2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VIẾT ĐẦY ĐỦ
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Chủ nghĩa xã hội
Đội ngũ trí thức
Khoa học và công nghệ
Kinh tế - xã hội
Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
VIẾT TẮT
CNH,HĐH
CNXH
ĐNTT
KH&CN
KT - XH
UBND
XHCN
MỤC LỤC
Trang
3
MỞ ĐẦU
Chương
1
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
56
87
89
93
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc cách mạng KH&CN hiện đại đang phát triển mạnh mẽ và tác
động sâu sắc, toàn diện đến mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội, của mọi quốc
gia, dân tộc. Khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,
là động lực quan trọng đối với sự phát triển KT - XH, làm thay đổi cách thức
tổ chức sản xuất cũng như vai trò của các yếu tố trong quá trình sản xuất.
Trước sự tác động của cách mạng KH&CN, việc xây dựng, phát triển kinh tế
tri thức đã trở thành xu thế khách quan của các quốc gia. Đội ngũ trí thức là
lực lượng đi đầu trong việc phát triển, ứng dụng tiến bộ KH&CN hiện đại vào
sản xuất và đời sống, xây dựng nền kinh tế tri thức. Với mục tiêu sớm đưa
nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đòi hỏi chúng ta
phải khai thác mọi nguồn lực, phát huy tiềm năng trí tuệ của dân tộc, đặc biệt
là vai trò của ĐNTT. Nghị quyết Trung ương bảy khoá X của Đảng xác định:
“Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân
tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất
lượng hoạt động của hệ thống chính trị, đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là
xứng với vị trí, vai trò của nó trong sự nghiệp CNH,HĐH. Vì vậy, việc xây
dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh vững mạnh đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH
đang đặt ra một cách cấp thiết.
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh
Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” làm luận
văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trí thức và xây dựng ĐNTT là vấn đề quan trọng trong công tác của
Đảng và có ý nghĩa sâu sắc đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước;
5
nên vấn đề này luôn được các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhiều nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu và đã có nhiều công trình khoa học được công bố
liên quan đến đề tài.
Nhóm công trình khoa học nghiên cứu mang tính tổng quan về trí
thức và xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam:
“Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước” của
Đỗ Mười, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995. Cuốn sách là tập hợp các bài nói, bài
viết của nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười. Thông qua các bài nói, bài viết,
nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã đã khẳng định: trí thức nước ta đại biểu cho
trí tuệ của dân tộc. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, trí thức có vai
trò và trách nhiệm to lớn. Do đó, việc đào tạo, bồi dưỡng, động viên, phát huy
sự sáng tạo của trí thức là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay.
“Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay” Luận án tiến sĩ triết học của Phan Thanh Khôi, Hà Nội, 1992; “Một số vấn đề
về trí thức Việt Nam” của Nguyễn Thanh Tuấn, Nxb CTQG, Hà Nội, 1998;
“Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hoá,
hiện đại hoá” của Phạm Tất Dong (chủ biên), Nxb CTQG, Hà Nội, 2001…
Qua các công trình trên, các tác giả đã luận giải những vấn đề cơ bản về trí
trong CNH,HĐH; trên cơ sở đó các tác giả đề xuất yêu cầu và những giải
pháp cơ bản xây dựng và phát huy vai trò ĐNTT của các địa phương trong
quá trình CNH,HĐH đất nước.
Nhóm công trình khoa học nghiên cứu về việc xây dựng, phát huy vai
trò của đội ngũ trí thức trong các ngành, lĩnh vực và các lực lượng trí thức
khác nhau trong quá trình cách mạng:
“Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội trong công cuộc
đổi mới ở nước ta”- Luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn An Ninh, Hà nội,
1999; “Phát huy vai trò nguồn lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong
Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” - Luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn
7
Đình Minh, Học viện Chính trị - Quân sự, Hà Nội, 2003; “Xây dựng đội ngũ
trí thức ngành kiến trúc trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay” - Luận
án tiến sĩ triết học của Lê Quang Quý, Hà Nội, 2005; “Phát huy vai trò đội
ngũ trí thức các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp cách mạng hiện nay” - Sách
tham khảo của Trịnh Quang Cảnh, Nxb CTQG, Hà Nội, 2005; “Phát huy
nguồn lực nữ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa” của tiến sĩ Đỗ Thị Thạch, Nxb CTQG, Hà Nội, 2005… Thông qua các
công trình khoa học trên, các tác giả đã đi sâu phân tích đặc điểm, vai trò của
trí thức theo từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động, cũng như đặc điểm, vai trò
của các lực lượng trí thức khác nhau; chỉ rõ yêu cầu của sự nghiệp CNH,HĐH
đặt ra đối với trí thức thuộc các ngành, các lĩnh vực và các lực lượng trí thức;
từ đó đề xuất những định hướng, giải pháp cơ bản xây dựng, phát huy vai trò
của trí thức theo từng ngành, từng lĩnh vực và của các lực lượng trí thức khác
nhau trong quá trình CNH,HĐH đất nước.
Ngoài các công trình khoa học nói trên, xung quanh vấn đề trí thức và
xây dựng ĐNTT còn có nhiều bài viết của các nhà khoa học được đăng tải trên
ĐNTT tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước. Vì vậy đề tài
mà tác giả lựa chọn, nghiên cứu là đề tài độc lập, không trùng lắp với bất
kỳ đề tài, công trình khoa học nào đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận
văn
* Mục đích:
Luận giải làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng ĐNTT tỉnh
Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, trên cơ sở đó đề xuất một số giải
pháp cơ bản xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất
nước.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ quan niệm và vai trò của việc xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc
Ninh thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước.
- Đánh giá thực trạng xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh hiện nay và
phân tích làm rõ nguyên nhân của thực trạng.
9
- Đề xuất yêu cầu và một số giải pháp cơ bản xây dựng ĐNTT tỉnh
Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước.
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc
Ninh thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước.
- Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu việc xây dựng
ĐNTT do tỉnh Bắc Ninh quản lý chủ yếu từ năm 2001 đến nay.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG
ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TỈNH BẮC NINH THỜI KỲ
ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
1.1. Đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh và xây dựng đội ngũ trí thức
tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.1. Đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước
* Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Bắc Ninh
Điều kiện tự nhiên và lịch sử văn hóa của Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh nhỏ, nằm ở phía bắc thủ đô Hà Nội, trong vùng
kinh tế trọng điểm - tam giác tăng trưởng: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh,
với hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, rất thuận tiện cho
phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và đẩy mạnh CNH,HĐH. Dân số của Bắc
Ninh hiện nay có khoảng hơn 1triệu người với thành phần dân tộc Kinh thuần
nhất. Diện tích tự nhiên của Bắc Ninh khoảng hơn 800 km 2, phần lớn diện
tích là đồng bằng, đồi núi chỉ chiếm khoảng 0,53%, chủ yếu tập trung ở hai
huyện Quế Võ và Tiên Du. Là tỉnh đồng bằng, nên tài nguyên, khoáng sản
của Bắc Ninh không nhiều, chỉ có trữ lượng nhỏ về tài nguyên rừng và một số
khoáng sản khác như đất sét làm gạch, ngói, gốm, gạch chịu lửa; đá sa thạch
và than bùn… Tuy trữ lượng không lớn, song đây cũng là một điều kiện quan
trọng để Bắc Ninh phát triển các ngành, nghề thủ công. Bởi thế, với sự sáng
tạo, khéo léo và tinh tế của người dân, nên các làng nghề ở Bắc Ninh rất phát
triển và Bắc Ninh trở thành mảnh đất sở hữu nhiều làng nghề truyền thống nổi
tiếng như: làng tranh Đông Hồ, làng gỗ Đồng Kỵ, làng đồng Đại Bái, làng
mộc Hương Mạc, làng mây tre Xuân Lai, làng gốm Phù Lãng...
Về lịch sử văn hóa, Bắc Ninh là nơi có truyền thống văn hoá lịch sử
lâu đời, đặc sắc; nơi gặp gỡ, giao hội của các mạch giao thông thuỷ, bộ tạo
cho xứ Kinh Bắc sớm trở thành một trong những trung tâm kinh tế - văn hóa
Bắc Ninh còn là miền quê sản sinh ra nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng như: hoạ sĩ
Trần Văn Cẩn, Hoàng Tích Chù; nhạc sĩ Huy Du, Nguyễn Đức Toàn; nhà văn
13
Ngô Tất Tố, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Kim Lân; nhà thơ Thế Lữ và nhiều
văn nghệ sĩ nổi tiếng khác.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Bắc Ninh
Công nghiệp hóa là quy luật chuyển biến xã hội, từ xã hội nông
nghiệp sang xã hội công nghiệp văn minh. Công nghiệp hoá vừa là động lực,
vừa là kết quả tất yếu của sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của lực lượng
sản xuất. Công nghiệp hóa xuất hiện bắt đầu từ nước Anh vào khoảng nửa
cuối thế kỷ XVIII, gắn với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, sau đó
lan ra các nước Tây Âu và nhiều nước khác trên thế giới. Hiện nay công
nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và là xu thế khách quan, là nấc thang tất yếu
mà bất cứ nước nào cũng phải đi qua để trở nên giàu có và hùng mạnh.
Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của CNH,HĐH đối với sự phát triển
đất nước theo định hướng XHCN, thực hiện “đi tắt đón đầu”, khắc phục sự tụt
hậu về KH&CN so với các nước trên thế giới, ngay từ Đại hội III, Đảng ta đã
xác định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên
CNXH. Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan, trong thời gian dài, công
nghiệp hoá ở nước ta chưa phát triển toàn diện, chủ yếu mới tập trung phát
triển các ngành công nghiệp nặng. Vì thế, cơ bản nước ta vẫn là một nước
nông nghiệp lạc hậu với cơ cấu kinh tế bất hợp lý.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta chỉ rõ: “Mục tiêu của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật
chất - kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ,
phù hợp với trình độ phát triển của sức sản xuất, mức sống vật chất và tinh
thần cao, quốc phòng - an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công
văn hoá nhân loại... Vì vậy, CNH,HĐH là quá trình lâu dài, khó khăn và phức
tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp, trong đó xây dựng và phát huy
vai trò của ĐNTT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Những năm qua, tỉnh Bắc Ninh tích cực đẩy mạnh CNH,HĐH, đầu tư
cải tiến, mua sắm trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, tiếp nhận chuyển giao công
nghệ tiên tiến, thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế… Giai đoạn 2006-2010, nhiệm
vụ CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn được đặt lên hàng đầu, bước đầu phát
huy được tiềm năng về đất đai và lao động nông thôn. Từ một tỉnh nông
15
nghiệp, đến nay cơ cấu kinh tế của Bắc Ninh đang chuyển dịch mạnh sang
công nghiệp và dịch vụ. Hiện nay, tỷ trọng các ngành trong GDP của Bắc Ninh
là: công nghiệp - xây dựng 64,8%, dịch vụ 24,2% và nông nghiệp 11%. Đặc
biệt, Bắc Ninh đã quy hoạch được 15 khu công nghiệp với tổng diện tích 7.525
ha. Riêng sản xuất công nghiệp của Bắc Ninh, từ 2005 đến nay, tăng bình quân
27,9%/ năm; năm 2010 đạt 23.000 tỷ đồng, đưa Bắc Ninh từ vị trí thứ 19 năm
2004 lên vị trí thứ 10 năm 2009 về sản xuất công nghiệp [1, tr.2-4]. Các làng
nghề ở Bắc Ninh cũng đang phát triển mạnh, tích cực ứng dụng công nghệ
hiện đại vào sản xuất, đẩy mạnh maketing quảng bá sản phẩm, mở rộng thị
trường ra các nước trong khu vực và thế giới. Về cơ cấu vùng địa phương,
cực phát triển công nghiệp không ngừng được mở rộng địa bàn, gồm thành
phố Bắc Ninh, Từ Sơn, Quế Võ, Tiên Du, Yên Phong. Vùng trũng các huyện
Gia Bình, Lương Tài, Yên Phong, Quế Võ chuyển sang nuôi trồng và chế
biến thủy sản mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Với nhiều lợi thế, hiện nay Bắc Ninh là tỉnh thu hút được nhiều nhà đầu
tư lớn trong và ngoài nước, nhất là đầu tư nước ngoài. Chỉ tính trong năm
2008, có 76 dự án đầu tư nước ngoài vào Bắc Ninh, với tổng vốn đăng ký đầu
tư là 1.426.391USD [42]... đưa Bắc Ninh vươn lên đứng thứ 7 toàn quốc và
nhanh và bền vững trên cơ sở tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển
các khu công nghiệp - đô thị hiện đại với công nghệ cao, công nghệ sạch;
tăng cường đầu tư vùng sản xuất nông nghiệp có giá trị kinh tế cao… Phát
triển toàn diện các lĩnh vực, văn hóa - xã hội, y tế, giáo dục, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực; giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường; thực hiện
tốt chính sách an sinh xã hội…” [1, tr.23]. Như vậy trong những năm tới để
đẩy mạnh CNH,HĐH, đòi hỏi tỉnh Bắc Ninh phải tập trung nỗ lực, huy động
có hiệu quả mọi nguồn lực, trong đó đặc biệt coi trọng việc xây dựng và phát
huy vai trò của ĐNTT Tỉnh.
* Trí thức
Trong bất kỳ chế độ xã hội nào, trí thức luôn là lực lượng đại diện cho
trí tuệ đương thời, là nguồn lực đặc biệt quan trọng tạo nên sức mạnh của mỗi
quốc gia, dân tộc. Vì vậy, xây dựng, phát huy vai trò của trí thức luôn giành
17
được sự quan tâm đặc biệt trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Tuy
nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia lại có những quan điểm và cách
tiếp cận khác nhau về khái niệm “trí thức”. Từ điển bách khoa Liên - Xô định
nghĩa: “trí thức là tầng lớp những người làm nghề lao động trí óc phức tạp, sáng
tạo, phát triển và truyền bá văn hoá”; Từ điển Wikipedia định nghĩa: “Trí thức là
người sử dụng trí tuệ để làm việc, nghiên cứu, phản ánh, dự đoán hoặc để hỏi và
trả lời các câu hỏi có liên quan về hàng loạt các ý tưởng khác nhau” [12, tr.66].
Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Trí thức: người chuyên làm việc, lao động
trí óc” [40, tr.1075]…
Đảng Cộng sản Việt Nam, quá trình lãnh đạo cách mạng luôn quan tâm
xây dựng và phát huy vai trò của ĐNTT. Quan điểm của Đảng về ĐNTT được
thể hiện trong nhiều văn kiện khác nhau. “Tầng lớp trí thức” là thuật ngữ được
sử dụng phổ biến từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII trở về trước, từ Đại
lao động và hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân. Ở nước ta, trình độ học vấn
của trí thức thường được quan niệm từ bậc cao đẳng trở lên. Phần lớn trí thức
được đào tạo từ các trường cao đẳng, đại học và được nhận các bằng cấp khác
nhau. Tuy nhiên bằng cấp cũng chỉ là một trong những tiêu chí để phân biệt
trí thức với các lực lượng khác trong xã hội; bởi trên thực tế, nhiều người
không qua đào tạo cơ bản, không có bằng cấp, nhưng bằng con đường tự học,
tự nghiên cứu và tích cực lao động sáng tạo, nên họ đã trở thành trí thức và bổ
sung vào ĐNTT.
Thứ ba, trí thức là người lao động trí óc, sáng tạo
Lao động trí óc là đặc trưng lao động của trí thức, hoạt động lao động
chủ yếu của trí thức thể hiện trên một số lĩnh vực như: nghiên cứu ứng dụng
KH&CN, sáng tác văn học - nghệ thuật, giảng dạy, tổng kết thực tiễn, phát
triển lý luận... Do vậy, điều chủ yếu nhất để nói lên trí thức khác với bộ phận
lao động xã hội khác là ở kiểu lao động của họ, đó là lao động trí óc, lao động
sáng tạo. Lao động sáng tạo của trí thức là đi tìm bản chất và phát hiện quy
luật của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan; đem lại những tri thức
khoa học mới, tiến bộ, hữu ích, phổ biến và ứng dụng những tri thức đó vào
thực tiễn để nâng cao chất lượng mọi mặt của đời sống xã hội, dự báo tương
lai và đưa ra phương hướng, biện pháp nhằm phát triển xã hội.
19
Sản phẩm lao động sáng tạo của trí thức cũng rất đa dạng phong phú và
có giá trị xã hội to lớn. Những sản phẩm lao động sáng tạo chủ yếu là những
giá trị tinh thần, là sự phản ánh sâu sắc bản chất của sự vật, hiện tượng và là
một nấc thang mới của nhận thức khoa học, chứ không dừng lại ở những tri
thức kinh nghiệm [30, tr.11-13].
Trí thức chân chính là người học thực, để có thực lực và thực tài; có
năng lực tự đào tạo một cách chủ động, sáng tạo, có phương pháp và bản lĩnh
Đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh bao gồm những người có trình độ
học vấn từ cao đẳng trở lên, đang hoạt động, lao động trí óc sáng tạo trong
các ngành, các lĩnh vực, các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh Bắc Ninh dưới sự
lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy đảng, chính quyền Tỉnh. Họ là lực lượng
giữ vai trò quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh CNH,HĐH của Tỉnh và
góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH,HĐH đất nước.
Cấu trúc của ĐNTT tỉnh Bắc Ninh gồm số lượng trí thức, chất
lượng trí thức (gồm chất lượng từng trí thức và cả đội ngũ) và cơ cấu trí
thức về trình độ, độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, lĩnh vực hoạt động… Sức
mạnh của ĐNTT tỉnh Bắc Ninh chỉ có được, vai trò của ĐNTT tỉnh Bắc
Ninh chỉ được phát huy khi có sự kết hợp hài hòa, hợp lý của các yếu tố
cấu thành ĐNTT Tỉnh. Vì vậy, xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh cần quan
tâm xây dựng đồng bộ, toàn diện cả số lượng, chất lượng và cơ cấu.
Đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh là một bộ phận của trí thức nước
nhà, song họ lại đang hoạt động, lao động trong các ngành, các lĩnh vực,
các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh Bắc Ninh. Vì vậy, họ chịu sự lãnh đạo, quản
lý trực tiếp của các cấp ủy đảng, chính quyền tỉnh Bắc Ninh, chịu sự tác
động, chi phối bởi những điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa cũng như
điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của Tỉnh, nên họ mang những đặc điểm
riêng.
21
Thứ nhất, đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh chủ yếu được củng cố,
hình thành trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đang phát triển
mạnh cả về số và chất lượng
Năm 1997, tỉnh Bắc Ninh được tách ra và tái thành lập từ tỉnh Hà Bắc
cũ, nên khác với nhiều tỉnh khác trong cả nước, ĐNTT tỉnh Bắc Ninh chủ yếu
được củng cố, xây dựng và phát triển cùng quá trình CNH,HĐH của Tỉnh.
nhiều ước mơ, say mê sáng tạo và trí thức thuộc độ tuổi này đang giữ vai trò
nòng cốt của ĐNTT tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Về cơ cấu giới tính: hiện nay ở
Bắc Ninh trí thức nam giới đang chiếm đa số.
Về thành phần dân tộc và xuất thân của ĐNTT tỉnh Bắc Ninh: Bắc
Ninh là tỉnh có dân cư thuần nhất, nên khác với nhiều tỉnh khác cùng trong
vùng đồng bằng Bắc Bộ, trí thức Bắc Ninh đều là người Kinh, do đó mà họ
cùng chung đặc điểm tâm lý, tính cách và trình độ nhận thức tương đối cao,
đồng đều. Về thành phần xuất thân, ĐNTT Bắc Ninh xuất thân từ hầu hết các
tầng lớp dân cư trong xã hội, trong đó chủ yếu là từ gia đình nông dân và
công nhân. Theo kết quả điều tra, khảo sát, có tới 43,7% trí thức xuất thân từ
gia đình nông dân, có 22,96% trí thức xuất thân từ gia đình công nhân, có
26,89% trí thức xuất thân từ gia đình trí thức, chỉ có 6,72% trí thức xuất thân
từ các gia đình khác [41]. Đây là một điều kiện thuận lợi để thực hiện liên
minh công nhân - nông dân - trí thức, cũng như thực hiện đoàn kết rộng rãi
các tầng lớp dân cư trong quá trình CNH,HĐH, phát triển KT - XH của Tỉnh.
Trí thức Bắc ninh hiện nay khá đa dạng về ngành nghề chuyên môn và
lĩnh vực hoạt động. Họ đảm nhiệm các công việc như, nghiên cứu khoa học,
sáng tác văn hoá nghệ thuật và làm công tác xuất bản, báo chí, chăm sóc sức
khỏe cộng đồng… Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, ĐNTT Bắc Ninh có
mặt hầu hết trong các lĩnh vực khoa học, cả khoa học tự nhiên, khoa học kỹ
thuật, khoa học xã hội và nhân văn; cả nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, cả công
nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, giáo dục - đào tạo,
y tế và hện nay một lực lượng trí thức khá đông trong các loại hình hoạt động
sản xuất kinh doanh cá thể. Rõ ràng cơ cấu trí thức Bắc Ninh hết sức đa dạng,
23
đây là một lợi thế để Bắc Ninh phát huy vai trò của trí thức, thực hiện đẩy
mạnh CNH,HĐH và phát triển toàn diện các mặt, các lĩnh vực của Tỉnh.
Từ nghiên cứu điều kiện tự nhiên, lịch sử văn hóa, cũng như sự
nghiệp CNH,HĐH ở Bắc Ninh; từ nghiên cứu về trí thức nói chung và đặc
điểm của ĐNTT tỉnh Bắc Ninh, cho thấy: đẩy mạnh CNH,HĐH đặt ra yêu cầu
rất cao đối với ĐNTT Tỉnh. Yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH đặt ra đối với
ĐNTT Tỉnh thể hiện trên một số vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Bắc Ninh,
đòi hỏi phải có đông đảo trí thức với đa dạng các ngành nghề, lĩnh vực hoạt động
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Bắc Ninh là một quá trình khó khăn,
lâu dài, phức tạp; thực hiện bước chuyển căn bản từ sử dụng lao động thủ công
là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,
phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công
nghiệp và tiến bộ của KH&CN, tạo ra năng xuất lao động xã hội cao. Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ diễn ra trên lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, mà
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, kể cả văn hóa, y tế và giáo dục - đào
tạo... Chính vì vậy, CNH,HĐH yêu cầu ĐNTT Tỉnh phải đông đảo về số
lượng, đa dạng về cơ cấu ngành nghề và lĩnh vực hoạt động, làm chủ được
tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, ứng dụng có hiệu quả vào
các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và mọi mặt của đời sống xã hội.
Thứ hai, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Bắc Ninh, đặt
ra yêu cầu cao về trình độ, chuyên môn, nghề nghiệp của đội ngũ trí thức Tỉnh
Trước yêu cầu phát triển của khoa học, tiếp nhận chuyển giao và ứng
dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất và đời sống, đòi hỏi ĐNTT tỉnh Bắc
Ninh phải có trình độ tri thức cao, thành thạo chuyên môn, nghề nghiệp, có
năng lực tiếp thu và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của KH&CN hiện
đại, những tinh hoa văn hóa, văn minh thế giới và những di sản văn hóa dân
tộc vào thực tiễn Bắc Ninh. Điều đặc biệt quan trọng là CNH,HĐH đòi hỏi
phải có đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong từng lĩnh vực KT - XH, tạo ra lực
lượng xung kích trong việc chuyển giao công nghệ, tiếp nhận chuyển giao