Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở các tỉnh vùng Đông Nam bộ trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa - Pdf 11

MỤC LỤC
Phần mở đầu ........................................................................................................1
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Chương 1..............................................................................................................9
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH............9
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ..........................................................9
1.1. Lý luận cơ bản về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực ............... 9
1.1.1. Quan niệm về nguồn nhân lực ............................................................... 9
1.1.2. Vai trò của nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH ................... 21
1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực ........................................ 24
1.2.1. Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quy mô nguồn nhân lực ..................... 24
1.2.2. Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực ................ 27
1.3. Lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả giáo dục, đào tạo và dạy
nghề ..................................................................................................................... 34
1.3.1. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh ............................................................ 34
1.3.2. Lợi tức từ đầu tư vào giáo dục ............................................................ 35
1.3.3. Lợi tức phi tiền tệ từ đầu tư vào giáo dục ........................................... 36
1.3.4. Giáo dục và vấn đề ngoại ứng ............................................................. 36
1.4. Yêu cầu khách quan nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Miền Đông
Nam bộ trong quá trình CNH, HĐH ................................................................. 37
1.5. Kinh nghiệm các nước về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực .............. 40
Chương 2............................................................................................................44
PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC VÙNG
ĐÔNG NAM BỘ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH ......................................44
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA.........................................................44
2.1. Đặc điểm tự nhiên, KT - XH có ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân
lực vùng ĐNB .................................................................................................... 44
2.1.1. Đặc điểm về tự nhiên ........................................................................... 44
2.1.2. Về đặc điểm KT - XH ......................................................................... 46

3.2.1. Nhóm giải pháp tạo môi trường, điều kiện nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực ............................................................................................ 123
3.2.2. Nhóm giải pháp củng cố, phát huy các cấu thành của chất lượng
nguồn nhân lực ............................................................................................. 137
DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ
Bảng 2.1: Dân số chia theo vùng.......................................................................46
Bảng 2.2: Mật độ dân số Vùng ĐNB................................................................47
Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế Vùng ĐNB................................................................51
Bảng 2.4: Dân số từ 15 tuổi trở lên làm công việc chiếm nhiều thời gian nhất
trong 12 tháng qua chia theo ngành Vùng ĐNB...............................................51
Bảng 2.5: Tỷ lệ dân số thành thị phân theo vùng.............................................55
Bảng 2.6: Cơ cấu lao động của TP.HCM..........................................................57
Bảng 2.7: Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế.............62
Bảng 2.9: Biến số và giải thích (mặt cầu giáo dục)..........................................70
Bảng 2.10: Mô tả biến số của mô hình giáo dục..............................................70
Bảng 2.11: Hệ số tương quan giữa giáo dục và bất bình đẳng đất đai.............72
Bảng 2.12: Hệ số tương quan giữa giáo dục và bất bình đẳng đất đai............72
Bảng 2.13 Hệ số tương quan giữa giáo dục và bất bình đẳng đất đai..............73
Bảng 2.14: Giáo dục và nghèo cả nước............................................................74
Bảng 2.15: Giáo dục và nghèo Đông Nam Bộ.................................................74
Bảng 2.16: Thống kê mô tả................................................................................75
Bảng 2.18: Tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật theo khu vực (%)...........92
Bảng 2.19: Tỷ lệ hộ nghèo phân theo ngành chính của nhóm từ 15 tuổi trở lên
có việc làm trong 12 tháng qua (%), 2008........................................................93
Bảng 2.20: Tỷ lệ hộ nghèo phân theo nghề chính của nhóm từ 15 tuổi trở lên
có việc làm trong 12 tháng qua (%), 2008........................................................94
Bảng 2.21: Trình hộ học vấn và nghèo đói, 2008.............................................95
Bảng 2.22: Trình độ học vấn cao nhất của thành viên năm 2008....................95
Bảng 2.23: Quy mô hộ trung bình năm 2008..................................................96
Bảng 2.24: Số con dưới 15 tuổi trung bình của một hộ gia đình, 2008...........97

MLYTCS Mạng lưới y tế cơ sở
CSYTCB Chăm sóc sức khỏe cơ bản
CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản
CSSKBĐ Chăm sóc sức khỏe ban đầu
KCB Khám chữa bệnh
TTYT Trung tâm y tế
PB Phòng bệnh
PKĐK Phòng khám đa khoa
BVSKBMTE Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em
DSKHHGĐ Dân số kế hoạch hóa gia đình
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình CNH, HĐH hiện nay ở Việt Nam, vị trí và đặc điểm
của các nguồn lực đang được đánh giá và nhìn nhận lại, trong đó con người
được coi là nguồn lực nội tại, cơ bản, quyết định thành công của công cuộc
phát triển KT - XH. Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định:
“ áp ng yêuĐ ứ
c u v con ng i và ngu n nhân l c là nhân t quy t nh s phát tri n t n cầ ề ườ ồ ự ố ế đị ự ể đấ ướ
trong th i k công nghi p hoá, hi n i hoá”. ờ ỳ ệ ệ đạ
Có thể thấy rằng, quá trình CNH,
HĐH ở Việt Nam được thực hiện trên cơ sở bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa
tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội theo hướng phát triển bền vững trong đó
nhân tố con người là trung tâm. Trong tiến trình đó, việc phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước đang là những yêu cầu hết sức cấp bách, đòi hỏi chất lượng nguồn nhân
lực phải có những thay đổi mang tính đột phá.
Trong nền kinh tế hiện đại, nguồn nhân lực đã trở thành động lực tăng
năng suất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ của
doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế, đây chính là yếu tố quyết định tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Bởi vì, chỉ có nguồn nhân lực mới có khả

con người giữ vai trò quyết định sức mạnh của mỗi quốc gia, nó là tài nguyên
của mọi tài nguyên. Nguồn nhân lực nếu được khai thác hiệu quả trong thời
kỳ CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế sẽ là giải pháp đột phá nhằm thực
hiện thắng lợi mục tiêu phát triển KT - XH trong tương lai.
Công cuộc đổi mới ở nước ta đã làm thay đổi cơ bản KT - XH, các địa
phương thuộc miền Đông Nam bộ cũng nằm trong xu thế vận động phát triển
đó. Miền Đông Nam bộ gồm 6 tỉnh, thành: Bình Phước, Bình Dương, Đồng
Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh, đây là vùng
kinh tế phát triển năng động nhất của các tỉnh phía Nam và cả nước. Vùng
ĐNB nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - đầu tàu trong phát triển
của cả nước; là vùng duy nhất hội đủ các điều kiện và lợi thế để phát triển
công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập; đặc
biệt phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, tin học, công
nghiệp dầu khí và sản phẩm hóa dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du
lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng và triển
khai khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao,… phát
triển các ngành kinh tế hiện đại.
Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu,
nhiều cơ hội mở ra thì song song đó cũng phải đối mặt với thách thức, nguy
cơ. Trong đó, nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng nâng cao sức mạnh cạnh tranh cũng là thách thức lớn. Phát triển
Vùng ĐNB đến 10, 20 năm nữa chắc chắn sẽ có thay đổi lớn như dân số phát
triển, hạ tầng kinh tế kỹ thuật mở rộng, hình thành và phát triển các cụm kinh
tế kỹ thuật và khoa học công nghệ… tạo ra nhiều cơ hội mới cho các nhà đầu
tư trong và ngoài nước. Do đó, Vùng ĐNB rất cần nguồn nhân lực chất lượng
cao để đáp ứng yêu cầu này.
Mặt khác, hiện nay nguồn nhân lực của Vùng ĐNB chưa được chuẩn bị
tương xứng với yêu cầu CNH, HĐH. Ngành giáo dục chưa chủ động gắn kết
quy hoạch phát triển giữa các địa phương trong vùng; chưa dự báo được yêu
cầu nhân lực cho từng ngành kinh tế trong chiến lược phát triển KT - XH của

- “Đào tạo nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH dựa trên tri thức của
nước ta hiện nay”, Đặng Hữu, Tạp chí Cộng sản, số 4/2005. Công trình
nghiên cứu khá kỹ về yêu cầu của CNH, HĐH và sự phát triển kinh tế tri
thức, do đó cần phải có sự đổi mới trong giáo dục. Tác giả nêu ra 3 nhiệm vụ
cơ bản của nền giáo dục nước ta là: Nâng cao mặt bằng dân trí; Đào nguồn
nhân lực chất lượng cao thích nghi quá trình đổi mới và phát triển nhanh, đáp
ứng được nhu cầu rút ngắn quá trình CNH, HĐH dựa vào tri thức; Phải chăm
lo bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nhân tài.
- “Phát huy nguồn lực con người để CNH, HĐH - kinh nghiệm quốc tế
và thực tiễn Việt Nam”, Vũ Bá Thể, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội 2005.
Cuốn sách phân tích vấn đề trên trong 3 chương. Chương 1, hệ thống hóa một
số vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, vai trò,….
Chương 2, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta: ưu điểm, hạn chế,
xu hướng phát triển,…. Chương 3, xuất phát từ quan điểm của Đảng và thực
tiễn phát triển nguồn nhân lực Việt Nam, nhóm tác giả đề xuất một số giải
pháp phát huy nguồn nhân lực ở nước ta.
Các công trình nghiên cứu trên phân tích khá sâu những đặc điểm, yêu
cầu của quá trình CNH, HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển
nguồn nhân lực. Tuy nhiên, các công trình này chỉ dừng lại ở tính khái quát,
lý luận.
3.3. Vấn đề giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
- “Phát triển nhân tài chấn hưng đất nước”, Nguyễn Đắc Hưng, NXB
CTQG, Hà Nội 2007. Cuốn sách tập trung giới thiệu những phẩm chất cần có
của nhân tài, kinh nghiệm đào tạo, sử dụng nhân tài của ông cha ta và một số
quốc gia trên thế giới, những nội dung cơ bản về phát triển nhân tài.
- “Mô hình năng lực trong giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân
lực”, Nguyễn Hữu Lam, Tạp chí Phát triển kinh tế số 3/2004. Tác giả phân
tích các lý thuyết về mô hình năng lực trong giáo dục, đào tạo phát triển
nguồn nhân lực có giá trị tham khảo phục vụ cho nghiên cứu đề tài.
- “Một số vấn đề đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam”, Vũ Thành

nhân lực
- “Thị trường lao động Việt Nam thực trạng và giải pháp”. Nguyễn Thị
Thơm, NXB CTQG, Hà Nội 2006. Cuốn sách trình bày những vấn đề cơ bản
về thị trường lao động, kinh nghiệm của một số nước trên thế giới. Nội dung
cuốn sách cung cấp cho người đọc bức tranh tổng thể về thị trường lao động
nước ta hiện nay.
- “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội”, Bùi Văn Nhơn, NXB
Tư Pháp, Hà Nội 2006. Cuốn sách cung cấp cơ sở lý thuyết những nội dung
cơ bản trong quản lý phát triển nguồn nhân lực như: phân bổ và sử dụng hiệu
quả nguồn nhân lực , thị trường lao động, các chính sách,…
- “Thị trường lao động; Vấn đề lý thuyết và thực trạng hình thành, phát
triển ở Việt Nam”, Phạm Đức Chính, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 308
(1/2004). Tác giả phân tích khả kỹ những nội dung liên quan đến thị trường
lao động như: Khái niệm thị trường lao động; Bản chất của thị trường lao
động; Những đặc trưng hoạt động của thị trường lao động; Ý nghĩa của thị
trường lao động và cuối cùng tác giả phân tích thực trạng thị trường lao động
ở Việt Nam, rút ra một số đặc điểm chủ yếu của thị trường lao động.
Các công trình đề cập tương đối toàn diện vai trò của Nhà nước trong
việc phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tuy nhiên, các công
trình mới chỉ dừng lại những vấn đề chung và chưa đề cập nhiều đến việc
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong điều kiện hội nhập.
3.6. Khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực
- “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam”, Nguyễn Hữu
Dũng, Nxb Lao động - Xã hội, 2003. Cuốn sách trình bày hệ thống những vấn
đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố và sử dụng nguồn
nhân lực trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực, từ đó đề xuất các
giải pháp nhằm phát triển, phân bố và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình
phát triển kinh tế ở nước ta đến năm 2020.
- “Hiệu quả sử dụng lao động ở nước ta và giải pháp nâng cao”,

Nam bộ, xác định những hạn chế và nguyên nhân.
- Xây dựng những giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở các
tỉnh miền Đông Nam bộ trong thời kỳ hội nhập.
4. Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề chất lượng nguồn nhân lực của Vùng ĐNB từ
năm 2000 trở lại đây. Về mặt lý luận, chất lượng nguồn nhân lực là tổng hòa
của ba yếu tố: thể lực, trí lực và phẩm chất của người lao động. Đề tài nghiên
cứu chất lượng nguồn nhân lực trên 3 nội dung cơ bản:
- Giáo dục - đào tạo và dạy nghề;
- Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng;
- Vấn đề nghèo đói và thu nhập.
Đề tài được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về nguồn nhân lực và nâng cao nguồn nhân lực
trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập
Chương 2: Phân tích hiện trạng chất lượng nguồn nhân lực Vùng ĐNB trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
miền Đông Nam bộ trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Lý luận cơ bản về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
1.1.1. Quan niệm về nguồn nhân lực
1.1.1.1. Quan điểm Mácxit về nguồn lực con người
Những thành tựu trong nhận thức về con người mà loài người đạt được ở
thời đại ngày nay là kết quả của sự tích luỹ những giá trị tinh hoa của nhân
loại qua hàng nghìn năm lịch sử. Trong đó, những cống hiến của các nhà sáng
lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin có tính chất quyết định, tạo ra bước ngoặt cách
mạng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại.
Ngược dòng lịch sử nghiên cứu về con người có thể nhận thấy: thời cổ

quan niệm của triết học Mácxít con người là một thực thể trong sự thống nhất
biện chứng giữa cái tự nhiên và cái xã hội. Con người sinh ra từ tự nhiên, tuân
theo các quy luật tự nhiên, đồng thời con người tồn tại và phát triển gắn liền
với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Luận đề nổi tiếng về con người được C.
Mác viết trong Luận cương về Phoi-ơ-bắc: ″Bản chất con người không phải là
một cái gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của
nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội" [26, tr.11] . Với
quan niệm đó, C. Mác chỉ ra rằng bản chất con người không phải là trừu
tượng mà là hiện thực, không phải tự nhiên mà là lịch sử. Con người là một
thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, nhưng yếu tố xã hội
mới là bản chất đích thực của con người. Ở đây, cá nhân được hiểu với tư
cách là những cá nhân sống, là người sáng tạo các quan hệ xã hội; sự phong
phú của mỗi cá nhân tuỳ thuộc vào sự phong phú của những mối liên hệ xã
hội của nó. Hơn thế, mỗi cá thể là sự tổng hợp không chỉ của các quan hệ hiện
có, mà còn là lịch sử của các quan hệ đó. Thông qua hoạt động thực tiễn, con
người làm biến đổi tự nhiên, xã hội, biến đổi chính bản thân mình và đã làm
nên lịch sử của xã hội loài người. Vạch ra vai trò của mối quan hệ giữa các
yếu tố cấu thành bản chất của con người, quan hệ giữa cá nhân và xã hội là
một cống hiến quan trọng của triết học mácxit.
Kế thừa những tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tri thức triết học
phương Đông và vốn văn hoá dân tộc, luôn chú ý đến con người. Theo Hồ
Chí Minh ″chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa
rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người" [21, tr.644]. Với ý nghĩa
đó, khái niệm con người mang trong nó bản chất xã hội, là con người xã hội,
phản ánh các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng trong đó con người hoạt động và
sinh sống. Hồ Chí Minh thường đặt mỗi cá nhân con người trong mối quan hệ
ba chiều: quan hệ với một cộng đồng xã hội nhất định trong đó mỗi con người
là một thành viên; quan hệ với một chế độ xã hội nhất định trong đó con
người được làm chủ hay bị áp bức bóc lột; quan hệ với tự nhiên trong đó con
người là một bộ phận không thể tách rời. Con người trong quan niệm của Hồ

(thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp...) mà mỗi cá nhân sở hữu. Nguồn lực
con người được coi như là một nguồn vốn bên cạnh các nguồn vốn khác như
tài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên...
Ở nước ta, một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học - công
nghệ cấp nhà nước mang mã số KX - 07 cho rằng nguồn lực con người được
hiểu là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức
khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc. GS.
Phạm Minh Hạc cho rằng “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao
động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị
(ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó”
[16, tr.269]. TS Nguyễn Thanh xác định “nguồn nhân lực đó là tổng thể sức
dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động
của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội” [33, tr.70].
Nghiên cứu các khái niệm trên cho thấy nguồn nhân lực không chỉ đơn
thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể
chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia
được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội.
Khái niệm ″nguồn nhân lực" (Human Resoures) được hiểu như khái
niệm ″nguồn lực con người". Khi được sử dụng như một khái niệm công cụ
để điều hành, thực thi chiến lược phát triển KT - XH, nguồn nhân lực bao
gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những
người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động - hay còn được gọi là
nguồn lao động. Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những người từ độ
tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu cầu lao động được gọi là lực lượng
lao động.
Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm
khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội
dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.
Theo chúng tôi, con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất,
giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển

con người với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể
của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực
là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái trí lực, thể
lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực.
Như vậy, về phương diện xã hội, nói đến nguồn nhân lực là nói tới hàng
loạt các vấn đề về số lượng dân cư, sự phát triển dân số, lực lượng lao động,
vấn đề phân bố và sử dụng lao động, vấn đề tổ chức quản lý vĩ mô đối với
nguồn nhân lực...
Thứ hai, nói tới nguồn lực con người phải nói tới phương diện cá thể -
chủ thể của nó. Bởi vì, con người đóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo
và chi phối toàn bộ quá trình phát triển KT - XH, hướng nó tới mục tiêu đã
được chọn. Phương diện này được hiểu như là những yếu tố tạo thành cơ sở
hoạt động của cá nhân và cơ sở để phát triển một con người với tư cách là một
cá nhân. Đó là sự kết hợp giữa trí lực, thể lực và những phẩm chất khác của
nhân cách.
+ Trí lực là toàn bộ năng lực của trí tuệ, tinh thần, quyết định phần lớn
khả năng lao động sáng tạo của con người. Trí tuệ được xem là yếu tố quan
trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi ″tất cả những gì thúc đẩy con
người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ". Khai thác và phát
huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy
nguồn lực con người. Trí lực quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con
người, là yếu tố ngày càng có vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn
nhân lực, đặc biệt là trong thời đại khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại
do chính bàn tay, khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại đang
chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mình. Với ý
nghĩa đó, nhà tương lai học Mỹ Alvin Toffler đã khẳng định rằng: “Tri thức
có tính chất lấy không bao giờ hết được” và xếp quyền lực trí tuệ ở vị trí hàng
đầu trong tất cả các quyền lực đã có trong lịch sử.
+ Thể lực đó là trạng thái sức khoẻ của con người biểu hiện ở sự phát
triển sinh học, không có bệnh tật, có sức làm việc trong một hình thái lao

khỏe, đạo đức, tinh thần của từng con người, từng thế hệ.
Thứ ba, vai trò của nguồn lực con người so với các nguồn lực khác
trong quá trình phát triển KT - XH đã được Đảng ta xác định là nguồn lực quý
báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài
chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp. Dĩ nhiên, ngay cả khi xã hội đã phát
triển cao với tiềm lực phong phú dồi dào về vốn vật chất thì “vốn người” vẫn
không hề mất đi vai trò quyết định của nó. Điều đó được thể hiện ở những
điểm sau:
+ Các nguồn lực khác (vốn, tài nguyên thiên nhiên...) tự nó tồn tại dưới
dạng tiềm năng, chúng chỉ trở thành động lực của sự phát triển khi kết hợp
với nguồn lực con người, trở thành khách thể chịu sự cải tạo, khai thác và sử
dụng của con người.
+ Các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, chỉ có
nguồn nhân lực với cốt lõi là trí tuệ mới là nguồn lực có tiềm năng vô hạn,
biểu hiện ở chỗ trí tuệ con người không chỉ tự sản sinh về mặt sinh học, mà
còn tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất trong con người nếu biết chăm
lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý.
Kinh nghiệm của nhiều nước đã cho thấy thành tựu phát triển KT - XH
phụ thuộc chủ yếu vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con
người. Nhiều quốc gia đã đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược
phát triển của mình. Nhận thức đúng vai trò quyết định của nguồn lực con
người và đầu tư cho chiến lược con người, đặt lên hàng đầu chất lượng nguồn
lao động, coi giáo dục - đào tạo là chìa khoá của sự tăng trưởng đã đem lại
thành công cho các nước công nghiệp mới Đông Á. Hàn Quốc từ một trong
những nước nghèo nhất thế giới trở thành một trong những quốc gia công
nghiệp mới hùng mạnh nhất về kinh tế của thế giới thứ ba, vượt xa An-giê-ri -
quốc gia có cùng điểm xuất phát về trình độ cách đây 40 năm. Một nước Nhật
đạt được những bước tiến vượt bậc cũng do biết đặt vấn đề con người vào
trung tâm của sự phát triển bằng các triết lý nhân sự mang tính dân tộc, biết
sử dụng nguồn lực con người thông qua các thành tựu khoa học công nghệ và

khả năng tái sinh, tiềm năng vô tận của trí tuệ, tinh thần con người. Do đó,
phát huy nhân tố con người có thể hiểu như là phát huy nguồn lực con người,
khi con người trở thành một điều kiện, một tiềm năng cần phát huy để tạo ra
động lực phát triển của một quá trình xã hội.
Điểm khác nhau giữa hai khái niệm này: ″nguồn lực con người" được coi
là khái niệm công cụ cơ bản để xây dựng chiến lược phát triển KT - XH, theo
quan điểm hệ thống phải đặt nó trong mối quan hệ với các nguồn lực khác.
Nó biểu hiện khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động cả về mặt số
lượng và chất lượng. Còn ″nhân tố con người" là cái cốt lõi, đặc trưng xã hội,
giữ vị trí trung tâm trong tiềm năng của nguồn lực con người, phản ánh bản
chất xã hội, mặt chất lượng của nguồn lực con người, nhấn mạnh tính chất
tích cực, tự giác, sáng tạo của nguồn lực con người trong quan hệ với thể lực,
kinh nghiệm thói quen của chủ thể. Thực chất của việc phát huy nhân tố con
người là hướng mỗi cá nhân, đề cao tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của cá nhân
hoặc đặt con người vào đúng vị trí của nó để con người có cơ hội bộc lộ mình
cống hiến cho sự phát triển. Nhưng chúng ta chỉ hiểu được khái niệm nhân tố
con người khi đặt nó trong hoạt động thực tiễn mà hoạt động bản thân là hoạt
động lao động. Vì vậy, khi nhấn mạnh hệ thống các chỉ số về chất lượng lao
động thì khái niệm nguồn lực con người là sự cụ thể hoá của khái niệm nhân
tố con người. Tuy nhiên, ″phát huy nguồn lực con người" xét theo quan điểm
đầu tư cho sự phát triển KT - XH bao hàm nghĩa rộng hơn ″phát huy nhân tố
con người".
Phát huy nguồn lực con người thể hiện ở ba mặt: phát triển nguồn nhân
lực, sử dụng nguồn nhân lực và nuôi dưỡng môi trường cho nguồn nhân lực.
Điều đó liên quan đến hàng loạt vấn đề từ việc nuôi dưỡng, giáo dục - đào tạo
đến việc tổ chức khai thác, sử dụng nguồn nhân lực; từ việc phát huy tính chủ
động, tích cực, sáng tạo của mỗi cá nhân đến việc tạo môi trường xã hội thuận
lợi cho sự cống hiến và hưởng thụ của con người; từ việc nâng cao năng lực
và phẩm chất của người lao động với tư cách là chủ thể nhận thức và hoạt
động thực tiễn trong quá trình phát triển KT - XH đến khâu khai thác hợp lý,

nó có khả năng hoạt động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi
thế giới tự nhiên. Trong quá trình lao động làm nảy sinh các mối quan hệ lao
động và quan hệ xã hội, nguồn nhân lực của một quốc gia được hiểu hiện trên
hai khía cạnh sau:
- Nguồn nhân lực là yếu tố đầu vào, nguồn cung cấp sức lao động cho xã
hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra mọi giá trị vật
chất và tinh thần cho xã hội. Nguồn nhân lực có thể hiểu là tổng thể những
tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) của
một quốc gia, vùng, lãnh thổ và địa phương. Tiềm năng đó bao hàm tổng hòa
năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách của con người (lao động) của một quốc
gia (vùng, lãnh thổ), đó chính là tiềm năng của người lao động về số lượng,
chất lượng và cơ cấu.
- Với tư cách là khả năng đảm đương lao động chính của xã hội thì
nguồn nhân lực bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động và có khả năng
lao động theo luật định. Theo cách hiểu này thì khái niệm nguồn nhân lực
tương đương với nguồn lao động.
Nguồn nhân lực được hiểu là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ giữa
năng lực xã hội của con người (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động
xã hội của con người.
Theo quy định của Tổng cục Thống kê thì nguồn nhân lực - dùng trong
thống kê thị trường lao động gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm
(lao động đang làm việc) và những người trong độ tuổi lao động có khả năng
lao động nhưng đang ở trong các tình trạng sau đây:
- Đang thất nghiệp;
- Đang đi học;
- Đang làm nội trợ trong gia đình mình;
- Không có nhu cầu làm việc;
- Những người thuộc tình trạng khác chưa tham gia lao động.
1.1.1.3. Phát triển nguồn nhân lực
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển nguồn nhân lực.

TƯ Đảng (khóa VII) đã xác định: CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn
bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế
xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến
sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại
dựa trên những thành tựu của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra năng
suất lao động cao. Sự đổi mới và phát triển công nghệ sản xuất ra các sản
phẩm và dịch vụ có trình độ kỹ thuật, công nghệ cao, có giá trị cao sẽ tạo ra
sự tăng trưởng và phát triển cho nền kinh tế, cho phép nâng cao hiệu quả sử
dụng các nguồn lực cho sự phát triển. Chủ thể của quá trình này không ai
khác chính là nguồn lực con người.
Karl Marx đã từng khẳng định: con người là yếu tố quan trọng nhất, là
chủ thể của mọi hoạt động xã hội, từ hoạt động sản xuất vật chất đến các hoạt
động văn hóa, chính trị - xã hội. Con người với tư duy khoa học sáng tạo của
mình là những chủ thể không ngừng cải tạo thiên nhiên, phát triển xã hội và
trong quá trình đó, không ngừng cải biến chính bản thân mình. Và như vậy,
trong mọi thời đại, nguồn lực con người luôn là nguồn lực quan trọng nhất đối
với sự phát triển của xã hội.

Trích đoạn Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực Lý thuyết tăng trưởng nội sinh Lợi tức từ đầu tư vào giáo dục Yêu cầu khách quan nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Miền Đông Kinh nghiệm các nước về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status