thành viên trong quan hệ giao tiếp nhằm thúc đẩy cuộc
thoại tiến triển.
- Các tiểu nhóm TNXH trong giao tiếp tiếng Việt gồm: ĐTNX, DTXH như họ
và tên, danh từ tình cảm, danh từ chỉ giới tính, danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp,
danh từ thân tộc hoặc các BTXH. Chúng đều thể hiện các mối quan hệ liên cá nhân
và các nhân tố liên quan trong giao tiếp như: nội dung, mục đích và thái độ giao tiếp
ứng trong từng ngữ cảnh của các thành viên tham gia giao tiếp.
- Một số vấn đề liên quan đến những đơn vị tương đương trong nhiều ngôn ngữ
cũng được chúng tôi đề cập đến, như: các khái niệm về chuyển dịch, tính tương
đương trong chuyển dịch giữa hai ngôn ngữ và đặc biệt là các hình thức sử dụng trong
chuyển dịch giữa hai ngôn ngữ (Anh - Việt) qua yếu tố văn hóa.
- Chúng tôi đã khái quát thành bảng thống kê tổng hợp các TNXH được nhân
vật tham gia giao tiếp sử dụng trong các cuộc hội thoại ở bản gốc tiếng Anh được
chuyển dịch tương đương sang tiếng Việt. Những kết quả về số lượng thu được ở hai
ngôn ngữ làm cơ sở để đi sâu phân tích về cách sử dụng chúng ở chương hai và
chương ba để qua đó rút ra những điểm tương đồng và khác biệt của chúng, cùng
những nét văn hóa đặc trưng được thể hiện.
9
Chƣơng 2
TiếngViệt
ĐTNX
Tỉnh lược
4014
1634
143
1178
1200
915
5357
3727
34,3%
23,9%
BTXH
183
154
350
687
4,4%
- Về hình thức, sự chuyển dịch các ĐTNX từ bản gốc tiếng Anh sang bản dịch
tiếng Việt có sự thay đổi về từ loại (ĐTNX → ĐTNX và DTXH) là do một số nguyên
nhân chi phối đến các nhân vật tham gia giao tiếp theo các mối quan hệ liên cá nhân
trên hai trục (trục tung - trục hoành) hay còn gọi là trục dọc theo quan hệ giao tiếp xã
giao ngoài xã hội, vị thế xã hội và trục liên tưởng theo các mối quan hệ như quan hệ
thân thiết ((yêu thương, kính trọng, vợ chồng), quan hệ gia đình thân mật, quan hệ
bạn bè và quan hệ thù địch, hận thù ... giữa các nhân vật tham gia giao tiếp, và thể
hiện vai vế, tầng bậc trong gia đình và xã hội, tuổi tác, giới tính, chức vụ, nghề
20,2%
226
Tỉ lệ
17,7%
13,6%
BTXH
21
51
Tỉ lệ
0,5%
3,1%
10
2.2.2. Chuyển dịch đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều we, us
Số lần các ĐTNX ngôi thứ nhất số nhiều we, us được sử dụng trong [I] và các
hình thức chuyển dịch tương đương sang [II] thể hiện cụ thể trong bảng 2.3 sau:
Bảng 2.3: Số lần đại từ nhân xƣng we, us đƣợc sử dụng trong [I]
và các hình thức chuyển dịch tƣơng đƣơng sang [II]
Tiếng Anh
Tiếng Việt
ĐTNX
ĐTNX
2,9%
Us: 294
150
51%
95
32,3%
44
15%
5
1,7%
2.3. Chuyển dịch đại từ nhân xƣng ngôi thứ hai qua lời thoại nhân vật từ
[I] sang [II]
Chúng tôi thống kê số lần ĐTNX ngôi thứ hai you (vừa làm chủ ngữ, vừa làm
bổ ngữ trong câu) sử dụng trong [I] và được chuyển dịch tương đương sang [II] thể
hiện quan bảng 2.4 như sau:
Bảng 2.4: Số lần đại từ nhân xƣng ngôi thứ hai you đƣợc sử dụng trong [I]
và các hình thức chuyển dịch tƣơng đƣơng sang [II]
Tiếng Anh
Tiếng Việt
154
3,1%
143
2,9%
2.4. Chuyển dịch đại từ nhân xƣng ngôi thứ ba qua lời thoại nhân vật từ
[I] sang [II]
2.4.1. Chuyển dịch đại từ nhân xưng ngôi thứ ba số ít he, him, she, her
Số lần các ĐTNX ngôi thứ ba số ít he, him, she, her được sử dụng trong [I] và
các hình thức chuyển dịch tương đương sang [II] thể hiện cụ thể trong bảng 2.5 sau:
Bảng 2.5: Số lần đại từ nhân xƣng ngôi thứ ba số ít he, him, she, her
đƣợc sử dụng trong [I] và các hình thức chuyển dịch tƣơng đƣơng sang [II]
Tiếng Anh
Tiếng Việt
ĐTNX
DTXH
Tỉ lệ
ĐTNX
Tỉ lệ Tỉnh lược Tỉ lệ
Her: 373
145
38,9%
106
BTXH
Tỉ lệ
23,5%
93
8,8%
106
20%
46
8,7%
25,7%
137
Tỉ lệ
Tỉnh lược
Tỉ lệ
BTXH
Tỉ lệ
DTXH
Tỉ lệ
They: 655
Them: 362
409
156
62,5%
43%
202
141
30,8%
39%
156
3
76
235
2.6. Những điểm tƣơng đồng và khác biệt trong chuyển dịch đại từ
nhân xƣng
2.6.1. Những điểm tương đồng
- Cả hai ngôn ngữ Anh, Việt đều có các ĐTNX ở ba ngôi: ngôi thứ nhất, ngôi
thứ hai, ngôi thứ ba số ít và số nhiều được sử dụng qua lời thoại nhân vật khi giao
tiếp. Đồng thời, các ĐTNX đều có thể hiện sắc thái trung hòa và không có ĐTNX
nào thể hiện sắc thái lịch sự, chúng không thể hiện mối quan hệ liên cá nhân nào,
không xác định giới tính, trừ các ĐTNX ở ngôi thứ ba số ít thì có xác định giới tính là
nam hay nữ.
- Trong tiếng Anh và tiếng Việt, các ĐTNX ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba có
thể hiện số lượng là một người (số ít) hay đám đông, nhiều người (số nhiều). Ngôi
thứ hai (you) trong tiếng Anh vừa sử dụng cho cả số ít và số nhiều, còn trong tiếng
Việt thì có ĐTNX ở ngôi thứ nhất mình, ta cũng sử dụng cho cả số ít và số nhiều tùy
theo từng ngữ cảnh cụ thể.
2.6.2. Những điểm khác biệt
2.6.2.1. Khác biệt về tỉ lệ sử dụng
Từ các bảng đã nêu trên, chúng tôi thấy các TNXH là ĐTNX được các nhân
vật tham gia giao tiếp sử dụng ở bản gốc tiếng Anh nhiều hơn so với bản dịch tiếng
Việt. Điều này được thể hiện cụ thể qua bảng 2.8:
12
Bảng 2.8: Đại từ nhân xƣng đƣợc sử dụng trong giao tiếp ở [I] và [II]
Tổng số
Tổng 3 ngôi
15600
5592
2,8
ĐTNX
2.6.2.2. Những khác biệt về ngữ nghĩa, ngữ dụng và văn hóa
Chúng tôi đã đi sâu trình bày sự khác biệt TNXH qua lời thoại nhân vật trong
tiểu thuyết giữa hai ngôn ngữ Anh - Việt: về sự tương đương; về số lượng các tiểu
nhóm; về mô hình hóa các kiểu xưng hô; về sắc thái ngữ nghĩa, ngữ dụng; về văn hóa
xã hội.
2.7. Tiểu kết chƣơng 2
Ở chương này, chúng tôi rút ra những kết luận:
- Về số lượng các ĐTNX được sử dụng thể hiện qua các ngôi, các ĐTNX được
sử dụng trong [I] nhiều hơn gấp 2,8 lần so các ĐTNX được sử dụng trong [II].
- Về hoạt động chuyển dịch, các ĐTNX trong [I] được chuyển dịch tương
đương sang [II], xét theo các quan hệ về nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp và
thái độ giao tiếp khác nhau thì có sự lựa chọn TNXH khác nhau cho phù hợp với từng
ngữ cảnh giao tiếp khác nhau. Trong tiếng Việt, khi xưng hô, yếu tố tình cảm luôn
được đưa lên đầu, cùng một đối tượng, nhưng hoàn cảnh giao tiếp và nhất là tình cảm
thay đổi thì cách dùng TNXH cũng thay đổi.
- Về cách sử dụng các ĐTNX, trong tiếng Anh, các ĐTNX không thể hiện các
mối quan hệ liên cá nhân nào trên cả hai trục (trục quan hệ xã hội - trục liên tưởng
theo mối quan hệ tình cảm gia đình), không chịu tác động bởi các nhân tố như tuổi
tác, vị thế, địa vị, quan hệ và thái độ, tình cảm của các nhân vật tham gia giao tiếp.
DTXH
DTXH
Tỉ lệ
BTXH
Tỉ lệ
ĐTNX
Tỉ lệ
Tỉnh lược
Tỉ lệ
2865
1970
68,7%
784
27,4%
63
Tỉ lệ
75
4,4%
4
0,2%
4
0,2%
1710
1525
89,2%
102
6%
3.2.2. Chuyển dịch danh từ thân tộc
Số lượng được thể hiện cụ thể trong bảng sau:
Bảng 3.3: Số lần các danh từ thân tộc đƣợc sử dụng trong [I]
và các hình thức chuyển dịch tƣơng đƣơng sang [II]
Tiếng Anh
14
3.2.3. Chuyển dịch các danh từ chỉ tình cảm
Số lượng được thể hiện cụ thể qua bảng sau:
Bảng 3.4: Số lần các danh từ chỉ tình cảm đƣợc sử dụng trong [I]
và các hình thức chuyển dịch tƣơng đƣơng sang [II]
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Danh từ Tỉnh
Danh từ
Tỉ lệ DTTT Tỉ lệ BTXH Tỉ lệ
Tỉ lệ ĐTNX Tỉ lệ Tên Tỉ lệ
tình cảm lược
tình cảm
144
45
31,3%
33
22,9%
32
22,2%
2
2,8%
3.2.5. Chuyển dịch các danh từ chỉ sự lịch sự
Số lượng được thể hiện cụ thể trong bảng 3.6 sau:
Bảng 3.6: Số lần các danh từ chỉ sự lịch sự đƣợc sử dụng trong [I]
và các hình thức chuyển dịch tƣơng đƣơng sang [II]
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Danh từ chỉ Tỉnh
Tỉ lệ DTTT
sự lịch sự lược
73
38
52,1%
14
Tỉ lệ
Danh từ chỉ
sự lịch sự
Tỉ lệ
19,2%
BTXH Tỉ lệ chỉ Tỉ lệ DTTT
Tên
lệ
lệ lược lệ
lệ
tình
giới
cảm
tính
18 46,1% 5 12,8% 5 12,8% 4 10,3% 3 7,7% 3 7,7% 1 2,6%
Danh Danh
từ
từ
Tỉ
vật vật
lệ
hóa hóa
39
15
3.2.7. Chuyển dịch danh từ chức nghiệp
Số lượng được thể hiện cụ thể trong bảng 3.8 sau:
Bảng 3.8: Số lần danh từ chức nghiệp đƣợc sử dụng trong [I
và các hình thức chuyển dịch tƣơng đƣơng sang [II]
Tiếng Anh
Tiếng Việt
BTXH
BTXH
Tỉ lệ
Tỉnh lược
Tỉ lệ
DTXH
Tỉ lệ
ĐTNX
Tỉ lệ
2072
1974
95,3%
71
3,4%
21
3.4.1. Những điểm tương đồng
Trong giao tiếp tiếng Việt và tiếng Anh, các nhân vật đều có sử dụng các
DTXH và các BTXH để xưng hô có những tương đồng sau:
- Các DTXH là họ và tên, DTTT, danh từ chỉ tình cảm, danh từ chỉ giới, danh
từ chỉ sự lịch sự, danh từ vật hóa, danh từ chức nghiệp và các BTXH trong hai ngôn
ngữ đều thể hiện sắc thái biểu cảm trang trọng, lịch sự, thân mật, gần gủi, đầy tình
cảm yêu thương, trung hòa và suồng sã.
16
- Các DTXH và BTXH xưng hô ở hai ngôn ngữ (tiếng Anh và tiếng Việt) đều
có xác định giới tính ở một vài các tiểu nhóm DTXH như DTTT, danh từ chỉ giới,
danh từ chỉ sự lịch sự và một số các BTXH.
- Trong tiểu nhóm DTTT ở hai ngôn ngữ, mối quan hệ liên cá nhân, theo tầng
bậc, tuổi tác, vai vế đều được thể hiện.
- Các DTXH số nhiều (chỉ đám đông, nhiều người) đều phải được sử dụng theo
các BTXH (các tổ hợp từ) để xưng gọi.
- Các DTXH trong tiếng Anh và tiếng Việt đều không đổi hình thái khi chúng
có chức năng làm chủ ngôn (chủ ngữ) hay đối ngôn (bổ ngữ) trong câu.
Tuy vậy, giữa chúng cũng có những điểm khác biệt về số lượng và đặc điểm
ngữ nghĩa, ngữ dụng, văn hóa như sau:
3.4.2. Những điểm khác biệt
3.4.2.1. Về số lượng
Chúng tôi có số lần DTXH được sử dụng ở [II] như bảng 3.11 sau:
Bảng 3.11: Danh từ dùng để xƣng hô đƣợc sử dụng trong giao tiếp ở [I] và [II]
Ngôn ngữ
TNXH
DTXH
Tiếng Anh
có ở ngôi thứ hai và ngôi thứ ba.
- Trong tiếng Anh và tiếng Việt đều có các DTXH, nhưng trong tiếng Anh, các
nhân vật sử dụng các DTXH để “xưng - gọi” khi tham gia giao tiếp có hạn chế hơn,
17
thường chỉ được sử dụng ở chiều gọi (ngôi thứ hai) hoặc khi nhắc đến ở ngôi thứ ba
so với trong tiếng Việt, còn trong tiếng Việt, các DTXH được dùng để “xưng - gọi”
theo mối quan hệ hai chiều giữa các nhân vật tham gia giao tiếp nên phong phú, đa
dạng và tinh tế hơn trong tiếng Anh.
- Về cách sử dụng, các DTXH trong tiếng Việt được sử dụng ở dạng trực diện
và phi trực diện đều có thể kết hợp với các đại từ chỉ định (này, kia, đó), còn đối với
DTXH mang ý nghĩa số nhiều thì phải thêm từ (các, mấy, những, chúng…) vào trước
các DTXH, còn các DTXH trong tiếng Anh, trong dạng phi trực diện mới có sự kết
hợp với các đại từ chỉ định khoảng cách (that, those), còn đối với số nhiều thì có
thêm s hoặc es vào sau các DTXH.
- Về sắc thái tình cảm, trong tiếng Việt và tiếng Anh, DTXH đều có thể hiện
sắc thái biểu cảm là trang trọng, lịch sự, thân mật, gần gũi, yêu thương, trung hòa hay
suồng sã. Tuy nhiên, trong tiếng Việt thường hay thể hiện đa dạng, phong phú sắc
thái biểu cảm từ trang trọng lịch sự, yêu thương tình cảm, thân mật, gần gũi hay
suồng sã qua các DTXH được sử dụng, trong khi trong tiếng Anh thì rất hiếm có
DTXH thể hiện sắc thái suồng sã kể cả các ĐTNX.
- Về ý nghĩa, trong tiếng Việt có sự phân bố đều ở các sắc thái như: ít mang sắc
thái trang trọng, lịch sự, mà chủ yếu mang ý nghĩa với sắc thái thân mật, biểu cảm,
suồng sã, không lịch sự nên khi muốn thể hiện thái độ lịch sự, trang trọng, tình cảm
thì người nói không thể dùng TNXH bằng ĐTNX, mà phải sử dụng TNXH là DTXH
như DTTT, họ/ tên… đặc biệt là giao tiếp trong văn chương, nghệ thuật.
18
4.2.1.1. Kết quả nghiên cứu trong hoạt động chuyển về các đại từ nhân xưng
Có thể chuyển dịch các ĐTNX thành ĐTNX, DTXH thành DTXH nhưng cũng
có thể dịch chuyển theo hình thức phải chuyển đổi từ loại hoặc phải sử dụng cả các
BTXH ở dạng tương ứng chính xác nhất của ngôn ngữ đích cho phù hợp với từng
ngữ cảnh, phong tục tập quán, văn hóa của chúng và ngược lại, từ ngôn ngữ nguồn
(tiếng Việt) sang ngôn ngữ đích (tiếng Anh). Ngoài ra, bên cạnh việc chuyển đổi từ
loại cho phù hợp, chúng tôi thấy có hiện tượng tỉnh lược TNXH và hiện tương thêm
TNXH vào trong câu cho rõ nghĩa.
19
4.2.1.2. Kết quả nghiên cứu trong hoạt động dịch về các danh từ dùng để xưng hô
Việc chuyển dịch một DTXH từ một ngôn ngữ nguồn (tiếng Anh) sang ngôn
ngữ đích (tiếng Việt) hay ngược lại (từ tiếng Việt sang tiếng Anh) thì thường không
tương ứng chính xác với ngôn ngữ nguồn về từ loại, về ý nghĩa từ vựng ban đầu ở
bản gốc, nên nhiều lúc phải chuyển đổi từ loại hoặc phải sử dụng ý nghĩa tương
đương bằng các BTXH ở dạng tương ứng chính xác nhất của ngôn ngữ đích cho phù
hợp với từng tình huống ngữ cảnh, phong tục tập quán, văn hóa của mỗi ngôn ngữ và
ngược lại, hoặc phải sử dụng nghĩa bóng (danh từ được nhân hoá) hay biểu tượng nào
đó gắn với đặc trưng văn hóa của ngôn ngữ đích, thông dụng hơn so với ý nghĩa của
ngôn ngữ nguồn.
4.2.2. Kết quả nghiên cứu trong hoạt động dạy - học các đơn vị từ ngữ xưng hô
4.2.2.1. Những kết quả nghiên cứu trong hoạt động dạy - học về các đại từ
nhân xưng
Có thể chuyển dịch các ĐTNX thành ĐTNX, DTXH thành DTXH nhưng cũng
có thể dịch chuyển theo hình thức phải chuyển đổi từ loại hoặc phải sử dụng cả các
BTXH ở dạng tương ứng chính xác nhất của ngôn ngữ đích cho phù hợp với từng
ngữ cảnh, phong tục tập quán, văn hóa của chúng và ngược lại, từ ngôn ngữ nguồn
(tiếng Việt) sang ngôn ngữ đích (tiếng Anh).
4.2.2.2. Kết quả nghiên cứu trong hoạt động dạy - học về các danh từ dùng để
Tỉnh lược
ĐTNX
20
4.2.3.2. Những đề xuất ứng dụng trong hoạt động dịch các danh từ dùng để
xưng hô
Tuỳ theo ngữ cảnh, hoàn cảnh của cuộc thoại mà có sự chuyển dịch cho
phù hợp, cụ thể ở đây là DTXH từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại, từ tiếng
Việt sang tiếng Anh, được thể hiện cụ thể qua bảng 4.4 sau:
Bảng 4.4: Những đề xuất trong hoạt động dịch các danh từ dùng để xƣng hô
Tiếng Việt
Tiếng Anh Tương đương Tương đương
hoàn toàn
một phần
DTXH
DTXH
BTXH
Không tương đương
Thoát nghĩa
ĐTNX
Tỉnh lược
Tỉnh lược
Thêm từ
DTXH
21
- Khi dạy và học tiếng, người dạy, người học không chỉ chú ý về từ vựng mà
còn phải hiểu rõ về các yếu tố liên quan đến chúng, cũng như cách sử dụng, vị trí của
chúng trong câu, cùng với những biểu hiện về sắc thái tình cảm, văn hóa.
Trong tiếng Anh, các TNXH ít thể hiện theo mối quan hệ liên cá nhân, đặc biệt
là không có ĐTNX nào có thể hiện theo mối quan hệ liên cá nhân... còn trong tiếng
Việt, các TNXH là ĐTNX cũng ít thể hiện mối quan hệ liên cá nhân, nhưng các
DTXH thường có thể hiện mối quan hệ liên cá nhân là thứ bậc, tôn ty, vai vế, tuổi
tác... vì trong cách xưng - gọi ở tiếng Việt được xem là cách xưng - gọi theo nghi
thức, tôn ty, chuẩn mực.
22
KẾT LUẬN
TXH trong tiếng Anh và tiếng Việt đã được nhiều tác giả nghiên cứu nhưng
việc chuyển dịch TXH trong một tác phẩm cụ thể thì chưa có tác giả nào. Luận án tập
trung khảo sát cách sử dụng, biểu hiện cụ thể cách chuyển dịch đơn vị TNXH của
nhân vật từ bản gốc Gone with the wind sang bản dịch Cuốn theo chiều gió. Với nội
dung trình bày, chúng tôi rút ra những kết luận sau:
1. Xưng hô là một hành vi ngôn ngữ được thực hiện trong giao tiếp, nó chỉ
diễn ra trong hội thoại do các nhân vật tham gia giao tiếp sử dụng. Từ lý thuyết hội
thoại và chức năng xưng hô cho thấy, các nhân tố như độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp,
chức vụ, tình huống giao tiếp... luôn tác động đến việc sử dụng TNXH. TNXH là
những đơn vị ngôn ngữ, văn hóa được biểu hiện qua những tình huống giao tiếp khác
nhau. Nó gắn chặt với các yếu tố như vai giao tiếp và các mối quan hệ giữa các nhân
vật tham gia giao tiếp và chính những mối quan hệ liên cá nhân này đã góp phần
quyết định đến việc lựa chọn và sử dụng các TNXH phù hợp với tình huống, đồng
thời cũng ảnh hưởng đến diễn biến của cuộc thoại.
bổ ngữ. Khi làm bổ ngữ thì nó có sự biến đổi hình thái (biến thể), trong khi trong
tiếng Việt không có sự biến đổi này.
3. DTXH gồm họ và tên, DTTT, danh từ chỉ tình cảm, danh từ chỉ giới, danh từ
chỉ sự lịch sự, danh từ vật hóa, danh từ chức nghiệp... trong tiếng Anh và tiếng Việt
có những điểm giống nhau là thể hiện sắc thái biểu cảm trang trọng, lịch sự, thân mật,
gần gũi, đầy tình cảm yêu thương, trung hòa và suồng sã; có xác định giới tính (ở một
vài các tiểu nhóm DTXH như DTTT, danh từ chỉ giới, danh từ chỉ sự lịch sự và một
số các BTXH); trong tiểu nhóm DTTT ở hai ngôn ngữ đều có thể hiện mối quan hệ
liên cá nhân theo tầng bậc, tuổi tác, vai vế; đều không biến đổi hình thái khi chúng có
chức năng làm chủ ngôn hay đối ngôn trong câu.
4. Trong giao tiếp, việc sử dụng ĐTNX hay DTXH giữa các nhân vật với nhau,
thường theo nghi thức, chuẩn mực, có lựa chọn, không tùy tiện nhưng cũng không
tránh được những trường hợp xưng hô thái quá, thể hiện thái độ thiếu bình tĩnh, thiếu
kiềm chế, dẫn đến một vài trường hợp dùng TNXH không chuẩn mực. Và trong
phạm vi của tác phẩm văn chương nghệ thuật, các nhân vật tham gia giao tiếp bằng
tiếng Việt và tiếng Anh đều có dùng TNXH, nhưng với số lần sử dụng và cách thức
xưng hô có những điểm giống nhau và khác nhau. Điều này cho thấy, chúng không
những khác nhau về mặt ngôn ngữ mà còn khác nhau về văn hóa, xã hội. Vì vậy,
người sử dụng luôn phải đề cao nguyên tắc chuẩn mực trong việc lựa chọn TNXH và
buộc các thành viên tham gia hoạt động chuyển dịch luôn tuân thủ một cách nghiêm
ngặt, tạo nền tảng vững chắc trong công cuộc phát huy và giữ gìn bản sắc văn hóa
truyền thống tốt đẹp của ông cha ta từ ngàn xưa để lại.
5. Do nhiều yếu tố chi phối, giữa các nhân vật tham gia giao tiếp trong tiếng
Anh và tiếng Việt đều có những mối quan hệ liên cá nhân, thể hiện trên hai trục: a)
trục tung (hay còn gọi là trục dọc) – thể hiện quan hệ giao tiếp xã giao ngoài xã hội,
vị thế xã hội, và b) trục hoành (hay còn gọi là trục liên tưởng) – thể hiện các quan hệ
thân thiết ((yêu thương, kính trọng, vợ chồng), quan hệ gia đình thân mật, quan hệ
bạn bè và quan hệ thù địch, hận thù... giữa các nhân vật tham gia giao tiếp và thể hiện
vai vế, tầng bậc trong gia đình và xã hội, tuổi tác, giới tính, chức vụ, nghề nghiệp,
thái độ, tình cảm... Tuy nhiên, trong giao tiếp tiếng Anh, TNXH ít thể hiện các mối