BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
--------***-------
TRẦN VĂN PHƯỢNG
HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CÕI NGƯỜI RUNG CHUÔNG TẬN
THẾ VÀ MƯỜI LẺ MỘT ĐÊM CỦA HỒ ANH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
VINH – 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
--------***-------
TRẦN VĂN PHƯỢNG
HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CÕI NGƯỜI RUNG CHUÔNG TẬN
THẾ VÀ MƯỜI LẺ MỘT ĐÊM CỦA HỒ ANH THÁI
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60.22.01
Chương 1:Những giới thuyết liên quan đến đề tài...........................
10
1.1 Vấn đề lý thuyết hội thoại..............................................................................
10
1.2. Lí thuyết hành động ngôn ngữ......................................................................
17
1.3. Hồ Anh Thái cuộc đời và sự nghiệp.............................................................
19
6
1.4.
Thống kê định lượng và phân loại tổng quát các hành động ngôn ngữ
qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận
thế và Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái
..............................................................................................................
23
1.5. Tiểu kết chương 1.........................................................................................
29
Chương 2:Hành động hỏi qua lời thoại nhân vật trong
tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế và
Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái...................................................
31
2.1. Hành động hỏi qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết Cõi người rung
chuông tận thế và Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái........................................
31
8
đêm của Hồ Anh Thái...................................................................................
68
3.1. Hành động trần thuật qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết Cõi
người rung chuông tận thế và Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái.....................
68
3.1.1. Khái niệm hành động trần thuật................................................................
68
3.1.2. Dấu hiệu nhận biết hành động trần thuật qua lời thoại nhân vật
trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế và Mười lẻ một đêm của
Hồ Anh Thái........................................................................................................
69
3.1.3. Điều kiện thực hiện hành động trần thuật qua lời thoại nhân vật
trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế và Mười lẻ một đêm của
Hồ Anh Thái........................................................................................................
76
3.2. Phân loại các tiểu nhóm hành động trần thuật qua lời thoại nhân vật
trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế và Mười lẻ một đêm của
Hồ Anh Thái........................................................................................................
80
3.2.1. Hành động trần thuật thông báo.................................................................
82
3.2.2. Hành động trần thuật kể.............................................................................
86
3.2.3. Hành động trần thuật giải trình..................................................................
quan tâm và thu được những thành công bước đầu. Trong đó, việc đi sâu
nghiên cứu các hành động nói là một hướng nghiên cứu mới. Cùng với việc
nghiên cứu hành động ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày thì lời thoại nhân
vật trong tác phẩm văn chương cũng là một hướng được quan tâm khi nghiên
cứu văn bản nghệ thuật. Trong tác phẩm, hệ thống lời thoại giúp nhà văn bộc
lộ thể hiện được chủ đề tư tưởng và chiều sâu tâm lí nhân vật, từ đó giúp nhà
nghiên cứu tìm hiểu phong cách tác giả. Chính vì vậy, việc tìm hiểu các dạng
hành động nói trong lời thoại nhân vật đóng vai trò không kém phần quan
trọng giúp thể hiện thế giới nghệ thuật của nhà văn.
1.3. Tìm hiểu đặc điểm lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết của Hồ Anh
Thái không chỉ giúp chúng ta thấy được phong cách nghệ thuật của nhà văn
Hồ Anh Thái, mà còn cho chúng ta thấy được đặc điểm ngôn ngữ của tiểu
11
thuyết hậu hiện đại, thấy được sự đa dạng của lời thoại, từ đó góp phần củng
cố lí thuyết hội thoại nói riêng và Ngữ dụng học nói chung.
Với ba lí do trên đây, chúng tôi chọn đề tài để tìm hiểu sâu, đó là:
“Hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết Cõi người
rung chuông tận thế và Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái”.
2. Lịch sử vấn đề
2.1.Về lí thuyết hội thoại
Thế kỉ XXI Ngữ dụng học lên ngôi mở ra chương mới về khám phá tác
phẩm, trong đó lời thoại nhân vật là lĩnh vực được các nhà nghiên cứu ngôn
ngữ quan tâm và cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hội
thoại.
Người khởi đầu là Ch. Morris (1938) đã đưa ra lí thuyết ba bình diện khi
xem xét hệ thống kí hiệu ngôn ngữ với tư cách là bộ môn kí hiệu học. Sau đó
hàng loạt nhà ngôn ngữ kế thừa và phát triển lí thuyết của ông với các công
cũng như vận dụng lý thuyết Hành động ngôn ngữ của một số nhà Ngữ dụng
học nổi tiếng trên thế giới vào nghiên cứu các hành động nói trong tiếng
Việt. Nguyễn Đức Dân trong cuốn Ngữ dụng học (1998) cũng đã trình bày lí
luận về hành động ngôn ngữ và lí thuyết hội thoại. Nguyễn Thiện Giáp trong
cuốn Dụng học Việt ngữ đã giới thiệu một số khái niệm dụng học như: Ngữ
cảnh và ý nghĩa, Lí thuyết hội thoại, Lịch sự và giao tiếp, Nguyên tắc cộng
tác và hàm ý hội thoại. Tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong cuốn Ngữ nghĩa lời
hội thoại (1999), Giáo trình ngữ dụng học (2005) đã đề cập đến lời hội thoại
nhân vật trong tác phẩm cụ thể. Ngoài ra còn phải kể đến một số không ít
luận án, luận văn đề cập đến những vấn đề liên quan đến lý thuyết hội thoại
và lý thuyết hành động ngôn ngữ.
2.2. Lịch sử nghiên cứu lý thuyết hội thoại được vận dụng trong tác
phẩm của Hồ Anh Thái
- Lý thuyết hội thoại được nghiên cứu trong tác phẩm văn chương
13
Cho đến nay, lí thuyết hội thoại được vận dụng để soi sáng trong tác
phẩm văn chương đã thu hút rất nhiều đề tài từ khoá luận, luận văn, luận
án, như Luận án tiến sĩ Hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao của Mai Thị
Hảo Yến (2000); Ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng của
Đinh Trí Dũng (1999); Hiệu quả nghệ thuật của lời thoại nhân vật trong
truyện ngắn Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp của Nguyễn Thị Hương
(1999)... Những công trình trên đã có những đóng góp nhất định trong việc
khám phá một số đặc trưng hội thoại thể hiện qua lời thoại nhân vật cụ thể
trong tác phẩm.
- Nghiên cứu hội thoại trong tác phẩm Hồ Anh Thái
Về phương diện văn học, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu tác
phẩm của Hồ Anh Thái được quan tâm và chú trọng. Trong bài viết của Lê
mới, chuyển hướng nghiên về màu sắc trào lộng, giễu cợt, mỉa mai. Hầu hết
các bài viết về tiểu thuyết đều đánh giá cao tác phẩm ở chất hài hước nghịch
dị. Nguyễn Thị Minh Thái trong bài Mười lẻ một đêm, cái nhìn hắt sáng từ
phía sau, đánh giá rất cao lối viết mới, giọng kể mang tính thông tấn, góc
nhìn ở vị thế hắt sáng phía sau từ bản thể, giọng điệu tiểu thuyết giễu nhại
thâm sâu, sáu nhân vật như sáu mặt cục rubic, tác giả khéo xoay ngang tạt
dọc thành đủ chuyển vần thành một sân khấu cuộc đời để ta chiêm nghiệm
đau xót suy tư.
Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế có rất nhiều bài nhận định
đánh giá về tác phẩm, về cuộc đấu tranh dữ dội giữa cái thiện cái ác của cõi
người. Cái mới ở đây là tác giả đã đứng trên cổ xe của cái ác để hoá thân vào
cái ác để tìm ra nguyên nhân. Nguyễn Thị Minh Thái trong bài Giọng tiểu
thuyết đa thanh nhận định: Cõi người rung chuông tận thế nhà văn đã biết kể
một câu chuyện về cái ác bằng giọng kể đa thanh, đa thanh trên nền những suy
tưởng trữ tình, đa thanh và trữ tình đến mức nhà văn cũng không buồn phân
thân triệt để thành nhân vật ngôi thứ ba nữa (…) Hồ Anh Thái thoải mái tham
15
gia bàn luận suốt chiều dài cuốn tiểu thuyết bằng một giọng hài hước riêng,
mà cuối giọng hài hước ấy có tiếng nói thầm của những giọt nước mắt lặng lẽ
không bật thành tiếng khóc (…) Một cuốn tiểu thuyết được nén chặt như thể
chính là để bung ra tất yếu trong cái kết thúc, và hình như càng nén chặt thì
càng phát sáng trong sự bung ra của tư tưởng.[I,tr.274-274].
Ngoài ra có thể kể đến một số luận văn:
- Nguyễn Thị Hoà, Ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ trong tư duy nghệ
thuật Hồ Anh Thái, Luận văn Thạc sĩ, Vinh, 2009.
- Trần Hữu Thiện, Tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Hồ Anh Thái,
Luận văn Thạc sĩ, Vinh, 2009.
dưới cái nhìn Ngữ dụng học là phải mô tả những đặc điểm của các đơn vị hội
thoại, được thực hiện trong những hoàn cảnh khác nhau, nhằm đạt tới mục
đích đa dạng trong giao tiếp bằng những lời nói giữa các nhân vật trong tác
phẩm. Cụ thể chúng tôi đi sâu nghiên cứu các hành động ngôn ngữ qua lời
thoại nhân vật trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, gồm:
1. Mười lẻ một đêm, NXB Lao động, năm 2009.
2. Cõi người rung chuông tận thế, NXB Lao động, năm 2009.
3.2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài này hướng đến mục đích là xem xét đặc điểm hội thoại dưới góc
nhìn ngữ dụng học trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, thể hiện qua việc nói năng
của nhân vật ở các hoàn cảnh khác nhau, với những tâm trạng, vị thế, đích
giao tiếp khác nhau, để nhằm bổ sung cho lí thuyết hội thoại.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện những mục đích nêu trên chúng tôi xác định các nhiệm vụ
cụ thể sau:
- Tìm hiểu một số vấn đề về lí thuyết ngôn ngữ như: Lý thuyết hội thoại,
Lí thuyết về hành động ngôn ngữ.
17
- Thống kê phân loại lời thoại của các nhân vật và các hành động ngôn
ngữ qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế và
Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái.
- Phân tích ngữ nghĩa của một số hành động ngôn ngữ tiêu biểu qua lời
thoại nhân vật trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế và Mười lẻ
một đêm của Hồ Anh Thái.
- Rút ra những nhận xét đánh giá qua việc mô tả phân tích lời thoại nhân
vật, hành động ngôn ngữ trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế và
Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái.
người rung chuông tận thế và Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái.
Chương 3: Hành động trần thuật qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết
Cõi người rung chuông tận thế và Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái.
19
Chương 1
NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Lý thuyết hội thoại
1.1.1. Khái niệm
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó
cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác.
Theo “từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học”: “Hội thoại là hoạt động giao
tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội
dung miêu tả và liên cá nhân theo mục đích đề ra” [53, tr.122].
Theo tác giả Đổ Thị Kim Liên: “Hội thoại là một trong những hoạt động
ngôn ngữ thành lời giữa hai hay nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh
nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành
vi nhận thức nhằm đi đến một mục đích nhất định” [35, tr.25].
Như vậy hội thoại là hành động tiếp xúc giữa con người với con người
trong xã hội thông qua một số phương tiện nhất định, nhằm một mục đích nào
đó, trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất. Hoạt động này bao
gồm các yếu tố: Trao lời (allocution), đáp lời (exchange) và sự tương tác
(interation).
Trao lời: Là vận động của người nói, nói ra và hướng lời nói của mình về
phía người nhận. Bình thường người nói và người nhận khác nhau (trừ trường
hợp độc thoại). Tuy vậy, ngay cả trong trường hợp độc thoại, ở người nói
cũng có sự tự phân đôi thành hành động trao đáp. Còn bình thường người nói
trao lời không chỉ có hành động ngôn ngữ mà còn có cả những vận động cơ
giao với nhau. Vừa là cái chịu tác động vừa là phương tiện sử dụng để gây tác
động đối với lời nói và qua lời nói mà tác động đến tâm lý, sinh lý, vật lý của
người nói và người nghe.
Hội thoại tồn tại dưới hai dạng:
21
Lời ăn tiếng nói thể hiện trong sinh hoạt hằng ngày của con người.
Lời trao đáp của các nhân vật hội thoại đã được chủ thể nhà văn tái tạo,
sáng tạo và thể hiện trong tác phẩm văn học.
Với đề tài này, chúng tôi đề cập tới lời thoại nhân vật trong tác phẩm văn
học.
1.1.2. Quy tắc hội thoại
Quy tắc hội thoại chính là những quy tắc tổ chức và liên kết hội thoại,
những kiểu quan hệ, ngữ nghĩa, ngữ dụng đa dạng giữa các hành động ngôn
ngữ trong giao tiếp.
1.1.2.1. Quy tắc luân phiên lượt lời
Do bản chất tuyến tính nên sự giao tiếp bằng lời đòi hỏi phải giảm thiểu
đến mức thấp nhất sự dẫm đạp lên lời của nhau, vì thế khi hai người hội thoại,
người kia phải nói khi người này nhường lời theo cách lời người này kế tiếp
lời người kia. Dấu hiệu để nhận biết một lượt lời đã kết thúc bao gồm: Hoàn
chỉnh về cú pháp, trọn vẹn về nội dung, có ngữ điệu kết thúc, các hư từ.
<3> a- Xử lí ngay được chưa?
b- Chưa, tối nay mày đi cùng tau được không? [I,tr.46]
Ở <3> có hai lượt lời, lượt lời (a) là của Bóp và lượt lời (b) là của Phủ.
Lượt lời (a) của Bóp trong khi tức giận và phát hiện ra kẻ đã giết Cốc. Nên
Bóp hỏi đã “xử lí ngay được chưa?” dấu hiệu kết thúc lượt lời là: Trọn vẹn về
nội dung hành động hỏi, có phụ từ “chưa” đặt ở cuối câu, có ngữ điệu kết
thúc, có dấu chấm hỏi. Sau đó là lượt lời của Phủ.
Cố thì cộc lốc “Ba nghìn” và khi đạt được mục đích thì Mụ Thắng Cố không
nói gì nữa cuộc thoại cũng kết thúc.
1.1.2.3. Quy tắc chi phối quan hệ liên nhân trong hội thoại
Đây là quy tắc xét trong mối tương quan xã hội, quan hệ giữa các cá
nhân giao tiếp với nhau. Nó được xét trên hai trục: trục tung và trục hoành.
23
Trục tung là trục vị thế xã hội hay còn gọi là trục quyền uy (Power). Trục
hoành là trục quan hệ khoảng cách hay còn gọi là trục thân cận (Solidarity)
a. Quan hệ vị thế: Quan hệ này được xét trên trục tung, thể hiện cá nhân
giao tiếp có vị thế khác nhau. Đặc trưng của quan hệ này là tính quyền lực và
tính tương đối. Nó phụ thuộc vào yếu tố khách quan trong giao tiếp như học
vấn, chức vụ, tuổi tác, kinh tế, chức vụ... những yếu tố này chi phối quan hệ
giao tiếp. Tuy nhiên còn tuỳ thuộc vào tình huống cụ thể mà các yếu trên phát
huy tác dụng.
b. Quan hệ thân cận: Quan hệ này được thể hiện trên trục hoành chỉ rõ
mối quan hệ gần gủi hay xa cách giữa các nhân vật tham gia giao tiếp. Mối
quan hệ này có thể thay đổi trong quá trình tham gia giao tiếp. Việc lựa chọn
hành động ngôn ngữ trong hội thoại phụ thuộc vào khoảng cách giữa các nhân
vật tham gia giao tiếp như họ hàng, quen biết, không quen biết...khoảng cách
càng lớn thì ngôn ngữ càng khách sáo, khoảng cách càng nhỏ thì ngôn ngữ
càng suồng sã thân mật. Với cùng một đề tài giao tiếp, một khung cảnh nhưng
với hai đối tượng khác nhau thì sẽ có việc lựa chọn hành động ngôn ngữ khác
nhau để giao tiếp với từng đối tác.
1.1.3. Những nhân tố chi phối hội thoại
1.1.3.1. Nhân vật
Nhân vật là những con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn
học là yếu tô cơ bản nhất để bộc lộ tư tưởng chủ đề. Nhân vật văn học là “
Ngữ cảnh hẹp: gồm toàn bộ không gian thời gian cụ thể ở đó cuộc giao
tiếp diễn ra.
Ngữ cảnh chính là bối cảnh ngôn ngữ làm cơ sở cho việc sử dụng từ ngữ
và tạo lập lời nói, đồng thời làm căn cứ để lĩnh hội thấu đáo lời nói. Trong
giao tiếp ngữ cảnh rộng và ngữ cảnh hẹp luôn đi liền với nhau, ngữ cảnh hẹp
25
như là những nhát cắt thời gian của cuộc sống hiện thực được kết nối với ngữ
cảnh rộng.
1.1.3.3. Nội dung giao tiếp
Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình giao tiếp thể hiện ở thông tin
cần truyền đạt. Thông tin cần phải được cấu trúc như thế nào để nó phản ánh
được nội dung cần truyền đạt cũng như đến với người nghe với kết quả cao
nhất. Đối với chủ thể giao tiếp thông tin có thể biết hoặc chưa biết, muốn biết
hoặc không muốn biết. Nội dung thông tin có thể đem lại điều tốt lành hay
thất thiệt, hoặc đơn giản chỉ là một thông báo. Tuy nhiên nôi dung mệnh đề
phải được thực hiện bởi một hành động ngôn từ.
1.1.3.4. Đích giao tiếp
Đích giao tiếp là kết quả cuối cùng của cuộc giao tiếp. Tuỳ vào hành
động ngôn từ cũng như một số nhân tố quy định, sự hiểu biết của người nghe,
văn hoá, xã hội, sự hiểu biết về quá khứ, tương lai...mà đích giao tiếp khác
nhau. Đích phản ánh sự tình là hành động trần thuật. Đích muốn thực hiện
hành động nào đó là hành động cầu khiến. Đích là muốn giải toả những dồn
nén trí tuệ, tình cảm là hành động bày tỏ... Có những hành động thực hiện
đồng thời nhưng đích khác nhau, người nói có thể dùng dạng thức hành động
ngôn từ này để bày tỏ hành động ngôn từ khác. Nhờ đích mà người nghe vừa
nhận được thông tin vừa có thể thay đổi trạng thái nhận thức. Khi giao tiếp
nếu đạt được đích mà người nói đặt ra thì hành vi đó đạt được đích giao tiếp.