LUẬN VĂN: Xây dựng môi trường văn hóa ở thành
phố Đà Nẵng trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Con người không thể tồn tại nếu tách khỏi môi trường tự nhiên (MTTN), cũng
như con người không thể thực sự trở thành Người nếu tách khỏi môi trường văn hóa
(MTVH). Một MTVH trong sạch, lành mạnh, thích hợp và phong phú chính là "cái nôi"
trạng MTVH nước ta đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần được nhận thức đầy đủ, giải
quyết thỏa đáng. Mặt trái của cơ chế thị trường đã và đang làm nảy sinh không ít những
tệ nạn xã hội (TNXH), thói hư, tật xấu , sự tấn công, phá hoại nhiều mặt của các thế lực
thù địch làm xói mòn đạo đức, lối sống, phá vỡ thuần phong, mỹ tục, chao đảo kỷ cương
phép nước. MTVH vẫn đang trong thời đoạn chuyển đổi, chưa định hình rõ nét.
Vì vậy, kịp thời ngăn chặn những tiêu cực, độc hại, bảo vệ và xây dựng MTVH
lành mạnh, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) vừa có những
mặt phù hợp với xu thế tiến bộ chung của thế giới, vừa thể hiện những bản chất ưu việt
của nền văn hóa XHCN, phù hợp với tình hình thực tiễn ở nước ta nói chung và mỗi địa
phương nói riêng.
Mặc dầu vậy, đây lại là lĩnh vực khá mới mẻ, chưa được quan tâm nhiều trong
hoạt động nghiên cứu khoa học, cũng như trong hoạt động thực tiễn xây dựng đời sống văn
hóa (ĐSVH) ở các địa phương. Rất nhiều vấn đề cơ bản về MTVH cần được nhận thức và
giải quyết thấu đáo. Khái niệm, bản chất, cấu trúc của MTVH là gì? Thực trạng MTVH ở
nước ta hiện nay ra sao? Các quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả của MTVH trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH thế nào v,v đang là vấn
đề khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải giải đáp đầy đủ cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Đặc biệt
đối với Đà Nẵng một đơn vị mới được chia tách thành thành phố trực thuộc Trung ương (1-
1-1997) càng là vấn đề mới mẻ đòi hỏi phải giải đáp. Xuất phát từ tình hình đó, tôi đã chọn
đề tài: " Xây dựng môi trường văn hóa ở thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay " làm đề tài luận văn tốt nghiệp hệ cao học của
mình. Mong muốn của bản thân không chỉ góp phần bổ sung về mặt lý luận, mà còn trực tiếp
hơn hình thành những luận cứ khoa học để tiếp tục nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn
xây dựng MTVH ở nước ta nói chung và ở thành phố Đà Nẵng nói riêng trong tình hình
mới.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay ở nước ta đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu, một số bài viết của
các tác giả có đề cập ít nhiều đến vấn đề MTVH và xây dựng MTVH, như: Đỗ Huy, Cần xây
dựng MTVH pháp luật ở nước ta hiện nay, Người đại biểu nhân dân, 9-10/1993; GS.PTS
Đối tượng khảo sát, nghiên cứu của luận văn này là vấn đề xây dựng MTVH ở
nước ta (nói chung) và ở thành phố Đà Nẵng (nói riêng) qua khảo sát, đánh giá chủ yếu
tập trung ở khu vực đô thị.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá thực trạng MTVH ở khu vực đô
thị thành phố Đà Nẵng, để trên cơ sở đó đề ra các giải pháp sát thực, đúng đắn.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận về MTVH và xây dựng
MTVH ở nước ta hiện nay.
- Phân tích, đánh giá để đi đến nhận thức đúng về thực trạng MTVH ở khu vực
đô thị thành phố Đà Nẵng.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần cùng địa phương nâng cao
hiệu quả hoạt động xây dựng MTVH trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và vận dụng vào
thực tiễn xây dựng MTVH ở thành phố Đà Nẵng; làm tài liệu tham khảo trong công tác
nghiên cứu, giảng dạy môn Lý luận văn hóa trong hệ thống các trường Đảng địa phương.
6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy
vật biện chứng; chú ý kết hợp các phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử;
đồng thời tiếp thu và sử dụng linh hoạt các phương pháp so sánh, thống kê, điều tra xã
hội học; tiếp cận và xử lý vấn đề chủ yếu từ góc độ lý thuyết hoạt động.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 6 tiết.
Chương 1
Một số vấn đề lý luận về môi trường văn hóa
niệm MTVH; mà thực chất của vấn đề là tìm hiểu mối quan hệ giữa con người và thế giới
bao quanh con người để giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực văn hóa dưới góc độ môi
trường.
Khái niệm môi trường rất rộng, phức tạp và đa nghĩa, nên có nhiều cách quan
niệm (theo nghĩa rộng, hẹp) khác nhau:
* Quan niệm theo nghĩa hẹp: coi môi trường chỉ bao gồm những gì thuộc về tự
nhiên, hay thế giới vật chất bao quanh con người. Đây là cách tiếp cận khái niệm từ góc
độ KHTN thuần túy ở các nước phương Tây và được sử dụng khá phổ biến vào khoảng
cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
ở nước ta, đến những năm 90 của thế kỷ XX quan niệm này vẫn còn tồn tại khá
phổ biến. Trong mục tìm hiểu khái niệm "Môi trường và bảo vệ môi trường" tạp chí
Cộng sản (số 19/1996) [41, tr. 58] và tạp chí Công tác khoa giáo (số 1/1997) [42, tr. 32]
cũng chỉ nhấn mạnh đến các yếu tố tự nhiên, sinh thái, các yếu tố vật chất nhân tạo bao
quanh con người có ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của con người mà không hề đề
cập đến các yếu tố tư tưởng, tinh thần, các yếu tố xã hội, văn hóa - với tư cách là một bộ
phận quan trọng cấu thành môi trường sống của con người.
Cũng vì lẽ đó, cho đến nay mặc dù cụm từ "môi trường" đã không còn xa lạ với
mọi người dân Việt Nam, tuy vậy dường như khi đề cập tới nó vẫn còn không ít người
chỉ đơn thuần quan niệm đó là các hợp phần của tự nhiên bao quanh như không khí, đất,
nước, sinh vật Sự nhầm tưởng, hay nói đúng hơn là quan niệm một cách phiến diện này
vô hình chung đã làm mất đi "một nửa quan trọng khác" nếu không nói là có ý nghĩa
quyết định trong môi trường sống của con người - đó là môi trường xã hội (MTXH) -
nhân văn. Hệ quả của nó là trong nhận thức, cũng như trong hoạt động thực tiễn đã xem
nhẹ vai trò của MTXH, MTVH, gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc.
* Quan niệm theo nghĩa rộng: là những quan niệm coi "môi trường" bao gồm
những gì không chỉ thuộc về tự nhiên như đôi khi người ta lầm tưởng, nói đến môi trường
là nói đến "mọi thứ quanh ta", "có liên quan mật thiết với ta", bất kể nó thuộc về tự nhiên,
xã hội hay văn hóa.
Michel Batisse (nhà nghiên cứu người Pháp) tác giả của những công trình nghiên
chức xã hội của chúng ta, còn sự tác động của con người với tự nhiên cũng như sản phẩm
từ nền công nghiệp đương nhiên đã có và phải có " [23, tr. 10].
MTVH cũng được nhiều nhà khoa học xã hội Xô viết trước đây quan tâm nghiên
cứu. Trong cuốn giáo trình "Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin" do GS.TS triết học A.I.
Ac-nôn-đốp chủ biên đã đưa ra quan niệm về MTVH như sau: "Môi trường văn hóa là
một tổng thể ổn định những yếu tố vật thể và nhân cách, nhờ đó các cá thể tác động lẫn
nhau. Chúng ảnh hưởng tới hoạt động khai thác và sáng tạo giá trị văn hóa, tới nhu cầu
tinh thần, hứng thú và định hướng giá trị của họ. Môi trường văn hóa không chỉ là tổng
hợp những yếu tố văn hóa vật thể, mà còn có những con người hiện diện văn hóa" [1, tr.
75].
Trong những năm gần đây, MTVH ở Việt Nam đã trở thành một vấn đề bức xúc,
vừa có tính cấp thiết, vừa có tính lâu dài, đòi hỏi phải giải đáp cả về mặt lý luận và trong
thực tiễn đời sống xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập và tiếp cận MTVH từ nhiều
góc độ và cấp độ khác nhau, xuất phát từ những mục đích nghiên cứu khác nhau.
Trong cuốn sách "Quản lý hoạt động văn hóa" xuất bản năm 1998, từ góc độ lãnh
đạo, quản lý hoạt động văn hóa, tập thể tác giả nhận định: "Môi trường văn hóa là một
tổng thể các sản phẩm văn hóa, chương trình văn hóa, hành vi văn hóa, thiết chế, phương
tiện và cảnh quan văn hóa mà cá nhân tiếp xúc trong suốt đời mình và có ảnh hưởng
qua lại với mình" [25, tr. 77].
Công trình nghiên cứu khoa học của Bộ quốc phòng "Nuôi dưỡng giá trị văn hóa
trong nhân cách người chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam" khi đề cập đến vấn đề
MTVH, các tác giả cũng quan niệm: "Môi trường văn hóa là tổng hòa những thành tố vật
chất và tinh thần tương đối ổn định trong một thời gian và không gian cụ thể, ở đó các cá
nhân tác động đến nhau, con người là yếu tố quan trọng nhất của môi trường văn hóa"
[43, tr, 32]. MTVH luôn gắn với một phạm vi không gian và thời gian tác động xung
quanh con người, tức là phải gắn với MTXH trong đó có nền văn hóa hiện tồn.
Theo GS. Phạm Minh Hạc: "Môi trường văn hóa chính là môi trường xã hội và
tự nhiên, bao gồm các quan hệ người, nhóm, gia đình, tổ tiên, cộng đồng dân tộc, xã hội".
Như vậy, MTVH là sự vận động của các mối quan hệ giao tiếp, thể hiện trong ứng xử của
hàm của nó, để từ đó có những hướng đi đúng đắn trong việc nghiên cứu và thực thi
nhiệm vụ xây dựng MTVH.
Thứ nhất, cần phân biệt rõ khái niệm "văn hóa" và "MTVH".
Đây là hai khái niệm có mối quan hệ mật thiết, thẩm thấu lẫn nhau, bởi giữa
chúng có nhiều nét tương đồng. Văn hóa hình thành và phát triển trước hết trong mối quan
hệ giữa con người với MTTN và MTXH. Một khi đã hình thành, văn hóa lại tạo ra môi
trường sống, MTVH của con người, góp phần quan trọng trong việc hình thành con người
như một thực thể văn hóa. "Người không đẻ ra người, đứa trẻ chỉ trở nên người trong quá
trình giáo dục" [51, tr. 129]. Một MTVH lành mạnh cũng được hiểu như một không gian
văn hóa được tạo dựng, bồi đắp bởi những giá trị chân-thiện-mỹ. Khi nói văn hóa là
"thiên nhiên thứ hai" của con người chính là muốn nhấn mạnh đến sự tương đồng đó giữa
"văn hóa" và "MTVH". Hơn nữa xét về bản chất, văn hóa chính là: "Sự phát huy các
năng lực bản chất của con người, là sự thể hiện đầy đủ nhất chất người, nên văn hóa trở
thành năng lực tinh thần đặc biệt, giúp cho con người hoàn thiện nhân cách, tâm hồn,
đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của con người" [9, tr. 65]. Đây cũng có thể được
quan niệm là tác động cơ bản, cốt lõi của MTVH
Tuy nhiên, không thể đồng nhất "văn hóa" với "MTVH". Giữa chúng vẫn có ranh
giới và hàm chứa sự khác biệt (tương đối). MTVH chính là bộ phận của môi trường sống
đã được "nhân hóa", "văn hóa hóa", "thẩm mỹ hóa", đồng thời là sự biểu hiện văn hóa
của con người ra bên ngoài. Trong quan hệ với con người, MTVH với tư cách là tổng hòa
các mối quan hệ xã hội - trở thành khách thể, là cái "bao quanh" con người, tác động trở
lại con người một cách khách quan (khách quan ở đây chỉ mang tính tương đối khi đặt
trong mối tương quan đối sánh với văn hóa mà thôi). Văn hóa lại hàm chứa một ý nghĩa
bao quát, rộng lớn hơn nhiều. Văn hóa có thể được nhìn nhận là trình độ, năng lực bản
chất người, là hoạt động sáng tạo và sản phẩm (giá trị) sáng tạo, văn hóa vừa được tích
lũy trong con người (năng lực sáng tạo, tri thức, tư duy, khả năng khái quát hóa, trừu
tượng hóa ) vừa được thể hiện ra thế giới xung quanh con người (hoàn cảnh, MTVH)
kết tinh thành hệ giá trị chuẩn mực, khuôn mẫu ứng xử quy định mọi lĩnh vực hoạt
động, ứng xử, phương thức hoạt động của con người. "Không thể có môi trường văn hóa
dựa vào bản sắc dân tộc và truyền thống văn hóa dân tộc mới có thể được phát huy vững
chắc. Do đó, xây dựng MTVH ở nước ta hiện nay phải gắn liền với nhiệm vụ tuyên
truyền, giáo dục sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nó trở thành
hạt nhân cốt lõi trong đời sống chính trị xã hội, đồng thời phải hết sức chú trọng xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
MTVH là một bộ phận quan trọng, một phương diện cốt lõi của văn hóa, phản ánh
chân xác bản chất, trình độ phát triển của nền văn hóa trong xã hội đó, "MTVH là thành
quả kết tinh văn hóa của một thời đại cụ thể" [17, tr. 67]. Tuy nhiên, nó không đơn thuần
chỉ là sản phẩm của nền văn hóa trong xã hội hiện tồn mà thể hiện sự phát triển tiếp nối
của truyền thống dân tộc, của hệ thống các giá trị, các chuẩn mực đạo đức, pháp quyền,
các phương thức hoạt động, khuôn mẫu ứng xử đã được các thế hệ liên tục tạo dựng
nên, được định hình tương đối ổn định trong suốt tiến trình vận động phát triển của nền
văn hóa dân tộc. Sự thâm nhập của hệ thống các giá trị, các chuẩn mực đó vào các thiết
chế gia đình, nhà trường, xã hội; vào các lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội như:
khoa học, giáo dục - đào tạo, đạo đức, thẩm mỹ sẽ tạo ra một MTNV tương ứng, góp
phần nuôi dưỡng, hình thành một kiểu mẫu nhân cách sáng tạo đáp ứng yêu cầu đặt ra
của đời sống xã hội. MTVH được hình thành ổn định sẽ bảo lưu và thúc đẩy điều kiện
sống có văn hóa của con người, góp phần hình thành thế ứng xử, những giá trị, biểu tượng
văn hóa tương đối ổn định, tạo điểm tựa cho sự phát triển của các thực thể văn hóa và văn
hóa nói chung. Có thể quan niệm MTVH dưới góc độ giá trị học là một tổng thể các giá trị
tinh thần "bao quanh" con người, khơi dậy năng lực sáng tạo và khát vọng hướng tới cái
chân, cái thiện, cái mỹ của con người trong cuộc sống. MTVH luôn hàm chứa trong mình
tính sáng tạo và bản chất nhân văn, nhân ái, nghĩa hiệp trong mọi hoạt động, hành vi ứng xử
của con người. MTVH là một trong những chỉ số nhân bản đánh giá sự phát triển người,
phát triển xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Xây dựng MTVH thực chất chính
là "nhân văn hóa" các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên và
con người với xã hội; tạo lập một môi trường sống lành mạnh, thuận lợi nhằm phát triển toàn
diện con người, qua đó tác động tới sự phát triển của xã hội, sự phát triển của nền văn hóa.
Thứ hai, MTVH là một bộ phận quan trọng chứ không phải là toàn bộ môi
khi nằm trong mối quan hệ tương tác với con người và cộng đồng người nhằm phát triển
toàn diện con người, tạo động lực vững chắc cho sự phát triển kinh tế, xã hội. MTVH ở đây
được biểu hiện như một sự đan xen phức hợp giữa MTTN và MTXH, chứ không đơn
thuần là bộ phận của MTXH. MTVH hàm chứa một bộ phận MTTN đã được "người
hóa", được "nhân văn hóa" tạo thành một "sinh thái nhân văn", một "cảnh quan văn hóa"
có tác động duy trì và phát triển bền vững cuộc sống con người. Tương tự trong thực tế
không thể đồng nhất hay lẫn lộn MTVH với MTXH mặc dù chúng gắn bó khắn khít với
nhau, tác động mạnh mẽ lẫn nhau và có phần nào đó hòa tan vào nhau. "Môi trường xã
hội nói chung, trong đó bao gồm nhiều yếu tố văn hóa, hay môi trường văn hóa cũng
đồng thời là môi trường xã hội nếu hiểu văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội. Với
cách hiểu chung hiện nay thì xây dựng môi trường văn hóa là để tác động đến đời sống
xã hội, trong đó có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái vì lợi ích con người Nghĩa là môi
trường xã hội và môi trường văn hóa vừa thống nhất hữu cơ, vừa khu biệt theo cơ chế tổ
chức, chứ không phải môi trường văn hóa là bộ phận của môi trường xã hội" [20, tr. 241-
242]. MTVH định hướng cho quá trình vận động và phát triển của MTXH theo những giá
trị, chuẩn mực của đời sống hiện đại phù hợp với bản chất của nền văn hóa và định
hướng chính trị của giai cấp cầm quyền. Một nền văn hóa tiến bộ, được định hướng bằng
một hệ tư tưởng tiên tiến sẽ tạo ra sự phát triển đồng thuận giữa các hình thái môi trường.
Sự khoan hòa giữa ba hình thái môi trường này tạo ra một trạng thái lý tưởng cho sự phát
triển của con người như một tổng hòa các quan hệ xã hội. Sự phân định này rất có ý nghĩa
không chỉ trong phương diện lý luận mà nó còn góp phần quan trọng chỉ đạo hoạt động
thực tiễn xây dựng MTVH ở nước ta trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa và đồng bộ với
nhiệm vụ xây dựng MTTN và MTXH thực sự trong sạch, lành mạnh, giải quyết một cách
thỏa đáng mối quan hệ giữa con người - xã hội và tự nhiên. "Môi trường văn hóa của
chúng ta là môi trường mà ở đó con người giao tiếp với tự nhiên, phát triển hài hòa với tự
nhiên. Môi trường văn hóa của chúng ta là môi trường mà ở đó con người với con người
được sống bình đẳng trong tự do và hạnh phúc và bộ giá trị chân - thiện - mỹ là hướng
vận động cơ bản" [17, tr. 25]. Đồng thời nó cũng chỉ rõ MTVH là một khái niệm có tính
độc lập tương đối, có quy luật vận động và phát triển của riêng mình, nó không phải chỉ
rõ: phải "tạo ra ở các đơn vị cơ sở (gia đình, làng, bản, xã, phường, khu tập thể ), các
cùng dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi ) đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng những
nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân" [3, tr. 447].
Qua một số luận giải ở trên, ta có thể quan niệm: "Môi trường văn hóa không chỉ
là tổng hòa các yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể bao quanh con người, có quan hệ
tương tác với con người, môi trường văn hóa còn là khái niệm chỉ sự tổng hòa các mối
quan hệ xã hội trong hoàn cảnh xã hội nhất định tạo ra một môi trường sống lành mạnh
có ảnh hưởng và tác động đến sự phát triển những năng lực bản chất của con người để
hình thành nhân cách theo lý tưởng xã hội tiên tiến phù hợp với sự vận động và phát triển
của đời sống xã hội, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa". Con người
luôn đóng vai trò chủ thể trong suốt quá trình phát sinh, hình thành và phát triển của
MTVH, vừa là yếu tố quan trọng, vừa là sản phẩm chủ yếu nhất của MTVH. Do vậy, để
tạo ra sự phát triển chân chính và đúng nghĩa của con người luôn cần phải xây dựng và
bảo vệ tốt MTVH.
1.1.2. Cấu trúc của môi trường văn hóa
MTVH có cấu trúc hết sức phức tạp, có thể tiếp cận ở nhiều góc độ, nhiều
phương diện khác nhau như: Phân chia thành những yếu tố vật thể và phi vật thể; phân
chia thành những yếu tố tự nhiên và những yếu tố xã hội; phân chia thành những yếu tố
đã có, đã hoàn thiện, được kế thừa, chọn lọc mang tính bền vững và những yếu tố đang ở
dạng tiềm năng, đang trong quá trình phát sinh, hình thành, phát triển. Từ góc độ giá trị
học MTVH được quan niệm như một hệ thống giá trị, khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực đạo
đức, pháp lý, phong tục, tập quán Từ phương diện quản lý, MTVH bao gồm tổng thể
các sản phẩm văn hóa, chương trình văn hóa, hành vi văn hóa, thiết chế, phương tiện và
cảnh quan văn hóa Để phù hợp với định hướng nghiên cứu của đề tài, cấu trúc của
MTVH được xem xét từ hai khía cạnh chính: Phạm vi không gian và các thành tố cơ bản
cấu thành.
* Theo phạm vi không gian MTVH được phân chia thành các cấp độ sau:
- Cấp độ vi mô (cơ sở): bao gồm MTVH gia đình, dòng tộc, nhóm xã hội. Đây là
môi trường mà ở đó diễn ra quá trình nhập thân văn hóa đầu tiên của con người, nơi diễn
* Theo các thành tố cấu thành: văn hóa xét theo nội dung bao gồm các nhân tố cơ
bản cấu thành như khoa học, giáo dục- đào tạo, đạo đức, thẩm mỹ; còn xét ở góc độ di
tồn văn hóa - xã hội cái cốt lõi của nó là truyền thống. Do đó xét từ các thành tố cấu
thành, cấu trúc của MTVH bao gồm: Môi trường khoa học; môi trường giáo dục - đào
tạo; môi trường đạo đức; môi trường thẩm mỹ; môi trường truyền thống (lễ hội, phong
tục, tập quán, tín ngưỡng, các sinh hoạt văn hóa khác).
- Môi trường khoa học; môi trường giáo dục - đào tạo: là tổng hòa các mối quan
hệ, các điều kiện dạy - học, nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ
góp phần nâng cao trình độ học vấn, sự hiểu biết, khám phá và sáng tạo của con người
trong thực tiễn đời sống, nâng cao trình độ làm chủ của con người đối với tự nhiên, xã
hội và bản thân. Trình độ phát triển của mỗi cá nhân, cộng đồng, dân tộc, quốc gia, nhân
loại bao giờ cũng phụ thuộc rất lớn vào MTVH đặc thù này. Tiếp tục tinh thần Nghị
quyết Trung ương 2 (khóa VII), Đại hội IX của Đảng khẳng định: "Phát triển khoa học và
công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và
động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" [13, tr. 112].
- Môi trường đạo đức: là sự tổng hòa các mối quan hệ nhân tính, nhân văn, các
chuẩn mực xã hội có chức năng điều chỉnh mọi hành vi hoạt động, ứng xử, quan hệ lợi
ích của con người theo chuẩn mực của cái thiện, tạo lập các mối quan hệ xã hội ngày
càng nhân văn, tạo ra một đời sống tinh thần mang nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ.
Môi trường đạo đức có ảnh hưởng, tác động đến sự hình thành phẩm hạnh, lương tâm,
tính thiện của con người. Nền tảng nhân cách, phẩm hạnh của con người, cũng như nền
tảng tinh thần của xã hội có phát triển lành mạnh, ổn định vững chắc hay không phụ
thuộc rất lớn vào hình thái môi trường này.
- Môi trường truyền thống: là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội cổ truyền trong
xã hội đương thời, tạo thành những điều kiện khách quan và chủ quan cho sự phát triển
của hiện tại và tương lai. Đây là môi trường bảo lưu và truyền thụ các giá trị văn hóa tinh
hoa của dân tộc đến mọi thành viên trong xã hội, góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc, chống mọi hiện tượng sùng ngoại, lai căng mất gốc, đảm bảo sự phát triển
tiếp nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.
ngừng vận động và được nâng cao theo yêu cầu phát triển của xã hội, được bổ sung thêm
những nhân tố mới trong quá trình giao lưu văn hóa để phù hợp với sự phát triển của thời
đại. Theo đó, MTVH không ngừng được bồi đắp các giá trị, chuẩn mực mới nhân bản
hiện đại nảy sinh cùng với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội mới, đồng thời bảo
lưu các giá trị cốt lõi và chuyển đổi các giá trị truyền thống không còn phù hợp. Đổi mới
và chuyển đổi giá trị là một yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển của MTVH. Song, dù
chuyển đổi giá trị đến đâu những giá trị văn hóa truyền thống vẫn có sức sống lâu bền với
thời gian, là nhân tố cốt lõi đảm bảo các giá trị, chuẩn mực mới được hình thành mà vẫn
không xa rời cội nguồn đã sản sinh ra truyền thống đó; đồng thời nó cũng vượt qua khuôn
khổ dân tộc, cộng đồng để trở thành khuynh hướng chung, phổ biến của nhân loại. Với ý
nghĩa đó, định hướng MTVH ở nước ta hiện nay nhất thiết phải là sự kế thừa và phát
triển tiếp nối những giá trị tinh hoa truyền thống (truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn
kết cộng đồng, lòng tự hào dân tộc ) với những giá trị nhân bản hiện đại, tinh hoa văn
hóa nhân loại để phát triển đất nước. Kinh nghiệm Nhật Bản cho thấy, do tạo lập được
MTVH trong đó các giá trị truyền thống chẳng những không mâu thuẫn với nhịp điệu của
đời sống công nghiệp mà còn tạo nên sự hài hòa của một xã hội văn minh; lấy tinh thần
nhân bản để nuôi dưỡng ý thức tự hào dân tộc và ý chí vươn lên, lấy sự tiến bộ của khoa
học, công nghệ trong thời đại mới để củng cố truyền thống dân tộc mà đã tạo ra một sự
phát triển thần kỳ.
Như vậy, MTVH muốn phát triển bền vững phải tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa
truyền thống với những cái mới nảy sinh trong hiện thực cuộc sống và hiện đại hóa truyền
thống. Tức là phải đảm bảo tính kế thừa trong sự vận động và phát triển của MTVH. Đúng
như đồng chí Đỗ Mười (nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) đã nhấn mạnh:
"Việc tạo ra môi trường văn hóa của chủ nghĩa xã hội, trong đó là sự kết hợp hài hòa giữa
các giá trị truyền thống và giá trị hiện đại, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn là trách
nhiệm to lớn của toàn Đảng và toàn dân ta " [22, tr. 21].
- MTVH luôn có sự đan xen giữa cái cũ và cái mới, cái bảo thủ, lạc hậu và cái
tiên tiến, văn minh, giữa giá trị và phản giá trị. MTVH là kết tinh thành quả lao động
sáng tạo của nhiều thế hệ, được phát triển tiếp nối qua nhiều thời đại. Do đó, có những
các nền văn hóa khác. Giao lưu văn hóa là sự tác động lẫn nhau giữa cái nội sinh và cái
ngoại sinh. Sự hình thành và phát triển của MTVH cũng không nằm ngoài nguyên tắc
này. Một MTVH trong sạch, lành mạnh là kết quả của sự hội tụ các giá trị tinh hoa đã tạo
thành bản lĩnh, bản sắc, đặc tính, cốt cách dân tộc, với những giá trị tinh hoa của nhân
loại đã tiếp thụ được trong quá trình giao lưu văn hóa rộng mở. Một MTVH mà thiếu
vắng các giá trị nền tảng nội sinh sẽ phát triển mất định hướng, xô bồ, lai căng khó tránh
khỏi nguy cơ bị "đồng hóa", bị "nô dịch" từ bên ngoài. Cũng như một MTVH biệt lập,
khép kín hoặc mở cửa đón nhận các giá trị từ bên ngoài không cân nhắc, thiếu chọn lọc
khó tránh khỏi nguy cơ tụt hậu, thoái hóa, thậm chí vong bản, tàn lụi. Trong mối quan hệ
đó cái nội sinh phải chủ động tiếp nhận cái ngoại sinh từ ngoài vào và chuyển hóa nó trên
cơ sở của chính mình. Có như vậy MTVH mới được bảo vệ và phát triển vững chắc. Còn
nếu sự đổi mới chủ yếu dựa vào cái ngoại sinh sẽ tạo nên sự đứt gãy truyền thống, sẽ tạo
thành "cái bóng mờ" của người khác trong phát triển. Xây dựng MTVH trong bối cảnh
toàn cầu hóa hiện nay, giải quyết mối quan hệ giữa nội sinh và ngoại sinh có ý nghĩa
quyết định đối với sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước. MTVH Việt Nam được
tạo dựng xuyên suốt tiến trình lịch sử là một mẫu hình tiêu biểu về sự kết hợp hài hòa,
linh hoạt và sáng tạo giữa cái nội sinh và cái ngoại sinh trong phát triển. Đặc điểm này đã
thể hiện, giao lưu và tiếp biến văn hóa cũng là tính quy luật phổ biến trong sự vận động
và phát triển của MTVH.
- MTVH luôn mang tính phong phú, đa dạng. Tính đa dạng của MTVH được thể
hiện ở sắc thái văn hóa vùng, miền, sắc tộc, địa phương, cơ sở. Sự khác biệt về sắc tộc,
phương ngữ, phong tục, tập quán, phương thức sản xuất càng lớn thì tính đa dạng và
phong phú của MTVH càng thể hiện đậm nét. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa
tôn giáo, lại được hình thành từ nhiều vùng văn hóa (6 vùng văn hóa chính) với những
nét đặc trưng riêng đã tạo nên tính phong phú và đa dạng của MTVH. Đặc tính này càng
được bồi đắp thêm qua quá trình giao lưu văn hóa rộng mở, được phát triển tiếp nối qua
các thời kỳ lịch sử, tạo nên sự đan xen phức tạp và đa dạng trong MTVH. Nhưng sự đa
dạng và phong phú đó không hề tạo ra sự biệt lập, khép kín mà luôn nằm trong tính thống
nhất, tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam.