Header Page 1 of 166.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
----------------------------
HÀ THỊ HỒNG
KHẢO SÁT ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH
TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Thái nguyên - 2008
Footer Page 1 of 166.
Header Page 2 of 166.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
----------------------------
HÀ THỊ HỒNG
KHẢO SÁT ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH
TỈNH BẮC KẠN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ
: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Header Page 4 of 166.
Mục lục
Mục lục……………………………………………………………………..…3
Mở đầu ………………………………………………………………….……7
I. Lý do chọn đề tài ……………………………………………………….…7
II. Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu …………………………...8
III. Lịch sử vấn đề ………………………………………………………….............8
IV. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ………………………….…..10
V. Phương pháp và tư liệu nghiên cứu …………………………………..11
VI. Cấu trúc luận văn …………………………………………………………….12
Chương 1: cơ sở lý thuyết liên quan đến địa danh và địa danh học ………......................................15
1.1. Khái niệm về địa danh..………………………………………….…15
1.1.1. Định nghĩa địa danh ………………………………………………...15
1.1.2. Địa danh hành chính ………………………………………………..18
1.2. Phân loại địa danh. …………………………………………………....19
1.3. Đặc điểm của địa danh …………………………………………….….20
1.4. Các phương diện nghiên cứu địa danh ………………………………21
1.5. Những nét chính về địa bàn liên quan đến địa danh hành chính tỉnh Bắc
Kạn …………………………………………………………………….........22
1.5.1. Về địa lý ……………………………………………………………...22
1.5.2. Về lịch sử …………………………………………………………….23
1.5.3. Về văn hoá…………………………………………………………...26
1.5.4. Về dân cư…………………………………………………………….27
1.5.5. Về ngôn ngữ…………………………………………………………29
1.6. Tiểu kết ………………………………………………………………..30
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của địa danh hành chính tỉnh Bắc Kạn …….......................32
2.1. Mô hình cấu trúc phức thể địa danh hành chính tỉnh Bắc Kạn …..32
2.2. Thành tố chung ……………………………………………………….33
2.5.1.1. Phương thức cấu tạo mới…………………………………………...41
2.5.1.2. Phương thức chuyển hoá…………………………………………...45
2.5.1.3. Phương thức vay mượn…………………………………………......47
2.5.2. Đặc điểm cấu tạo hình thức ……………………………………...…48
2.5.2.1. Nhận xét khái quát về các kiểu cấu tạo địa danh…………………..49
2.5.2.2. Đặc điểm của một số kiểu cấu tạo địa danh do phương thức định danh
chi phối……………………………………………………………….. .........53
2.6. Tiểu kết ………………………………………………………………...57
Chương 3: Đặc điểm về ý nghĩa của địa danh hành chính tỉnh Bắc kạn .............................59
3.1. Mối quan hệ giữa ý nghĩa địa danh và hiện thực được phản ánh ….59
3.2. Tính rõ ràng về nghĩa của các yếu tố trong địa danh thể hiện qua nguồn
gốc ngôn ngữ……………………………………………………… .......... .61
3.2.1. Hiện tượng các yếu tố rõ ràng về nghĩa ……………………………61
Footer SốPage
of tâm
166.
hóa bởi5
Trung
Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Header Page 6 of 166.
3.2.2. Hiện tượng các yếu tố chưa rõ ràng về nghĩa ………………………
3.3. Các yếu tố trong địa danh hành chính tỉnh Bắc Kạn phản ánh tính đa
dạng các loại hình đối tượng địa lý và mang tính cảnh quan rõ nét.......62
I. Lý do chọn đề tài
1. Địa danh là một bộ phận từ vựng trong vốn từ vựng của ngôn ngữ
nói chung và tiếng Việt nói riêng. Nghiên cứu địa danh một vùng cung cấp
cho ta những cơ sở để tím hiểu những cơ chế định danh của một sự vật hiện
tượng. Mỗi ngôn ngữ có cách định danh riêng.
2. Địa danh liên quan chặt chẽ đến lịch sử, văn hoá, cư dân của một
vùng nhất định. Địa danh lưu giữ những trầm tìch về lịch sử, văn hoá, phong
tục, tập quán của cư dân ở một vùng đất. Nghiên cứu địa danh sẽ giúp nghiên
cứu văn hoá, lịch sử của vùng đất ấy.
3. Địa danh có những nguyên tắc riêng trong cấu tạo, trong cách gọi
tên, có thể một vùng đất có nhiều tên gọi khác nhau, trải qua nhiều giai đoạn
lịch sử khác nhau. Nghiên cứu địa danh giúp nghiên cứu lịch sử phát triển
của một vùng đất, giúp khám phá sự ảnh hưởng và tác động của những nhân
tố bên ngoài vào cách đặt địa danh: Đất nước học, tôn giáo, tìn ngưỡng, lịch
sử tộc người …Mặt khác địa danh, nhất là địa danh hành chình, thường là
sản phẩm của một chế độ nhất định. Nó được gọi tên bởi những quan điểm,
chình sách, ý tưởng của chình quyền hoặc dân chúng đương thời. Trong hoàn
cảnh một vùng đất có nhiều dân tộc nối tiếp nhau sinh sống, địa danh có
nhiều dấu tìch từ vựng của các ngôn ngữ. Mỗi địa danh được hính thành
trong một hoàn cảnh văn hoá, lịch sử nhất định và còn lưu dấu mãi về sau.
Nhiều địa danh thường mang tên người, cây cỏ, cầm thú, sự vật, địa hính
thiên nhiên…Tất cả những điều ấy cho thấy địa danh trở thành “vật hoá
thạch”, “tấm bia bằng ngôn ngữ độc đáo về thời đại mà nó chào đời”.
4. Bắc Kạn là một trong những chiếc nôi của cách mạng. Nghiên cứu
địa danh hành chình tỉnh Bắc Kạn giúp chúng ta tím hiểu một chặng đường
lịch sử lâu dài và hào hùng của dân tộc ta; giúp chúng ta học tập, giữ gín
5
Footer Page
166.
Trung Quốc, ngay từ thời Đông Hán (32 – 92 sau công nguyên), Ban Cố đã
ghi chép hơn 4000 địa danh, trong đó một số một số đã được giải thìch rõ
nguồn gốc và ý nghĩa. Đến thời Bắc Nguỵ (380 - 535), trong “Thuỷ Kinh
Chú sớ”, Lịch Đạo Nguyên chép hơn 2 vạn địa danh, số được giải thìch ngữ
nguyên là trên 2300. [11], [31].
ở các nước phương Tây, bộ môn địa danh học chình thức ra đời vào
cuối thế kỷ XIX. Năm 1872, J.J. Eghi (Thuỵ Sĩ) viết “Địa danh học” và năm
6
Footer Page
166.
Số hóa8
bởiof
Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Header Page 9 of 166.
1903, J.W. Nagl (người Áo) cũng cho ra đời tác phẩm “Địa danh học”.
Những năm 90 của thế kỷ XIX và 20 năm đầu của thế kỷ XX, hàng loạt Uỷ
ban địa danh của các nước như Mỹ, Thuỵ Điển, Anh được ra đời. Thời kỳ
đầu, các tác phẩm địa danh học chú trọng khảo chứng nguồn gốc địa danh.
Từ thế kỷ XX, bước vào giai đoạn nghiên cứu tổng hợp về địa danh. J.
Gilliénon (1854 - 1926) đã viết “Atlát ngôn ngữ Pháp”, nghiên cứu địa
danh theo hướng phát triển địa lý học. Năm 1926, A. Dauzat (người Pháp) đã
viết “Nguồn gốc và sự phát triển địa danh”, đề xuất phương pháp văn hoá
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Header Page 10 of 166.
giả còn quan tâm đến các vấn đề khác như tình liên tục của tên gọi, không
gian tên riêng và các loại địa danh (địa danh kì hiệu, địa danh mô tả, địa
danh đăng kì, địa danh ước vọng) cũng như tên gọi các đối tượng địa lý theo
loại hính…Có thể nói đây là công trính có giá trị tổng kết những kết quả
nghiên cứu mới, làm cơ sở vững chắc cho sự nghiên cứu địa danh tiếp theo ở
Liên bang Xô Viết trước đây. Ngoài các nhà địa danh Xô Viết, những người
nghiên cứu địa danh ở các nước khác cũng đã góp phần cho sự phong phú,
đa dạng về những vấn đề nghiên cứu trong lĩnh vực này. Chẳng hạn,
Ch.Rostaing (1965) với “Les noms de lieux” đã chú trọng trong việc nêu ra
hai nguyên tắc nghiên cứu địa danh là phải tím ra các hính thức cổ của các từ
cấu tạo địa danh và muốn biết từ nguyên của địa danh thí phải dựa trên kiến
thức ngữ âm học địa phương. Đây là một chuyên luận bổ sung thêm cho vấn
đề mà A.I.Popov đã đưa ra trước đó. [3], [11], [20].
2. Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
ở Việt Nam, vấn đề địa danh được quan tâm từ rất sớm. Các tài liệu
Tiền Hán thư, Địa lí chí, Hậu Hán thư, Tấn thư trong thời Bắc thuộc có
đề cập đến địa danh Việt Nam, trong đó mục đìch chình trị được đặc biệt chú
ý. Các tài liệu này đều do người Hán viết, phục vụ trực tiếp cho cuộc xâm
lược nước ta.
Sau thời Bắc thuộc, đặc biệt từ thế kỷ XV trở đi, việc nghiên cứu địa
danh mới được các nhà nghiên cứu Việt Nam thực hiện. Lúc này, địa danh
được thu thập, tím hiểu về nguồn gốc và ý nghĩa. Có thể kể đến Dư địa chí
của Nguyễn Trãi (1435), Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy
biến đổi của địa danh Hải Phòng trong vài nét đối sánh với địa danh các
vùng khác của Việt Nam. Tiếp theo sau là luận án tiến sĩ của Từ Thu Mai “
Nghiên cứu địa danh Quảng Trị (2004), Phạm Xuân Đạm với “§ịa danh
Nghệ An” (2005) .v.v. Những công trính này đều có những đóng góp đáng
trân trọng khi tiếp cận vấn đề địa danh học dưới cách nhín ngôn ngữ học.
Nhằm góp phần cho sự đa dạng của các khuynh hướng, các phương
pháp nghiên cứu địa danh, Trần Trì Dõi đã có hàng loạt các bài viết về địa
danh theo hướng so sánh lịch sử. Đó là các bài viết “Một vài địa danh, tên
riêng gốc Nam Đảo trong vùng Hà Nội xưa” (2000) , “Về địa danh Cửa
Lò” (2000), “Không gian ngôn ngữ và tính kế thừa đa chiều đa chiều của
địa danh (qua phân tích một vài địa danh ở Việt Nam)” và “Vấn đề địa
danh biên giới Tây Nam: Một vài nhận xét và những kiến nghị” (2001).
Nếu như các tác giả trên đều nghiên cứu địa danh theo cách tiếp cận
ngôn ngữ học thí Nguyễn Văn Âu với “Một số vấn đề về địa danh học
9
Footer Page
of 166.
Số hóa11
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Header Page 12 of 166.
Việt Nam” (2000) lại tiếp cận từ góc độ địa lý – lịch sử – văn hoá. [2], [3],
[11], [20], [31].
Số hóa12
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Header Page 13 of 166.
Trước chúng tôi đã có một số công trính, luận án tím hiểu địa danh Hải
Phòng, Nghệ An, Quảng Trị, Thành phố Hồ chì Minh và các vùng khác. Với
địa danh Bắc Kạn, từ trước tới nay hầu như chưa được khảo sát và nghiên
cứu. Đây là đề tài đầu tiên đi sâu tím hiểu vấn đề cả về phương diện lý thuyết
lẫn thực tế về địa danh hành chình tỉnh Bắc Kạn. Luận văn tím hiểu các địa
danh hành chình tỉnh Bắc Kạn về các mặt cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc quá
trính biến đổi. Luận văn cũng chỉ ra một vài đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá
của địa danh trong mối quan hệ với địa lý, lịch sử, dân cư và ngôn ngữ. Đây
cũng có thể là tư liệu quý cho ngành địa phương học, cho ngành nghiên cứu
lịch sử, văn hoá Bắc Kạn.
V. Phương pháp và tư liệu nghiên cứu
* Phương pháp
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, công việc đầu tiên là phải thu thập
tư liệu, bổ sung và chỉnh lý các thông tin, thông số của địa danh. Mặt khác
phải tra cứu các tài liệu về lịch sử, địa lý, truyền thống văn hoá của tỉnh Bắc
Kạn. Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Đây là phương pháp giúp chúng tôi
tập hợp và phân loại các địa danh hành chình tỉnh Bắc Kạn trên cơ sở thu
thập địa danh qua các nguồn khác nhau.
- Phương pháp miêu tả được sử dụng để phản ánh những đặc điểm cấu
tạo và đặc trưng ngữ nghĩa của các yếu tố tên riêng trong phức thể địa danh.
VI. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn
gồm ba chương:
Chương I: Những cơ sở lý thuyết liên quan đến địa danh và địa
danh học.
Chương này sẽ trính bày những vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho việc
triển khai các chương mục tiếp theo. Ngoài ra, vấn đề tư liệu về địa lý, lịch
sử, văn hoá, dân cư, ngôn ngữ trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn được trính bày làm
cơ sở cho các phần nội dung luận văn.
Chương II: Đặc điểm cấu tạo của địa danh hành chính tỉnh Bắc
Kạn.
Chương này sẽ trính bày cách xác định thành tố chung và tên riêng
trong phức thể địa danh. Nội dung của chương sẽ đi sâu tím hiểu những đặc
điểm về cấu tạo địa danh hành chình tỉnh Bắc Kạn.
Chương III: Đặc điểm về ý nghĩa của địa danh hành chính tỉnh
Bắc Kạn.
12
Footer Page
of 166.
Số hóa14
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Header Page 15 of 166.
vựng – ngữ nghĩa và ngữ pháp.
13
Footer Page
of 166.
Số hóa15
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Header Page 16 of 166.
Hiện nay đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa khác
nhau về địa danh. Nhà ngôn ngữ học Nga A.V.Superanskiaja trong cuốn
“Địa danh là gì” đã cho rằng địa danh (địa danh các tên gọi địa lý) là những
từ ngữ biểu thị tên gọi các địa điểm mục tiêu địa lý (các đặc điểm, mục tiêu
địa lý là các vật thể tự nhiên hay nhân tạo được định vị xác định trên bề mặt
trái đất).
ởëViệt Nam, các nhà nghiên cứu địa danh học đã chia thành hai nhóm
nghiên cứu là nghiên cứu địa danh học theo góc độ địa lý - văn hoá và
nghiên cứu địa danh theo góc độ ngôn ngữ học. Đại diện cho nhóm thứ nhất,
Nguyễn Văn Âu cho rằng: “ Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng
mạc…hay là tên các địa phương, các dân tộc”. [3, tr.15].
Đại diện cho nhóm thứ hai là Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường, Từ
Thu Mai, Phạm Xuân Đạm
Lê Trung Hoa cho rằng “Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được
dùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các
đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ”.[31, tr.15].
Âu cố gắng thoát ra khỏi quan niệm cho rằng địa danh học “chuyên nghiên
cứu về tên riêng”, ông “chú ý tới các từ chung”.
Lê Trung Hoa là một trong những người có ý thức trính bày các vấn đề
địa danh đặt trong khung cảnh ngôn ngữ học, hướng đến tình lý thuyết, tình
hệ thống sớm hơn cả so với nhiều tác giả khác. Lê Trung Hoa cho rằng:
“Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của địa
hình thiên nhiên, các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều, các
đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ”. [13, tr.77 ]. Định nghĩa này thiên về
việc chỉ ra ngoại diên của khái niệm, đồng thời chỉ ra cách phân loại các địa
danh. Do đó, khó có thể khuôn được hiện thực các kiểu loại địa danh vốn đa
dạng trong thực tế vào trong định nghĩa phân loại này.
Nguyễn Kiên Trường là người đầu tiên đưa ra định nghĩa nêu giới hạn
ngoại diên của địa danh chỉ thuộc về những gí ở trên trái đất một cách hiển
ngôn. Dựa trên tiêu trì mà Lê Trung Hoa đưa ra, Nguyễn Kiên Trường chia
địa danh thành từng loại nhỏ. Bên cạnh đó, ông còn tiến hành phân loại theo
nguyên ngữ, theo chức năng của địa danh.
Từ Thu Mai cho rằng, khi xác định khái niệm địa danh cần chú ý đến
những vấn đề trong nội tại bản thân khái niệm. Định nghĩa của Từ Thu Mai
có điểm xuất phát từ cách hiểu địa danh của A. V. Superanskaja.
Theo chúng tôiT, mặc dù nằm trong hệ thống những loại hính khác
nhau nhưng các đối tượng địa lý bao giờ cũng xuất hiện trong thực tế với
những cá thể độc lập. Đầu tiên, người ta thường sử dụng các tên chung để
15
Footer Page
of 166.
Số hóa17
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
đánh dấu vị trí, xác lập tên gọi các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn”.
[11. tr.12]. Luận văn này sẽ nghiên cứu những từ ngữ chỉ tên riêng của các
đối tượng địa lý thuộc địa danh hành chình trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
16
Footer Page
of 166.
Số hóa18
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Header Page 19 of 166.
1.1.2. Địa danh hành chính
Địa danh hành chình là địa danh do chình quyền hoặc người dân đặt
tên, nhằm phục vụ cho mục đìch quản lý của nhà nước.
Các đơn vị hành chình trong tỉnh bao gồm:
1. Tỉnh
Là đơn vị hành chình trực thuộc trung ương, gồm nhiều huyện, thị xã
và thị trấn.
2. Thành phố
Là đơn vị hành chình trực thuộc tỉnh. Đây là nơi tập trung đông dân
cư, thường có công nghiệp và thương nghiệp phát triển.
3. Huyện, thị xã
Là đơn vị hành chình trực thuộc tỉnh, gồm nhiều xã, phường. Dân cư,
công nghiệp, thương nghiệp không phát triển bằng thành phố.
những cách phân loại khác nhau về địa danh. Chẳng hạn, G.P. Smolichnaja
và M.V. Gorbanevskij cho rằng địa danh có 4 loại: Phương danh (tên các địa
phương), sơn danh (tên núi gò đồi…), thuỷ danh (tên các dòng chảy, ao ngòi
sông, vũng), phố danh: (tên các đối tượng trong thành phố). Còn nhà khoa
học Nga A.V. Superanxkaia lại chia làm 7 loại: Phương danh, thuỷ danh, sơn
danh, phố danh, viên danh, lộ danh, đạo danh (tên các đường giao thông trên
đất, dưới đất, trên nước, trên không).
ở Việt Nam, Nguyễn Văn Âu quan niệm: “Phân loại địa danh là sự
phân chia địa danh thành các kiểu, nhóm khác nhau, dựa trên những đặc
tính cơ bản về địa lý cũng như về ngôn ngữ và lịch sử. [3, tr. 37]. Và ông đã
chia địa danh Việt Nam thành 2 loại: Địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế –
xã hội, 7 kiểu: Thuỷ danh, lâm danh, sơn danh, làng xã, huyện thị, tỉnh,
thành phố, quốc gia và 12 dạng: Sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng
rú, truông - trảng, làng - xã, huyện - quận, thị trấn, tỉnh, thành phố, quốc
gia. Mỗi dạng lại có thể phân chia thành các dạng sông, ngòi, suối…Cách
phân loại này của tác giả nghiêng về tình dân gian, dễ tiếp thu song hơi sa
vào chi tiết, thiếu tình khái quát, đối tượng nghiên cứu và tên gọi đối tượng
nghiên cứu chưa được làm rõ.
Lê Trung Hoa phân loại địa danh dựa vào nguồn gốc địa danh. Cách
phân loại của ông dựa vào hai tiêu chì tình tự nhiên và không tự nhiên. Đây
là cách phân loại thường gặp và tương đối hợp lý, có tình bao quát. Ông
phân loại địa danh: Địa danh chỉ loại hính, địa danh chỉ công trính xây dựng,
địa danh hành chình, địa danh chỉ vùng.
Nguyễn Kiên Trường phân loại dựa trên tiêu chì mà Lê Trung Hoa
đưa ra nhưng tiếp tục chia nhỏ thành một bước nữa. Ông chia đối tượng tự
18
Footer Page
of 166.
Huyện Chợ Mới
-> Thị trấn Chợ Mới
- Chuyển hoá giữa các loại địa danh. Vì dụ:
Nà Lẹng (ruộng hạn) -> Thôn Nà Lẹng.
- Chuyển hoá từ địa danh vùng này sang địa danh vùng khác. Vì dụ:
Huyện Cẩm Giàng (Hải Dương) -> xã Cẩm Giàng (Bắc Kạn).
- Chuyển hoá nhân danh thành địa danh. Vì dụ:
19
Footer Page
of 166.
Số hóa21
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Header Page 22 of 166.
Chị Nguyễn Thị Minh Khai
-> phường Nguyễn Thị Minh Khai
1.3.3. Phương thức cấu tạo rất phong phú: Nghiên cứu các phương
thức cấu tạo định danh, ta thấy vừa tồn tại phương thức dựa vào đặc điểm
bản thân đối tượng để đặt tên (Thôn Đồng Luông - Đồng Rộng, thôn Nà
Header Page 23 of 166.
Địa danh học là một bộ môn ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu về
nguồn gốc, cấu tạo, ngữ nghĩa, sự biến đổi, sự lan toả, phân bố của địa danh.
Người chuyên nghiên cứu về địa danh được gọi là nhà địa danh học.
Như vậy một nhà địa danh học thường phải làm, nghiên cứu giải quyết
những công việc chình sau đây:
- Tím hiểu nguồn gốc lịch sử của địa danh.
- Tím hiểu ngữ nghĩa của địa danh.
- Tím hiểu các mô hính địa danh, các phương thức quá trính tạo địa
danh.
- Tím hiểu sự nảy sinh, lan toả, sự phân bố của địa danh qua các không
gian, các khoảng thời gian khác nhau.
- Chuẩn hoá các địa danh.
Trong những vấn đề lớn trên, người ta lại chia nhỏ thành nhiều vấn
nhau để nghiên cứu.
Về quan điểm tìn hiệu học, địa danh có tình lì do. Vậy, vấn đề quan
trọng là cội nguyên, ngữ nghĩa của địa danh. Điều này, ta thường thấy trong
định nghĩa địa danh học: Là bộ môn nghiên cứu về nguồn gốc, ngữ nghĩa của
địa danh.
Dựa trên hướng nghiên cứu, người ta chia ra các bộ phận nhỏ như:
Ngôn ngữ địa danh học, địa lý địa danh học, lịch sử địa danh học, đối chiếu
địa danh học…Ngôn ngữ địa danh học chú ý nhiều đến những diễn tiến về
mặt ngôn ngữ của địa danh, đặc điểm cấu tạo ngôn ngữ của địa danh, ngữ
nghĩa của địa danh, các mô hính cấu tạo của địa danh…; địa lý địa danh học
chú ý nhiều đến sự phân bố về địa danh, sự liên quan giữa sự phân bố của địa
Về vị trì địa lýV, Bắc Kạn có giới hạn từ vĩ độ 22°,44‟B đến vĩ độ
21‟48‟B, từ kinh độ 106°,14‟Đ đến 105°,26‟Đ. Như vậy từ Bắc xuống Nam
Bắc Kạn có chiều dài 56 phút vĩ độ, từ đông sang tây có chiều rộng 48 phút
kinhđộ.
Bắc Kạn có diện tìch 4857,21km2, gồm 7 huyện và một thị xã (Chợ Mới,
Bạch Thông, Chợ Đồn, Na Rí, Ngân Sơn, Ba Bể và thị xã Bắc Kạn), 8 thị
trấn, 116 xã phường, 1388 thôn bản, tổ phố.
Địa hính Bắc Kạn là địa hính miền núi cao, cao hơn các tỉnh xung
quanh và bị chi phối bởi các mạch núi cánh cung kéo dài từ Bắc xuống Nam
ở hai phìa Tây và Đông của tỉnh: Cánh cung Ngân Sơn nối liền một dải, chạy
suốt từ Nậm Quét (Cao Bằng) dọc theo phìa Đông của tỉnh Bắc Kạn đến
Lang Hìt (phìa Bắc tỉnh Thái Nguyên) uốn thành hính cánh cung rõ rệt theo
hướng Bắc Nam. Cánh cung Ngân Sơn đóng vai trò quan trọng trong địa
hính ví đây là dãy núi chia nước giữa lưu vực các sông chảy sang Trung
22
Footer Page
of 166.
Số hóa24
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Header Page 25 of 166.
Quốc và các sông chảy xuống đồng bằng Bắc Bộ. Ngân Sơn cũng là bức
bính phong chắn gió mùa đông bắc. Hệ thống cánh cung sông Gâm kéo dài
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên