Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính tại thành phố Huế trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
A. MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 6
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài 6
7. Kết cấu của luận văn 7
B. PHẦN NỘI DUNG 8
Chương 1: CƠ SỎ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 8
1.1. KHÁI QUÁT VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH 8
1.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức 8
1.1.2. Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức hành chính nhà nƣớc 18
1.1.3. Đặc điểm cán bộ, công chức 20
1.1.4. Phân loại công chức 23
1.2. CHẤT LƢỢNG, CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 24
1.2.1. Chất lƣợng cán bộ, công chức 24
1.2.2. Tiêu chí đánh giá chất lƣợng cán bộ, công chức hành chính 27
1.2.3. Các nhân tố cơ bản ảnh hƣởng đến chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công
chức hành chính Nhà nƣớc 33
1.2.4. Nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính
nhà nƣớc 37
Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TẠI THÀNH PHỐ HUẾ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 49

ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH 89
3.3.1. Tăng cƣờng công tác giáo dục chính trị, đạo đức, lý tƣởng cách mạng
cho mỗi cán bộ, công chức, để họ có sự nhận thức đúng đắn về vị trí,
vai trò và trách nhiệm của mình đối với nhân dân, đất nƣớc 89
3.3.2. Đổi mới nâng cao chất lƣợng thi tuyển đối với công chức, và thi
nâng ngạch đối với công chức, đảm bảo nguyên tắc công khai,
minh bạch và khách quan 92
3.3.3. Tạo dựng môi trƣờng và động lực làm việc lành mạnh, hiệu quả 92
3.3.4. Tăng cƣờng công tác kiểm tra, giám sát 93
3.3.5. Có cơ chế ràng buộc ngƣời cán bộ, công chức gần dân, hiểu dân để
phục vụ nhân dân 94
3.3.6. Nâng cao đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức 96
3.4. NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TẠI THÀNH PHỐ HUẾ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 99
3.4.1. Xác định tiêu chuẩn chức danh và xây dựng bản tiêu chuẩn chức
danh cán bộ, công chức hành chính nhà nƣớc 99
3.4.2. Hoàn thiện công tác tuyển dụng công chức hành chính nhà nƣớc 100
3.4.3. Hoàn thiện công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ, công chức hành
chính nhà nƣớc 101
3.4.4. Không ngừng nâng cao chất lƣợng công tác đào tạo, bồi dƣỡng đội
ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nƣớc 101
3.4.5. Giải pháp về công tác sử dụng công chức hành chính nhà nƣớc 102
3.4.6. Nâng cao tinh thần và đạo đức, đẩy mạnh đấu tranh chống tham
nhũng, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, công chức hành chính tại
thành phố Huế 103
3.4.7. Về chính sách tiền lƣơng, chính sách thu hút nhân tài 106
3.4.8. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cần hoàn thiện các văn bản
liên quan đến cán bộ, công chức hành chính 107
C. PHẦN KẾT LUẬN 108

nƣớc trở thành một nguồn lực lớn phục vụ cho quá trình tổ chức và hoạt động
của Nhà nƣớc.
Thời gian qua, phải khẳng định rằng, đội ngũ cán bộ, công chức trong
các cơ quan hành chính nhà nƣớc đã và đang góp phần đáng kể vào tiến trình
cải cách hành chính theo mục tiêu xây dựng nền hành chính hiện đại, có tính
chuyên nghiệp cao mà Đảng và nhân dân ta đã đặt ra trong thời kỳ mới. Song,
cũng cần nhận thấy một thực tế: còn không ít cán bộ, công chức trong các cơ
quan hành chính nhà nƣớc hiện nay làm việc thiếu tích cực. Điều đó thể hiện
ở chỗ: nhiều cán bộ, công chức bảo thủ trong cách nghĩ, cách làm, thiếu sự
năng động, sáng tạo và đổi mới; cách làm việc quan liêu, hành chính hoá,
không thạo việc, tác phong chậm chạp, rƣờm rà, thái độ thờ ơ, thiếu trách
nhiệm dẫn đến sự trì trệ về phƣơng thức hoạt động trong các cơ quan hành
chính khi ngƣời dân kêu ca về tinh thần, thái độ, ý thức trách nhiệm của

2
không ít cán bộ, công chức trong giải quyết công việc, lợi ích của ngƣời dân
bị tổn hại. Nếu tình trạng này cứ tiếp tục thì chính quyền sẽ không đƣợc lòng
dân và cán bộ, công chức sẽ ngày càng xa dân. Và điều này đã đi ngƣợc lại
với phƣơng châm xây dựng một nền hành chính phát triển, hiện đại của một
Nhà nƣớc pháp quyền XHCN "của dân, do dân, vì dân".
Những hạn chế, bất cập đang và sẽ là những vấn đề không nhỏ buộc cả
hệ thống chính trị phải phân tích thấu đáo để có những giải pháp khắc phục
kịp thời và có hiệu quả nếu không muốn bị tụt hậu, kém phát triển.
Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính tại thành phố Huế
không nằm ngoài thực trạng chung của đội ngũ cán bộ, công chức trong cả
nƣớc, đội ngũ cán bộ, công chức thành phố Huế luôn đƣợc kiện toàn, chất
lƣợng đội ngũ đƣợc nâng lên rõ rệt phần nào đã đáp ứng đƣợc những đòi hỏi
rất khắc khe của thời kỳ mở cửa, hội nhập. Những thành công bƣớc đầu đó rất
quan trọng và là hƣớng chủ đạo trong tiến trình cải cách hành chính. Tuy
nhiên vẫn còn nhiều hạn chế bất cập nhƣ: tình trạng hẫng hụt về cơ cấu, chƣa

nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân" của TS. Thang
Văn Phúc và TS. Nguyễn Minh Phƣơng, 2004. Trên cơ sở nghiên cứu các
quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và của
Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, vị trí ngƣời cán bộ cách mạng, cũng
nhƣ yêu cầu đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; tìm hiểu những
bài học kinh nghiệm về việc tuyển chọn và sử dụng nhân tài trong suốt quá
trình lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc ta, cũng nhƣ kinh nghiệm
xây dựng nền công vụ chính quy hiện đại của các nƣớc trong khu vực và
trên thế giới. Từ đó xác định hệ thống các yêu cầu, tiêu chuẩn của cán bộ,
công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân.

4
- Công chức nhà nƣớc của PGS.TS. Phạm Hồng Thái, Nxb. Tƣ pháp,
2004. Cuốn sách tập trung giải quyết một số vấn đề lý luận về công vụ, công
chức, phân tích quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về
công vụ, công chức, chỉ ra xu hƣớng điều chỉnh của pháp luật về công vụ,
công chức ở Việt Nam qua các giải đoạn lịch sử từ năm 1945 tới nay và
hƣớng phát triển của pháp luật về công vụ, công chức.
- "Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ thống chính trị
cấp tỉnh, thành phố (Qua kinh nghiệm của Hà Nội)" của Thạc sĩ Cao Khoa
Bảng, Nxb Chính trị quốc gia, 2008; chuyên nghiên cứu về đối tƣợng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Hà Nội, từ đó đề ra luận cứ khoa học và kinh
nghiệm thực tiễn góp phần nâng cao chất lƣợng công tác xây dựng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trị thuộc diện Ban Thƣờng vụ Thành ủy
Hà Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay.
- Thạc sĩ Nguyễn Duy Phƣơng (2007), Thực trạng và giải pháp nâng cao
năng lực đội ngũ công chức hành chính ở Thừa Thiên Huế từ năm 2004- 2006.
Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa học hoặc nhiều
công trình, luận văn, luận án khác có đề cập ít nhiều tới vấn đề này.

- Đối tƣợng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn liên quan đến đội ngũ cán bộ, công chức hành chính tại thành
phố Huế.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu cán bộ, công chức công
tác tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Huế, tập
trung vào các nội dung: tuyển dụng, quản lý và sử dụng cán bộ, công chức
hành chính.
Thời gian nghiên cứu đƣợc tiến hành từ năm 2008 đến năm 2012.

6
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nhà nƣớc và pháp luật.
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu: Phƣơng pháp phân tích
– tổng hợp, phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp lịch sử - cụ thể và kết hợp với
việc điều tra khảo sát chấ t lƣợ ng độ i ngũ cá n bộ , công chƣ́ c hành chính.
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài
- Tính mới của đề tài: Liên quan đến lĩnh vực cán bộ, công chức có rất
nhiều tác nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau nhƣng chƣa có đề tài nào đi
sâu nghiên cứu thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính thành phố
Huế trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy đây là đề tài hoàn toàn mới tại thành
phố Huế và chƣa có ai đặt vấn đề nghiên cứu.
- Đóng góp của đề tài về mặt khoa học pháp lý góp phần vào hệ
thống hoá lý luận về đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nƣớc và
nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nƣớc; hệ
thống hoá và xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lƣợng cán bộ, công chức
hành chính nhà nƣớc; làm rõ những đặc điểm của đội ngũ cán bộ, công
chức hành chính nhà nƣớc và điều kiện khách quan của việc xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nƣớc trên địa bàn thành phố thành
phố Huế trong giai đoạn hiện nay.

1.1. KHÁI QUÁT VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH
1.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức
1.1.1.1. Khái niệm chung về cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ
công vụ. Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, ngƣời
ta đã đƣa ra các quan niệm khác nhau về các thuật ngữ "cán bộ", "công chức",
"viên chức"
Khái niệm “cán bộ” (cadres) đƣợc sử dụng khá lâu tại các nƣớc xã hội
chủ nghĩa và bao hàm một diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực Nhà
nƣớc và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Thuật ngữ khi đó
thƣờng dùng là “cán bộ, công nhân viên chức”, bao gồm tất cả những ngƣời
làm công hƣởng lƣơng từ Nhà nƣớc, từ những ngƣời đứng đầu một cơ quan
tới các nhân viên phục vụ nhƣ lái xe, bảo vệ hay lao động tạp vụ. Sự đánh
đồng nhƣ vậy dẫn tới việc không phân định rõ ràng về chức năng và nhiệm
vụ, không phân biệt rõ những ngƣời thực thi chức năng quản lý nhà nƣớc và
những ngƣời cung ứng dịch vụ công trong bộ máy nhà nƣớc, thậm chí gây
nhầm lẫn trong hoạt động cũng nhƣ hành xử công vụ. Thực tiễn cho thấy,
ngay cả nhiều quy định về kỷ luật cán bộ cũng khó thực thi bởi chính sự mơ
hồ và dễ gây lẫn lộn trong khái niệm này.
Các hoạt động thuộc chức năng công vụ do các công chức của bộ máy
hành chính nhà nƣớc thực hiện, đó cũng chính là lý do chủ yếu khi nói đến
công vụ, các học giả và các nhà hoạt động thực tiễn luôn đề cập đội ngũ công

9
chức. Mặc dù hiện nay quan niệm và phạm vi công chức ở mỗi quốc gia có
khác nhau. Có nơi hiểu công chức theo nghĩa rất rộng nhƣ ở Pháp là bao gồm
tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính nhà nƣớc, tất cả những ngƣời
tham gia dịch vụ công. Hay hẹp hơn nhƣ tại Anh, nơi công chức là những
ngƣời thay mặt nhà nƣớc giải quyết công việc công, nhất là ở tại Trung ƣơng,
nên phạm vi công chức thu hẹp hơn rất nhiều.

thống nhất cho công tác cán bộ của Đảng và Nhà nƣớc trong việc sử dụng và
quản lý đội ngũ cán bộ, công chức.
- Từ ngày 30/4/1975 đến nay
Sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975, thống nhất đất nƣớc, chúng
ta thực hiện chế độ cán bộ trên phạm vi cả nƣớc, lấy ngƣời cán bộ làm trung
tâm. Theo đó, tất cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà
nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nƣớc, nông trƣờng, lâm
trƣờng và lực lƣợng vũ trang đều đƣợc gọi chung trong một cụm từ "cán bộ,
công nhân viên nhà nƣớc"
Chuyển sang thời kỳ đổi mới (năm 1986), trƣớc yêu cầu khách quan
cần cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công
chức nhà nƣớc, khái niệm công chức đƣợc sử dụng trở lại trong Nghị định
169/HĐBT ngày 25/5/1991. Nghị định chỉ rõ: “Công dân Việt Nam đƣợc
tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong một công sở
của nhà nƣớc ở Trung ƣơng hay địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc đã
đƣợc xếp vào một ngạch, hƣởng lƣơng do ngân sách nhà nƣớc cấp gọi là công
chức nhà nƣớc”. Khái niệm công chức này cũng giống nhƣ khái niệm công
chức theo sắc lệnh 76/SL.
Đến năm 1998, khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức đƣợc ban hành,
những ngƣời làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà

11
nƣớc, đoàn thể đƣợc gọi chung trong một cụm từ là "cán bộ, công chức". Để
cụ thể hoá Pháp lệnh, Chính phủ ban hành Nghị định số 95/1998/NĐ-CP,
ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Theo Nghị
định này, công chức là “công dân Việt Nam, trong biên chế và hƣởng lƣơng
từ ngân sách nhà nƣớc, bao gồm những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm
hoặc giao giữ một công việc thƣờng xuyên, đƣợc phân loại theo trình độ đào
tạo, ngành chuyên môn, đƣợc xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp;
những ngƣời làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và

giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ƣơng (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hƣởng
lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
2. Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự
nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối
với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật.
3. Cán bộ xã, phƣờng, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân

13
Việt Nam, đƣợc bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thƣờng trực Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng ủy, ngƣời đứng
đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam đƣợc
tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân
cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc"
Nhƣ vậy, mỗi quốc gia có những quan niệm và định nghĩa khác nhau
về công chức. Song, có thể khái quát, công chức là thuật ngữ đƣợc sử dụng để
chỉ những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công cụ thƣờng xuyên,
làm việc trong một cơ quan nhà nƣớc (hoặc cơ quan, đơn vị thuộc quân đội
nhân dân hay công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên

chịu trách nhiệm chính trị trƣớc Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân. Việc quản lý
cán bộ phải thực hiện theo các văn bản pháp luật tƣơng ứng chuyên ngành
điều chỉnh hoặc theo Điều lệ. Do đó, căn cứ vào các tiêu chí do Luật Cán bộ,
công chức năm 2008 quy định, những ai là cán bộ trong cơ quan của Đảng
Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội sẽ đƣợc các cơ quan có thẩm
quyền của Đảng căn cứ Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính
trị - xã hội quy định cụ thể. Những ai là cán bộ trong cơ quan Nhà nƣớc sẽ
đƣợc xác định theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính
phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân,
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật Kiểm toán nhà
nƣớc và các quy định khác của pháp luật có liên quan và do Ủy ban Thƣờng
vụ Quốc hội quy định cụ thể.
Nhƣ vậy, cán bộ hành chính sẽ đƣợc xác định theo quy định của Luật Tổ
chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và Nghị định số 107/2004/NĐ-
CP ngày 01 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ quy định số lƣợng Phó Chủ tịch
và cơ cấu thành viên Ủy ban nhân dân các cấp đã đƣợc sửa đổi, bổ sung theo

15
Nghị định số 27/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2009 và Nghị định số
36/2011/NĐ-CP ngày 23 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ.
Cán bộ hành chính sẽ bao gồm:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
- Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
- Các thành viên Ủy ban nhân dân.
Ngoài những tiêu chuẩn quy định chung đối với cán bộ, thành viên Uỷ
ban nhân dân phải là những ngƣời có năng lực quản lý nhà nƣớc, quản lý kinh
tế, xã hội ở địa phƣơng; chấp hành có hiệu quả nghị quyết của Hội đồng nhân
dân cùng cấp và pháp luật, chính sách của Nhà nƣớc; trong công tác, biết phát
huy tính chủ động, sáng tạo của địa phƣơng và nghiêm chỉnh chấp hành sự
quản lý tập trung thống nhất của Trung ƣơng.

lý của các đơn vị sự nghiệp công lập là phù hợp với Hiến pháp của Việt Nam,
thể hiện đƣợc trách nhiệm của Nhà nƣớc trong việc tổ chức cung cấp các dịch
vụ công thiết yếu và cơ bản cho ngƣời dân, bảo đảm sự phát triển cân đối giữa
các vùng, lãnh thổ có mức sống chênh lệch, thực hiện mục tiêu dân chủ và
công bằng xã hội. Hiện nay, khi vai trò của Nhà nƣớc đang đƣợc nhấn mạnh
trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, nhằm khắc phục ảnh hƣởng của suy thoái
kinh tế tác động đến sự ổn định đời sống xã hội thì việc quy định công chức
có trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập lại càng có ý
nghĩa và thể hiện tƣ duy pháp lý tiến bộ của Luật Cán bộ, công chức 2008.
Tuy nhiên, phạm vị công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự
nghiệp công lập rộng hay hẹp còn tùy thuộc vào quy mô, phạm vi hoạt động
của từng đơn vị sự nghiệp; vào cấp có thẩm quyền thành lập và quản lý.
Công chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị -
xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập, lực lƣợng vũ

17
trang đã đƣợc quy định cụ thể tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày
25/01/2020 của Chính phủ về việc quy định những ngƣời là công chức.
Theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP, công chức là công dân Việt Nam,
đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế,
hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc hoặc đƣợc đảm bảo từ quỹ lƣơng của đơn
vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ
quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội và bộ
máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập.
Việc phân định cán bộ và công chức của Luật Cán bộ, công chức là căn
cứ để quy định cơ chế quản lý phù hợp với cán bộ ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp
huyện; công chức ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ cấp xã, công
chức cấp xã. Với những quy định mới này, pháp luật về cán bộ, công chức đã
tiếp tục quy định những vấn đề thể hiện tính đặc thù trong hoạt động công vụ
của công chức liên quan đến các nội dung nhƣ: quyền và nghĩa vụ, bầu cử,

hành chính đƣợc điều chỉnh bởi Nghị định số 24/2010/NĐ-CP quy định về
tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức và các văn bản có liên quan.
1.1.2. Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức hành chính nhà nƣớc
Trong hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng đến việc
xây dựng đội ngũ cán bộ để có đủ sức mạnh hoàn thành sự nghiệp vẻ vang
của Đảng. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ có ý nghĩa to
lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Về vị trí của cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là giây chuyền của
bộ máy Đảng, Nhà nƣớc, đoàn thể nhân dân, “là những ngƣời đem chính sách
của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng
thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ,
để đặt chính sách cho đúng”. Nhƣ vậy, cán bộ có vị trí chủ thể của sự nghiệp

19
cách mạng nƣớc ta do Đảng lãnh đạo. Vị trí lãnh đạo, vị trí chủ thể của cán bộ
là do Đảng, Nhà nƣớc, đoàn thể phân công, và quyền lực của cán bộ cũng nhƣ
nhiệm vụ của ngƣời cán bộ là do nhân dân giao cho.
Về vai trò của cán bộ, Hồ Chí Minh khẳng định rằng: cán bộ là cái gốc
của mọi công việc; muốn việc thành công hay thất bại đều là do cán bộ tốt
hay kém. Với ý nghĩa nhƣ vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, cán bộ là lực lƣợng
tinh tuý nhất của xã hội, có vị trí vừa tiên phong vừa là trung tâm của xã hội
và có vai trò cực kỳ quan trọng của hệ thống chính trị nƣớc ta.
Luận điểm khái quát nhất của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ
là: cán bộ vừa là ngƣời lãnh đạo, vừa là ngƣời đày tớ thật trung thành, là trâu
ngựa của nhân dân.
Trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nƣớc, đội ngũ cán bộ,
công chức hành chính nhà nƣớc đóng vai trò chủ đạo, là lực lƣợng nòng
cốt, lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ quan trọng trong mỗi giai đoạn lịch sử
của đất nƣớc.
- Cán bộ, công chức hành chính nhà nƣớc là lực lƣợng nòng cốt trong

của hệ thống thông tin mới, gồm cả thông tin quản lý đã và đang đƣợc mở
rộng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nƣớc phải có khả
năng, trình độ để xử lý thông tin.
- Hệ thống quản lý (gồm cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý, bộ máy quản
lý) phải đổi mới để phù hợp với cơ chế thị trƣờng cũng đòi hỏi đội ngũ cán
bộ, công chức hành chính nhà nƣớc phải đổi mới về kiến thức, nghiệp vụ, kĩ
năng quản lý và nâng cao trách nhiệm của mình.
1.1.3. Đặc điểm cán bộ, công chức
Qua nghiên cứu cho thấy công chức có các đặc điểm căn bản nhƣ:
- Tính nghề nghiệp (career). Tính nghề nghiệp thể hiện ở việc công

Trích đoạn Tiêu chí đánh giá chất lƣợng cán bộ, công chức hành chính Nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status