BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
*
CHUNG QUY NHƠN
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ XÃ, PHƯỜNG,
THỊ TRẤN Ở TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
HÀ NỘI - 2014
2
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
*
CHUNG QUY NHƠN
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN
Ở TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH
XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
MÃ SỐ: 60 31 02 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN BÁ THANH
HTCT
Hệ thống chính trị
HĐH
Hiện đại hóa
HĐND
Hội đồng nhân dân
Nxb
Nhà xuất bản
MTTQ
Mặt trận Tổ quốc
UBND
Ủy ban nhân dân
QP, AN
Quốc phòng, an ninh
QPTD
Sự phát triển của tình hình nhiệm vụ và mục tiêu, yêu cầu
xây dựng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn ở tỉnh Cà Mau
2.2
13
PHƯỜNG, THỊ TRẤN Ở TỈNH CÀ MAU
Đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn và một số vấn đề cơ
bản về xây dựng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn ở
1.2
Trang
5
giai đoạn hiện nay
Những giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ xã,
phường, thị trấn ở tỉnh Cà Mau giai đoạn hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
61
69
92
94
102
sản và tài nguyên rừng; thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN.
6
Bên cạnh những thành tựu kinh tế, xã hội đã đạt được, hiện nay ở Cà
Mau nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc, phức tạp trong quản lý và phát triển kinh tế
- xã hội theo cơ chế mới... Thực tế đó đặt ra yêu cầu mới đối với đội ngũ cán bộ
cơ sở nói chung, đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Cà Mau nói riêng, đòi hỏi đội ngũ
này phải có cơ cấu hợp lý, có phẩm chất, năng lực tốt, bản lĩnh chính trị vững
vàng, ngang tầm nhiệm vụ mới ở địa phương.
Nhận thức đầy đủ những vấn đề trên, cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức
năng các cấp đã có chủ trương, nghị quyết, chính sách trong xây dựng đội ngũ
cán bộ các cấp ở địa phương từng bước đáp ứng yêu cầu mới. Nhờ vậy, đội ngũ
cán bộ xã ở tỉnh Cà Mau đã có bước trưởng thành về nhiều mặt, góp phần vào
xây dựng HTCT và bộ máy chính quyền ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, giữ
vững ổn định chính trị, góp phần phát triển KT-XH và thực hiện các nhiệm vụ
khác ở địa phương. Tiêu biểu trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã ở
tỉnh Cà Mau đã được chú trọng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, các chế độ chính
sách ngày càng hoàn thiện; tăng về mặt số lượng, trình độ và kiến thức các mặt
được nâng lên.
Tuy nhiên, bên cạnh đó công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã vẫn là
khâu yếu kém: nội dung chương trình đào tạo còn bất cập; quy hoạch còn bị
động, chắp vá; chế độ, chính sách chưa thật sự thoả đáng; việc tổng kết, đánh
giá một cách có hệ thống và thường xuyên về xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã
chậm được tiến hành; chưa có giải pháp đồng bộ, phù hợp với đặc thù của địa
phương nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ xã của tỉnh Cà Mau trong giai đoạn mới.
Đặc biệt, trước yêu cầu thực hiện đồng bộ cải cách hành chính nhà nước, nhất là
cấp cơ sở, thì công tác xây dựng đội ngũ cán bộ xã còn nhiều hạn chế, bất cập
cả về nhận thức, trách nhiệm, nội dung, quy trình tiến hành...
“Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực quản lý cấp xã trên địa bàn huyện Hoài
Nhơn - Bình Định”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đà Nẵng, 2011. Trương Ngọc
Hùng, “Giải pháp tạo động lực cho cán bộ, công chức xã, phường, thành phố
Đà Nẵng”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đà Nẵng, 2012. Trần Văn Thanh, “Đào
tạo đội ngũ cán bộ, công chức hành chính cấp xã, (phường) thành phố Quy
Nhơn”, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đà Nẵng, 2012.
8
Các đề tài khoa học trên đã nêu bật vị trí, vai trò, đặc điểm và những vấn
đề có tính nguyên tắc trong xây dựng đội ngũ cán bộ công chức theo địa bàn
phạm vi nghiên cứu; đánh giá thực trạng, nguyên nhân. Trên cơ sở dự báo
những nhân tố tác động, các tác giả đã đề xuất những giải pháp chủ yếu để xây
dựng, phát huy vai trò đội ngũ cán bộ công chức hiện nay ở các địa bàn trên.
- Nhóm đề tài về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt gồm có:
TS. Nguyễn Văn Tích (chủ biên), “Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn)”, Đề tài KT-XH.05-11-06,
1993. Hồ Bá Thâm, “Nâng cao năng lực tư duy của cán bộ lãnh đạo chủ chốt
cấp xã hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Triết học, 1994. PGS, TS. Trần Xuân Sầm
(chủ biên), “Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ
thống chính trị thời kỳ đổi mới”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998.
Nguyễn Văn Phích, “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã ở tỉnh
Bình Thuận giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Chính trị - Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000. Phạm Công Khâm, “Xây dựng đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long hiện
nay”, Luận án Tiến sĩ, 2000. Nguyễn Hồng Tân, “Xây dựng đội ngũ cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp quận ở Thành Phố Đà Nẵng trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử, Hà Nội,
2000. Nguyễn Mậu Dựng, “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của
Đảng bộ các cấp ở Tây Nguyên hiện nay”, Luận án Tiến sĩ lịch sử, 2000. Đoàn
cán bộ chủ chốt nói chung, tập trung vào cán bộ chủ chốt cấp xã theo phạm vi
nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ từng bước ngang tầm
chức trách, nhiệm vụ thời kỳ mới.
- Ngoài ra, một số bài viết, nghiên cứu được đăng trên các tạp chí như:
Trần Đình Thu: “Giải pháp nâng cao đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở
Kon Tum”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 9/2007. Trần Quang Kiểm: “Hải Phòng
tạo nguồn cán bộ xã, phường, thị trấn”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7/2010.
Trương Minh Nguyệt: “Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã ở Lạng Sơn”, Tạp chí
Xây dựng Đảng, số 4/2012. Phúc Sơn: “Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ cấp
xã”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 5/2012. Lê Ngọc Xuyên: “Giải pháp nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở ở Tây Nguyên”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 1 +
2/2014 …
10
Nhìn chung, với những góc độ nghiên cứu tiếp cận khác nhau, những
công trình, đề tài nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định cả về lý luận
và thực tiễn theo phạm vi nghiên cứu, từ đó xác định yêu cầu và đề xuất những
giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ xã nói chung; cán bộ, công
chức và cán bộ chủ chốt trong HTCT trên các địa bàn, địa phương ở nước ta.
Tuy nhiên, chưa có công trình, đề tài, luận văn nào nghiên cứu về “Xây
dựng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn ở tỉnh Cà Mau giai đoạn hiện nay” một
cách có hệ thống, toàn diện dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính
quyền nhà nước. Vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu, là công
trình độc lập, không trùng lặp với các công trình, đề tài, luận văn, luận án đã
nghiệm thu, bảo vệ.
Đồng thời trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công
trình, đề tài, luận văn, luận án nói trên và căn cứ vào thực trạng đội ngũ cán bộ xã,
phường, thị trấn trong tỉnh, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ
cán bộ xã nói chung ở tỉnh Cà Mau ngang tầm chức trách, nhiệm vụ trong giai
quyết của Tỉnh ủy, huyện ủy về xây dựng đội ngũ cán bộ địa phương giai đoạn
hiện nay. Ngoài ra, đề tài có kế thừa kết quả nghiên cứu của một số công trình
có liên quan.
* Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn ở tỉnh Cà Mau;
qua các báo cáo sơ kết, tổng kết về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ xã ở tỉnh
Cà Mau thời gian qua; đồng thời qua quá trình điều tra, nghiên cứu, khảo sát
thực tiễn của tác giả; bên cạnh đó có tiếp thu kế thừa và chọn lọc kết quả của
các công trình, đề tài đã được nghiệm thu, bảo vệ.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử dụng tổng
hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học của chuyên ngành và liên ngành,
trong đó chú trọng phương pháp: kết hợp lôgic - lịch sử, phân tích - tổng hợp,
phương pháp tổng kết thực tiễn, thống kê - so sánh và phương pháp chuyên gia.
12
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp thêm cơ sở khoa học để cấp ủy
các cấp, cán bộ chủ chốt của tỉnh Cà Mau trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội
ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn ở tỉnh Cà Mau giai đoạn hiện nay. Đề tài có thể
sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn xây dựng
Đảng ở các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, thành phố và Trường
Chính trị tỉnh Cà Mau.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.
13
14
Vùng ven biển Cà Mau có nguồn tài nguyên rừng phong phú, đa dạng với hệ
sinh thái rừng ngập mặn và rừng ngập lợ trên 145.600 ha (bằng 36,9% diện tích
đất rừng vùng đồng bằng sông Cửu Long) có điều kiện phát triển kinh tế lâm
nghiệp, nuôi trồng thủy sản dưới tán rừng, du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa
học.
Trong mối quan hệ với khu vực, Cà Mau là một trong bốn tiểu vùng kinh tế
đang được quy hoạch xây dựng thành vùng kinh tế động lực của Đồng bằng sông
Cửu Long; là điểm đến của một số tuyến Quốc lộ và tuyến đường thủy quan trọng
(như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 63, Quản lộ Phụng Hiệp, tuyến đường thủy Cà Mau –
Thành phố Hồ Chí Minh, cảng hàng không Cà Mau - Thành phố Hồ Chí Minh, cảng
biển Năm Căn…). Với dự án tiểu vùng Mê Kông mở rộng thì Cà Mau được xác
định nằm trong hành lang phát triển phía nam (Băngkok - Phnompenh - Hà Tiên Cà Mau), đây cũng là tuyến đường Hồ Chí Minh giai đoạn II được nối dài đến mũi
Cà Mau. Với dự án cụm công nghiệp Khí - Điện - Đạm đang được Trung ương đầu
tư và đưa vào sử dụng, Cà Mau thực sự trở thành một cực phát triển của tứ giác Cà
Mau - Cần Thơ - An Giang - Kiên Giang và có khả năng hợp tác phát triển một số
lĩnh với các tỉnh, thành phố khu vực như: liên kết khai thác du lịch lữ hành, tổ chức
các tour du lịch (du lịch sinh thái, biển đảo), đào tạo nguồn nhân lực, cung cấp lao
động cho các khu công nghiệp…
Cà Mau còn có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt với 33 cửa sông
lớn, nhỏ thông ra biển. Hệ thống sông ngòi, kênh rạch ở Cà Mau như mạng
nhện, với tổng chiều dài hơn 18.000 km, rất thuận lợi cho việc phát triển giao
thông bằng đường thủy. Sông ngòi, kênh rạch ở Cà Mau đóng vai trò quan trọng
trong cuộc sống của người dân bản xứ. Nó gắn liền với mọi sinh hoạt, cung cách
ứng xử, hình thành nên các tục lệ, tín ngưỡng mang đậm tính sông nước và hình
thành nên nét văn hoá đặc trưng. Chính những đặc điểm này, đã hình thành nên
một Cà Mau thích ứng với điều kiện địa lý tự nhiên của cộng đồng dân cư vùng
sông nước.
đạt chuẩn quốc gia về y tế xã vào năm 2015.
Tính đến ngày 01 tháng 7 năm 2014, tỉnh Cà Mau gồm có 9 đơn vị hành
chính cấp huyện, gồm 1 thành phố và 8 huyện (thành phố Cà Mau, huyện Đầm
Dơi, Ngọc Hiển, Cái Nước, Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình, Năm Căn, Phú
Tân). Trong đó có 9 thị trấn, 10 phường và 82 xã [Phụ lục 07].
16
Dân số 1.222.199 người, bao gồm 3 dân tộc chính là Kinh, Hoa, Khmer.
Mật độ 230 người/km2. Dân số nông thôn chiếm 79,8%. Nơi tập trung đông dân
nhất là các vùng trung tâm xã, đầu mối giao thông và dọc các trục kênh, các
dòng sông, con rạch… Cà Mau có nhiều tôn giáo và thờ cúng tín ngưỡng dân
gian. Tín đồ Phật giáo và Kitô giáo chiếm số đông, còn lại là Tin lành, Tịnh độ
Cư sĩ, Cao Đài Minh Chơn Đạo, Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Tiên Thiên và
Thiền Lâm, Khất sĩ, Hòa Hảo… Người kinh thường theo Phật giáo Bắc Tông,
người Hoa theo Phật giáo Hoa Tông, người Khmer theo Phật giáo Nam Tông.
Với cách sống, cách nghĩ, cách làm, cách ứng xử, giao lưu nơi vùng đất
mới, đã hình thành tính cách con người và văn hóa sông nước. Lưu dân phiêu bạt
về đất Cà Mau tuy nghèo khổ nhưng rất dũng cảm, nghĩa khí, đầy nghị lực; vừa
hào hiệp, phóng khoáng, vừa khoan dung, độ lượng, vừa trọng nghĩa tình; là những
người chân chất, thật thà, cần cù, nhẫn nại, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” để
đổi lấy chén cơm, manh áo. Tuy cuộc sống văn hóa ở đây từ xa xưa đến nay đã
hình thành phong cách, sinh hoạt khá phong phú, nhưng còn phải khắc phục những
bất cập trong cuộc sống để nâng cao giá trị văn hóa của vùng đất phương Nam.
Quá trình hình thành nên Cà Mau cho thấy vùng đất và con người Cà
Mau được hình thành và phát triển trên cơ sở khẩn hoang lập nghiệp, chung sức,
chung lòng vượt mọi khó khăn, hiệp lực đấu tranh chống mọi kẻ thù, bảo vệ quê
hương, đất nước; đồng thời xây dựng nên đời sống văn hóa của người dân trên
vùng đất cực Nam của Tổ quốc ngày càng thêm phát triển.
- Đặc điểm các xã, phường, thị trấn tỉnh Cà Mau
quốc Việt Nam XHCN.
Ngoài đặc điểm chung của xã, phường, thị trấn Việt Nam, song do điều
kiện tự nhiên, trình độ kinh tế - xã hội và phong tục tập quán, Cà Mau còn có
những đặc điểm riêng đó là cơ cấu, nền tảng kinh tế các xã, phường, thị trấn ở
tỉnh Cà Mau về cơ bản vẫn là sản xuất nông nghiệp, thủy hải sản. Là tỉnh có 82
xã, 10 phường và 9 thị trấn, tuy có nhiều tiềm năng, thế mạnh, nhưng đời sống
nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp
so với các tỉnh trên địa bàn đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh, thành khác
trong cả nước.
Sau khi tái lập tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội ở các xã, phường, thị trấn
có những bước phát triển, cơ cấu kinh tế có sự phát triển đa dạng, có cả nông,
18
lâm nghiệp, thủy sản, dịch vụ và công nghiệp, song kinh tế nông nghiệp vẫn là
chủ yếu, tỉ lệ lao động trong nông nghiệp chiếm 63, 40%, công nghiệp xây dựng
chiếm 16,96%, dịch vụ 19,64%. Kết cấu hạ tầng kinh tế cũng còn yếu kém, thu
nhập bình quân đầu người 296 USD, đời sống người dân còn gặp nhiều khó
khăn, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 27,9%, lao động qua đào tạo, dạy nghề 15%, sử
dụng máy điện thoại bình quân 5 máy cho 100 dân.
Ngoài ra, xã, phường, thị trấn có những đặc điểm gắn liền với điều kiện
tự nhiên, phân bổ dân cư, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nắm và xác định
được vai trò, đặc điểm của cơ sở nêu trên là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan
trọng, nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương ổn định, bền vững, có bước
đi thích hợp. Đồng thời cũng góp phần phát triển đô thị ở tỉnh Cà Mau nhanh
hơn; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đảm bảo vệ sinh môi
trường, ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh những đặc
điểm trên, Cà Mau là một vùng đất trẻ, giàu tiềm năng, trong lịch sử và hiện tại
là nơi dừng chân của nhiều người từ cả miền Bắc và miền Trung chuyển cư đến
làm ăn, sinh sống và công tác. Sự kết hợp các yếu tố tâm lý, văn hoá nhiều miền
lên các cơ quan cấp trên và đề xuất những giải pháp trong việc giải quyết những
vướng mắc, thoả mãn những nhu cầu, mong muốn của nhân dân nói chung và của
mỗi người dân nói riêng.
Nếu chính quyền cấp xã làm việc có hiệu quả thì đường lối, chính sách của
Đảng và pháp luật Nhà nước sẽ dễ dàng đi vào cuộc sống, trở thành hoạt động thực
tế của nhân dân, tạo ra sự phấn khởi, sự tin tưởng của nhân dân vào Đảng và Nhà
nước; đồng thời tạo ra sự hiểu biết, đồng thuận giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Ngược lại, nếu chính quyền cấp xã không giải quyết một cách thấu đáo những thắc
mắc, vướng mắc của nhân dân, các cán bộ, công chức xã làm việc không tốt có thể
sẽ xẩy ra nhiều phản ứng tiêu cực của nhân dân đối với chính quyền nhà nước, với
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thậm chí có thể gây mất đoàn kết
giữa các dòng họ, thôn, ấp, trong xã. Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã nêu trên
đã cho thấy tính chất đặc thù của chính quyền cấp xã. Đồng thời, nhiều công việc
được giải quyết ở địa bàn xã mang tính chất tự quản. Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan
chính quyền xã khi giải quyết các công việc phải luôn chủ động, sáng tạo và trách
nhiệm rất cao.
20
Các xã, phường, thị trấn của tỉnh Cà Mau hợp thành nền tảng hệ thống
hành chính của tỉnh; là cầu nối trực tiếp giữa cấp uỷ, chính quyền cấp trên với
nhân dân địa phương; là nơi nắm bắt và giải quyết mọi tâm tư, nguyện vọng chính
đáng của quần chúng nhân dân theo thẩm quyền và phản ánh, đề đạt lên cấp trên, giúp
cấp trên đề ra những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn; là nơi trực
tiếp cụ thể hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và nghị quyết,
chỉ thị của cấp trên, khai thác mọi tiềm năng của địa phương vào thực hiện nhiệm vụ
xây dựng và bảo vệ địa phương, đất nước; là nơi nhân dân địa phương thực hiện các
nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội để tạo ra của cải vật chất, nâng cao đời
sống, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,
công bằng, văn minh”.
nhau.
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
[90, tr.7]. “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ
giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành” [68, tr.269].
Như vậy quan niệm cán bộ cần được hiểu là: những người có chức vụ
lãnh đạo, quản lý, chỉ huy được bầu, được bổ nhiệm hoặc có chuyên môn
nghiệp vụ, hoạt động trong các ngành, các lĩnh vực khác nhau, giữ trọng trách
trong một tổ chức, cơ quan, đơn vị; có tác động, ảnh hưởng quan trọng đến sự
phát triển của tổ chức, cơ quan, đơn vị đó.
Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ
chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân,
bí thư, phó bí thư đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội [90, tr.910].
Theo quy định tại Điều 4, khoản 3 của Luật cán bộ, công chức năm 2008,
cán bộ xã, phường, thị trấn có các chức danh sau đây [90, tr.28-29]:
22
1. Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
2. Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
3. Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
4. Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
5. Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
6. Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
7. Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam;
8. Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam.
Đội ngũ cán bộ là tập hợp những người cán bộ thành một lực lượng có số
cấp cơ sở.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, trước yêu cầu phát triển của tỉnh,
vai trò của đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn của tỉnh Cà Mau trở nên rất quan
trọng, biểu hiện như sau:
Một là, đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn giữ vai trò quyết định trong
việc triển khai tổ chức thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước ở cơ sở. Là những người giữ vai trò “trung tâm”, “trụ cột”
tại cơ sở, họ không những có trách nhiệm nắm vững đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đem chủ trương, chính sách
tuyên truyền, phổ biến, tổ chức cho quần chúng thực hiện mà còn phải có khả
năng nắm bắt, am hiểu đặc điểm tình hình của cơ sở để đề ra những nhiệm vụ,
giải pháp cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách đó cho phù hợp với điều
kiện, đặc điểm từng cơ sở đi vào cuộc sống và tổ chức thực hiện đạt hiệu quả
cao.
Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được nhân dân nắm
bắt, nhận thức mới chỉ là khởi đầu, để kiểm nghiệm được tính đúng đắn của chủ
trương, đường lối đó thì điều kiện đủ là phải tổ chức thực hiện trong thực tiễn.
Muốn làm được điều đó không có ai khác là cán bộ xã, bởi cán bộ xã là người
tiếp xúc nhiều nhất, hiễu rõ nhất, giải quyết nhiều việc nhất của nhân dân.
Như vậy, đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn có vai trò đảm bảo cho các
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thực hiện một cách nghiêm túc,
thông qua việc xử lý, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật kịp
thời, hiệu quả … góp phần ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã
hội tại từng địa bàn ấp, khóm, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đề ra.
24
Hai là, đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn là những người trực tiếp, gắn
bó với nhân dân, triển khai, hướng dẫn và vận động nhân dân thực hiện đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước. Đường lối, chủ
Bốn là, đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn có vai trò quan trọng trong
việc xây dựng, củng cố tổ chức, bộ máy của HTCT ở cơ sở địa phương. Thực
tiễn chứng minh, có lúc, có nơi HTCT ở cơ sở mạnh hay yếu và phong trào cách
mạng của quần chúng có phát triển hay không đều gắn với vai trò của đội ngũ
cán bộ ở cơ sở. Về tổ chức bộ máy, họ là trụ cột, là trung tâm đoàn kết nội bộ,
là lực lượng huy tụ lực lượng tổ chức, sắp xếp, kiện toàn các tổ chức trong
HTCT ở cơ sở.
Mặc khác, cán bộ cơ sở ở Cà Mau có vai trò quyết định đến năng lực và
sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; năng lực quản lý, điều hành của bộ máy
chính quyền và mọi hoạt động của đoàn thể quần chúng của cơ sở. Xây dựng đội
ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn ở Cà Mau là nhằm xây dựng, củng cố, tăng cường
vai trò lãnh đạo của Đảng; điều hành, hoạt động của Nhà nước, đoàn thể quần
chúng ở cơ sở và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế, xã hội.
Năm là, đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn là người nắm bắt kịp thời,
phản ảnh đầy đủ các tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để Đảng, Nhà nước có
cơ sở khoa học sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các chủ trương, chính sách có
tính khả thi, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước khi ban hành muốn đảm bảo tính khả
thi phải xuất phát từ thực tiễn cuộc sống. Muốn vậy, đòi hỏi đội ngũ cán bộ xã,
phường, thị trấn phải nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, để mọi
chủ trương, chính sách khi ban hành đều vì lợi ích của nhân dân, dựa trên ý kiến
của nhân dân, qua đó sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động của mỗi con
người, làm cho mọi tiềm năng sáng tạo được phát triển, mọi người dân đều
được tham gia vào các quá trình chính trị, xã hội, các vấn đề nãy sinh được phát
hiện kịp thời, các khó khăn sớm được tháo gỡ, tạo sự phát triển mạnh mẽ của
đất nước. Thực tiễn cách mạng của đất nước đã khẳng định, chính từ vai trò của
cán bộ xã, phường, thị trấn trong việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân,
nên Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đúng, được
nhân dân đồng tình ủng hộ.