BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH, HĐH
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
Kinh tế - xã hội
KT - XH
Giáo dục - đào tạo
GD - ĐT
Hệ thống chính trị
HTCT
Nguồn lực con người
NLCN
Nguồn lực thanh niên
11
tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước
Chương 2 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT HUY
33
NGUỒN LỰC THANH NIÊN TỈNH BẮC NINH
THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA,
50
2.1
HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
Yêu cầu phát huy nguồn lực thanh niên tỉnh Bắc Ninh
50
2.2
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Giải pháp cơ bản phát huy nguồn lực thanh niên tỉnh
Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
nước, có điều kiện thuận lợi để học tập, rèn luyện phấn đấu vươn lên; có
nhiều sự lựa chọn trong nghề nghiệp, việc làm, vui chơi, giải trí; họ còn
được đào tạo một cách cơ bản và khá toàn diện. Do đó, nguồn lực thanh
niên giữ một vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Đảng ta đã khẳng định: "Sự nghiệp đổi mới có
thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng
4
trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước
theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không, phần lớn tùy thuộc vào lực
lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng rèn luyện thế hệ thanh niên, công
tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân
tố quyết định sự thành bại của cách mạng" [6, tr.23].
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng; nằm trong tam
giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và là cửa ngõ
phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội; có tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
vào loại nhanh nhất miền Bắc hiện nay. Mục tiêu của tỉnh Bắc Ninh đặt ra
trong những năm tới là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa
Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015” [1, tr. 24] . Để
hiện thực hóa được mục tiêu đó, một trong những vấn đề hết sức quan
trọng là cần khơi dậy và phát huy tốt các nguồn lực, trong đó việc phát huy
nguồn lực thanh niên có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Trong những năm qua, nguồn lực thanh niên tỉnh Bắc Ninh đã được
khơi dậy và phát huy khá tốt, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế
- xã hội của Tỉnh. Tuy nhiên, một số tổ chức, lực lượng còn chưa nhận thức
đầy đủ về vị trí, vai trò của nguồn lực thanh niên đối với phát triển kinh tế xã hội; một bộ phận thanh niên còn chưa tỏ rõ ý chí, nghị lực phấn đấu
vươn lên, không chịu trau dồi về học vấn, văn hóa, khoa học kỹ thuật...
Một bộ phận khác, do tác động của mặt trái kinh tế thị trường, sự biến động
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Cuốn sách đã phân tích vai trò của nguồn
nhân lực và việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất những
giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước ta đáp
ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước.
“Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH” của
Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
6
“Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam” do TS. Đỗ
Minh Cương - PGS.TS Nguyễn Thị Loan chủ biên, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2001. Cuốn sách làm rõ quan điểm, định hướng chiến lược
và giải pháp chủ yếu cho việc phát triển năng lực giáo dục bậc cao ở
nước ta trong thời kỳ mới.
“Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” của TS.
Bùi Thị Ngọc Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. Cuốn sách tập
trung làm rõ trí tuệ, nguồn lực trí tuệ, vai trò, đặc điểm, thực trạng phát
huy và xu hướng phát triển của nguồn lực trí tuệ Việt Nam - bộ phận tinh
hoa trong nguồn nhân lực Việt Nam thời gian qua. Trên cơ sở đó, tác giả
đưa ra những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn
lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước theo
định hướng XHCN.
"Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài " của Nghiêm Đình Vỳ,
Nguyễn Đắc Hưng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. Cuốn
sách này đã tập trung giới thiệu khái quát về lịch sử giáo dục Việt Nam;
Những cơ hội, thách thức và nhiệm vụ đặt ra đối với giáo dục Việt Nam
trong những năm đầu thế kỷ XXI. Từ đó, các tác giả đưa ra một số giải
pháp, kiến nghị nhằm phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng tài năng và nguồn nhân
lực cho đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH.
quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” - Luận án tiến sĩ triết học của Hoàng
Đình Tỉnh, Hà Nội, 2009; “Phát huy vai trò nguôn lực con người trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay” - Luận
văn thạc sĩ triết học của Đinh Xuân Thủy, Hà Nội, 2009... Các đề tài trên
đã tập trung nghiên cứu đi sâu, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề
phát huy nguồn lực con người, nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và sự nghiệp xây
dựng quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng; phân tích và đánh giá sâu sắc
thực trạng, từ đó đề xuất những giải pháp phát huy nguồn lực đó trong tình
8
hình hiện nay.
* Các bài viết, bài báo khoa học có liên quan đến vấn đề nguồn lực
con người, phát huy nguồn lực thanh niên đã được đăng tải như:
“Chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” - Đỗ Mười - Tạp chí Thông tin lý luận
số 3, 1993; “Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước” Nguyễn Trọng Chuẩn. Tạp chí Triết học - số 3/1994; “Lấy việc phát huy nguồn lực
con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” - Phạm Minh
Hạc - Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7-1996; “Phát huy và phát triển nguồn nhân lực
trẻ của đất nước phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH” - Trần Thị Tâm Đan - Tạp chí
Cộng sản, số 21-1996; “Góp phần tạo nguồn lực trẻ có chất lượng cao” Vũ Trọng
Kim - Tạp chí Khoa học chính trị, số 2-1996; “Phát triển tài năng trẻ trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” - Nguyễn Văn Thanh - Tạp chí
Cộng sản 8/2008; “Thanh niên là nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận
mệnh dân tộc” - Minh Nhật - Tạp chí Cộng sản 2/2011; “ Kinh tế tri thức và sự
phát triển nguồn lực thanh niên” - Đặng Cảnh Khanh - Tạp chí Cộng sản 3/2011;
“Phát huy vai trò xung kích của thanh niên trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước” - PGS, TS Nguyễn Đắc Vinh - Tạp chí Thanh niên
* Nhiệm vụ:
Làm rõ quan niệm về nguồn lực thanh niên và phát huy nguồn
lực thanh niên tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
Đánh giá thực trạng nguồn lực và phát huy nguồn lực thanh niên tỉnh
Bắc Ninh hiện nay và nguyên nhân của thực trạng đó.
Đề xuất yêu cầu và một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy tốt hơn
nữa nguồn lực thanh niên tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Phát huy nguồn lực thanh niên tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh
10
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
* Phạm vi nghiên cứu
Nguồn lực và phát huy nguồn lực thanh niên tỉnh Bắc Ninh thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thời gian khảo sát từ
năm 2008 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận
Đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò
thanh niên, phát huy nguồn lực thanh niên; bám sát thực tiễn phát huy
nguồn lực thanh niên tỉnh Bắc Ninh, các báo cáo tổng kết của các cấp uỷ
đảng, chính quyền, cơ quan chức năng của tỉnh Bắc Ninh và khảo sát
thực tế của tác giả về các vấn đề liên quan đến đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu
biến tự nhiên và xã hội của một quốc gia, dân tộc.
Khái niệm nguồn lực có phạm vi bao quát rộng, hàm chứa không chỉ
các yếu tố vật chất, tinh thần đã và đang tạo ra sức mạnh trên thực tế mà cả
những yếu tố mới ở dạng tiềm năng; không chỉ nói lên sức mạnh mà còn chỉ
ra nơi bắt đầu, nơi phát sinh hay nơi có thể cung cấp sức mạnh; phản ánh
không chỉ số lượng mà còn cả chất lượng các yếu tố và sự biến đổi không
ngừng của các yếu tố đó.
Tùy theo từng điều kiện cụ thể và góc độ nghiên cứu trong các mối
quan hệ xác định mà nguồn lực được tính đến như thế nào, mở rộng hay thu
hẹp. Có thể nêu ra một số loại nguồn lực sau: nguồn lực vật chất và nguồn lực
tinh thần; nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài; nguồn lực chủ quan và
nguồn lực khách quan... Có những yếu tố tạo nên một nguồn lực nào đó lại trở
thành những nguồn lực của chính nguồn lực đó, như trí tuệ cũng được coi là
một nguồn lực trong nguồn lực con người.
Hiện nay, các nguồn lực quan trọng nhất thúc đẩy quá trình CNH, HĐH
đất nước có thể được qui về 5 loại sau: nguồn lực con người Việt Nam; nguồn
tài nguyên thiên nhiên; nguồn lực do vị trí địa lý thuận lợi; nguồn lực bắt
12
nguồn từ cơ sở vật chất và tiềm lực khoa học kỹ thuật; các nguồn lực nước
ngoài. Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tác động vào
quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trong đó, nguồn lực
con người Việt Nam là quí nhất, quyết định nhất.
Khái niệm “nguồn lực con người” mới được dùng từ những năm 60 của
thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á, hiện nay, nó
được sử dụng khá phổ biến trên thế giới [17, tr. 32].
Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng
sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát
giả "cái làm nên nguồn lực con người là kinh nghiệm sống, đặc biệt là
những kinh nghiệm nếm trải trực tiếp của con người, là nhu cầu và thói
quen vận dụng tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình, của cộng đồng
vào việc tìm tòi, sáng tạo” [2, tr.15].
Trong lời phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa VIII), nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định:
Nguồn lực con người là quý báu nhất... Nguồn lực đó là người lao động có
trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi
dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa
học công nghệ hiện đại [9, tr.9].
Từ một số cách tiếp cận và những nội dung đã dẫn trên, có thể hiểu:
Nguồn lực con người - một dạng đặc biệt của nguồn lực nói chung, là tổng
hoà các yếu tố tạo nên sức mạnh của con người và cộng đồng xã hội, là số
dân, cơ cấu số dân và chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức
mạnh của nó trong sự phát triển xã hội. Đây là một khái niệm rộng mà nội
dung của nó được thể hiện trên một số mặt cơ bản sau:
Thứ nhất, “nguồn lực con người” được biểu hiện ra là người lao động,
là lực lượng lao động (số người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao
động), là nguồn lao động (đội ngũ lao động hiện có và sẽ có). Nói đến NLCN
còn nói đến quy mô dân số và tốc độ tăng dân số trong một thời kỳ nhất định
14
của một quốc gia, một địa phương.
Thứ hai, “nguồn lực con người” phản ánh cơ cấu dân cư, nhất là cơ cấu
lao động trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế…
Thứ ba, “nguồn lực con người” chủ yếu nói lên chất lượng dân số, đặc biệt
là chất lượng của lực lượng lao động trong hiện tại và tiềm năng trong tương lai.
Thứ tư, “nguồn lực con người” còn bao hàm cả sự liên hệ tác động lẫn
Trước hết, cần phải nhấn mạnh rằng, trong qui luật sinh tồn của con
người, việc trải qua các lứa tuổi là một tất yếu. Ở mỗi lứa tuổi, sự phát triển
về thể chất, tâm lý và nhân cách của con người lại có những qui luật riêng.
Thanh niên là thời kỳ kế tiếp của lứa tuổi thiếu niên và là một giai đoạn phát
triển điển hình về thể chất và tâm lý của con người. Thanh niên là một thành
phần đặc biệt của cơ cấu xã hội. Muốn tìm hiểu và xác định phạm trù này cần
phải có sự thống nhất về khoảng tuổi, đặc điểm chung, riêng của họ, về tính
chất xã hội, các quan hệ cơ bản giữa họ với cộng đồng; phải tính đến những
qui luật bên trong của sự phát triển về thể chất và tinh thần của họ.
Ở nước ta Luật Thanh niên có hiệu lực 01/7/2006 quy định Thanh niên
là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi. Như vậy, thanh niên chỉ phân
biệt một cách tương đối với các bộ phận dân cư khác của quốc gia - dân tộc
trên một tiêu chí duy nhất là giới hạn độ tuổi. Tuy nhiên, có thể rút cái chung,
cái thống nhất căn bản nhất của thanh niên chính là ở tuổi trẻ của tất cả các
thành viên. Trong cuộc đời của mỗi con người thì tuổi thanh niên có ý nghĩa vô
cùng quan trọng. Thể hiện trên một số đặc điểm chung như sau:
Thanh niên với tư cách là một con người cá thể từ 16 đến 30 tuổi, xét từ
góc độ tâm - sinh lý thì đây là giai đoạn con người chuyển biến từ một đứa trẻ
thành một người trưởng thành với sự hoàn thiện cơ thể về mặt sinh học và
những chuyển biến về tâm - sinh lý, tình cảm rất điển hình của tuổi dậy thì.
Thanh niên là thời kỳ đầu của người lớn, những năm tháng sung sức, đẹp đẽ
16
nhất của đời người, có thể phân biệt rõ rệt nhất với thiếu niên, nhi đồng ở lứa
tuổi ấu thơ, với những người đứng tuổi (trung niên) và những người đã bước
vào tuổi già. Đứng ở góc độ sinh học, lứa tuổi thanh niên được coi là một cấp
độ phát triển hoàn thiện về mặt thể chất. Trong những giai đoạn của một đời
người, tuổi thanh niên là biểu tượng về sự trẻ trung, mạnh mẽ, hoạt động, hy
lượng và cơ cấu thanh niên được huy động vào hoạt động trong các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội góp phần quan trọng vào việc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nói đến nguồn lực thanh niên không chỉ nhìn nhận nó trên cơ sở số
lượng thanh niên chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu dân cư và lực lượng chủ yếu
trên các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, mà nguồn lực thanh niên
thể hiện rõ nét ở chất lượng của nguồn lực thanh niên có thể hiểu một cách
khái quát là xây dựng một lớp thanh niên mới vừa hồng vừa chuyên, bao
hàm cả trình độ học vấn rộng, có kiến thức chuyên môn cao, tay nghề vững
vàng, có phẩm chất, bản lĩnh chính trị, có thể lực tốt và lối sống lành mạnh ,
một lực lượng xã hội giàu tiềm năng phát triển. C. Mác đã từng khẳng định
rằng: “Tương lai của giai cấp họ, và do đó, của cả loài người, hoàn toàn tùy
thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên” [20, tr.262]. Đó là
nguồn tài sản vô giá của đất nước hôm nay và mai sau. Sinh lực của một
dân tộc, một quốc gia thể hiện ở thanh niên, lực lượng có khả năng làm
những việc "dời non lấp biển", là "rường cột của nước nhà", là "mùa xuân
của nhân loại".
Thanh niên với ưu thế về sức khỏe (thể lực), phẩm chất tâm lý (tư
duy, trí nhớ, khí chất...) và trình độ chuyên môn kỹ thuật - văn hóa ,
v.v... sẽ là nguồn lực tốt nhất có thể đáp ứng được sự biến đổi của nội
dung lao động dưới tác động của các tiến bộ khoa học - công nghệ (thay
đổi nghề, hoặc tiếp cận với công nghệ mới, kỹ thuật cao). Những lớp
thanh niên hôm nay sẽ là nguồn nhân lực hết sức quan trọng cho ngày mai
18
của đất nước.
* Nguồn lực thanh niên tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
Dương Vương…Bắc Ninh cũng là tỉnh có nhiều lễ hội truyền thống có những nét
văn hóa đặc sắc. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 41 lễ hội lớn diễn ra trong
năm, trong đó có những lễ hội có ý nghĩa lịch sử, văn hóa, tâm linh và có tầm vóc
ảnh hưởng lớn như Hội Lim, hội chùa Dâu, hội đền Đô, hội đền Bà Chúa Kho…
Về xã hội, tính đến năm 2012 trên địa bàn có 2 trường đại học, 5 trường
cao đẳng và 4 trường trung học chuyên nghiệp và 46 cơ sở dạy nghề. Ngoài ra
trên địa bàn huyện, thành phố thuộc tỉnh đều có trung tâm dạy nghề thuộc Sở
Lao động thương binh và xã hội. Các lĩnh vực GD - ĐT, y tế, văn hóa, thông
tin, thể dục thể thao đều khá phát triển, các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp và dạy nghề phát triển mạnh, tạo điều kiện để thanh
niên trong tỉnh học tập nâng cao trình độ dân trí, tay nghề, nâng cao chất lượng
cuộc sống. Theo số liệu điều tra đến năm 2012 “Toàn tỉnh có 1.079.906 người,
trong đó dân số thành thị tại các thành thị là 282.958 người chiếm 26,20%,
nông thôn là 796.948 người chiếm 73,80%. Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh
hiện nay là 1.257 người/km2. Số người trong độ tuổi lao động là 610.996
người, chiếm 56,58% tổng dân số của toàn tỉnh” [4, tr.3]. Môi trường chính trị
xã hội Bắc Ninh ổn định, Đảng bộ và chính quyền địa phương luôn vững
mạnh, luôn quan tâm đến phát triển KT - XH.
Các điều kiện tự nhiên, kinh tế, sản xuất, văn hóa và xã hội mang lại
nhiều lợi thế cho đẩy mạnh CNH, HĐH tỉnh và nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần cho thanh niên. Hiện nay tỉnh đã thu hút hàng trăm dự án với số vốn
đầu tư lên đến hàng trăm triệu USD. Đặc biệt, đã thu hút được các dự án đầu
tư hạ tầng của các tập đoàn lớn như VSIP Bắc Ninh (Singgapore), ORIX &
CANON (Nhật Bản), SAMSUNG & IGS (Hàn Quốc), Poxconn (Đài Loan)…
20
Đến nay, Bắc Ninh đã trở thành một trong những tỉnh có tốc độ phát triển
CNH, HĐH nhanh nhất miền Bắc, cả về tốc độ, phạm vi và thể hiện rõ tính
tương trợ lẫn nhau, sống có nghĩa có tình và luôn vượt khó khăn vươn lên.
Đây một đặc điểm quan trọng của thanh niên tỉnh Bắc Ninh. Đồng
thời, CNH, HĐH cũng đặt ra cho thanh niên phải biết vươn lên làm chủ khoa
học - công nghệ, kỹ thuật hiện đại, làm chủ thị trường…với những yêu cầu
đó không còn con đường nào khác thanh niên tỉnh Bắc Ninh phải tích cực
học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ cho mình.
Trước yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH, Bắc Ninh đã tạo điều kiện để
thanh niên nâng cao trình độ học vấn, trình độ tay nghề của mình, với hệ
thống giáo dục tương đối hoàn chỉnh về hệ thống trường lớp, giáo viên, về cơ
sở vật chất, thiết bị dạy học và truyền thống của vùng quê hiếu học. Đối với
thanh niên, họ có nhu cầu học tập nâng cao trình độ về mọi mặt để phát triển
sản xuất, tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm và có thu nhập cao. Mặt khác,
hệ thống trường học, kết cấu hạ tầng được nâng cấp tạo điều kiện để các lớp
thanh niên Bắc Ninh được hưởng lợi do chính CNH, HĐH tỉnh mang lại mà
những thời kỳ trước chưa thực hiện được.
Ba là, thanh niên tỉnh Bắc Ninh mang đậm cốt cách văn hoá truyền
thống của vùng Kinh Bắc.
Bắc Ninh nằm trong châu thổ đồng bằng Bắc Bộ, là một trong những
cái nôi văn hoá không chỉ của đồng bằng Bắc Bộ mà của cả nước; quê
hương của làn điệu dân ca quan họ nổi tiếng đã được UNESCO công nhận là
di sản văn hoá phi vật thể thế giới. Người Bắc Ninh anh dũng, kiên cường,
nhưng cũng rất cần cù, thông minh, sáng tạo, giàu lòng nhân ái, độ lượng và
có tinh thần lạc quan, yêu đời, hiếu học, luôn tự hào về truyền thống văn hoá
của mình… Thanh niên, dù sinh ra và trưởng thành từ quê hương Kinh Bắc,
hay được thu hút từ địa phương khác về, đều ít nhiều được thừa hưởng các
giá trị văn hoá truyền thống của vùng Kinh bắc ngàn năm văn hiến và mang
trong mình những nét tâm lý, cốt cách văn hoá của người Kinh Bắc. Chính
đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên phát huy tinh thần đoàn
23
CNH, HĐH tỉnh hiện nay.
Số lượng thanh niên phải đảm bảo tính phổ quát về nội dung và các lĩnh
vực hoạt động của họ. Trên cơ sở yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH để
xác định số lượng thanh niên tham gia ở các ngành, các cơ quan một cách hợp
lý, sẽ bảo đảm sức mạnh thực tế cho NLTN tỉnh phát huy tác dụng cả bề rộng
và chiều sâu trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH. Thực tế năm 2012 Bắc
Ninh có dân số 1.079.906 người trong đó thanh niên hiện có 282.070 người,
chiếm tỉ lệ 26,12% dân số và 46,17% lực lượng lao động của tỉnh, với 140.471
thanh niên được tập hợp trong tổ chức đạt tỷ lệ 49,8%[Phụ lục 1]
Chất lượng thanh niên là sự tổng hoà những phẩm chất và năng lực (đức
và tài) được thể hiện ở kết quả lao động của họ. Đây là yếu tố cơ bản, quan
trọng nhất, giữ vị trí quyết định sức mạnh của NLTN tỉnh. Phẩm chất và năng
lực của thanh niên là hai mặt thống nhất và có mối quan hệ hữu cơ, gắn kết
chặt chẽ, tác động lẫn nhau, không thể tách rời. Có phẩm chất mà không có
năng lực thì phẩm chất cũng không có tác dụng thiết thực. Có tài, có năng lực
mà không có phẩm chất, đạo đức, tình cảm, lý tưởng, ý chí thì tài năng không
có cơ sở để phát triển đúng hướng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Có tài
phải có đức. Có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nước. Có đức
không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”[25,
tr.184]. Đảng ta đã khẳng định: “Phải coi trọng cả đức và tài” [10, tr.80].
Trong bối cảnh hiện nay, đa số thanh niên có phẩm chất chính trị tốt,
tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quan tâm nhiều hơn đến đời sống chính
trị, xã hội, sự phát triển kinh tế của quê hương đất nước. Lòng yêu nước, tự
hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng ngày càng được củng cố.
Tinh thần cảnh giác cách mạng, yêu hoà bình ngày càng thể hiện rõ. Tinh
thần xung phong tình nguyện, tính tích cực chính trị, xã hội của thanh niên
vươn lên lập thân, lập nghiệp. Nhiều thanh niên đã tìm ra con đường xoá đói,
giảm nghèo ngay tại quê hương và trở thành các mô hình kinh tế tiêu biểu là
tấm gương cho thanh niên tỉnh noi theo, học tập; Thanh niên sinh viên, học
sinh chiếm 21,9% thanh niên trong độ tuổi, nhận thức được những đòi hỏi khắt
khe của người trí thức hiện đại nên họ đã chủ động học tập, nghiên cứu và phát
triển tài năng, tự giác rèn đức, luyện tài; Thanh niên công nhân, đô thị và đội
25
ngũ công chức trẻ chiếm 32,7% thanh niên trong độ tuổi, có điều kiện thuận lợi
về mọi mặt, kinh tế, văn hoá, học tập và rèn luyện, được tiếp thu kịp thời những
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; Thanh niên các lực lượng vũ
trang chiếm 1,5% thanh niên trong độ tuổi, họ luôn giữ vững và phát huy bản
chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng của các thế hệ đi trước, đảm bảo an ninh
chính trị và giữ gìn trật tự an toàn xã hội.
Các yếu tố số lượng, chất lượng, cơ cấu có mối quan hệ biện chứng với
nhau, tạo nên sức mạnh NLTN tỉnh. Có số lượng mà không có chất lượng
hoặc chất lượng thấp, cơ cấu bất hợp lý thì số lượng nhiều cũng không mạnh.
Có chất lượng tốt mà thiếu về số lượng, bất hợp lý về cơ cấu thì chất lượng
cũng không được phát huy đầy đủ. Số lượng thanh niên là yếu tố phản ánh lực
lượng vật chất của NLTN tỉnh, là cơ sở, tiền đề cho nguồn lực này tồn tại,
phát triển, để các yếu tố khác thể hiện vai trò của mình. Cơ cấu thanh niên
tỉnh Bắc Ninh là yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh của NLTN. Nó phản ảnh
cách thức sắp xếp lực lượng một cách hợp lý để có thể phát huy có hiệu quả
nguồn lực này. Chất lượng thanh niên tỉnh Bắc Ninh là yếu tố quan trọng nhất
của nguồn lực và còn là sự phản ánh sự kết hợp của hai yếu tố kia.
Như vậy, trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, thanh niên đã nỗ
lực phấn đấu, sáng tạo, mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm, phát huy tinh thần
"đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên", xứng đáng là lực lượng