LUẬN VĂN: Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của Đảng bộ tỉnh Cà Mau từ 1997 - 2007 potx - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã của Đảng bộ tỉnh Cà Mau
từ 1997 - 2007 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn
việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Trong cách mạng giải phóng dân
tộc, do làm tốt công tác cán bộ, Đảng ta đã có được đội ngũ cán bộ có đạo đức cách mạng và
bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực tổ chức thực tiễn ngang tầm nhiệm vụ. Đội ngũ cán

ngũ chủ chốt của các xã trong tỉnh đã có bước trưởng thành đáng kể, là nhân tố quan trọng
góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng và an ninh ở địa
phương trong những năm qua. Song, so với yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay và thời gian tới, đội
ngũ cán bộ này còn bất cập về nhiều mặt: trình độ, năng lực tổ chức thực tiễn, phẩm chất đạo
đức Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xã trên địa bàn tỉnh Cà Mau hiện nay là vấn đề vừa cần thiết, cấp bách, vừa có ý
nghĩa cơ bản lâu dài.
Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước; thực hiện đồng bộ cải cách
hành chính nhà nước; xây dựng nhà nước pháp quyền xó hội chủ nghĩa, nhà nước của dân,
do dõn, vỡ dõn, thỡ đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó ở tỉnh Cà Mau cũn nhiều hạn chế, bất cập
như: trỡnh độ trí tuệ, phẩm chất, đạo đức, năng lực trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ
được giao. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh đề ra, Đảng bộ tỉnh Cà
Mau phải xây dựng hệ thống chính trị các cấp, trong đó coự hệ thống chính trị ở cơ sở vững
mạnh. Muốn đạt được mục tiêu đó, Đảng bộ tỉnh Cà Mau phải chú trọng giải quyết đồng bộ
nhiều vấn đề, trong đó phải xây dựng được đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó cú bản lĩnh và
trỡnh độ trí tuệ, có phẩm chất đạo đức, có năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn.
Từ thực tế đó, tôi chọn đề tài: "Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xã của Đảng bộ tỉnh Cà Mau từ 1997 - 2007" làm luận văn thạc sỹ. Đây cũng là vấn
đề cấp bách, là phù hợp với yêu cầu cải cách nền hành chính nước ta hiện nay, phù
hợp với thực tiễn của địa phương.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu đề tài
Vấn đề cán bộ và công tác cán bộ, trong đó công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sụỷ
laứ noọi dung được các nhaứ laừnh ủaùo, caực cấp ủy đảng và được nhiều nhà khoa học

nghiên cứu ở những góc độ, phạm vi khỏc nhau. Trong những cụng trỡnh, ủề taứi nghiẽn
cửựu đó, đó cú những đóng góp nhất định trong vieọc vạch ra chủ trương và tỡm ra những
giải phỏp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị ở cơ sở. Có thể
tập hợp theo từng nhóm đề tài sau:
- Nhoựm ủề taứi về nhửừng yẽu cầu ủoỏi vụựi caựn boọ cụ sụỷ: Hóc vieọn
Nguyn Aựi Quoỏc: “Mẫu hỡnh vaứ con ủửụứng hỡnh thaứnh ngửụứi caựn boọ laừnh

ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó của tỉnh, nhằm góp phần nâng cao kiến thức đó học và góp phần
xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó ở tỉnh Cà Mau ngang tầm nhiệm vụ mới.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở đánh giá một cách khách quan thực trạng của công tác xây dựng đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp xó ở tỉnh Cà Mau từ khi tỏi lập cho đến năm 2007, luận văn làm rừ vai
trũ quan trọng của cụng tỏc xõy dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó ở một địa phương cực
nam của tổ quốc có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị của đất nước “ mónh đất đứng mũi
chịu sào”. Từ đó góp phần tổng kết thực tiễn về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ ở địa
phương, đúc rút những kinh nghiệm chủ yếu làm cơ sở lịch sử cho công tác xây dựng đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó trong thời gian tới đáp ứng với yêu cầu mới của đất nước.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rừ vai trũ, đặc điểm của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó của Đảng bộ tỉnh Cà
Mau trong giai đoạn 1997 – 2007. Hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và của
Đảng bộ tỉnh Cà Mau về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó.
- Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó và cụng tỏc xõy dựng đội ngũ cán
bộ này của Đảng bộ tỉnh Cà Mau, nờu rừ ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của thực trạng và
những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn.
- Đúc rút một số kinh nghiệm chủ yếu về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó ở
tỉnh Cà Mau gúp phần làm rừ cơ sở lý luận, thực tiễn về xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời
kỳ mới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là cơng tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xó. Bao gồm một số chức danh chủ yếu như: Bí thư Đảng ủy, phó bí thư trực Đảng ủy, Chủ
tịch Uỷ Ban Nhân Dân, phó chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân, chủ tịch Mặt Trận tổ quốc, Bí thư
đồn thanh niên, Hội trưởng hội phụ nữ, Chủ tịch hội cựu chiến binh…
- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn: Luận văn nghiên cứu thực trạng đội ngũ cán bộ và
cơng tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó từ năm 1997 - 2007. Đồng thời, nêu ra
kinh nghiệm, bài học, để định hướng xây dựng đội ngũ cán bộ này trong thời kỳ mới.


Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH CÀ MAU TIẾN HÀNH XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU TÁI LẬP (1997 - 2001)

1.1. TèNH HèNH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ
CHỐT CẤP XÃ Ở TỈNH CÀ MAU TRƯỚC NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA KHI TÁI
LẬP
1.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên và những đặc điểm về kinh tế, văn hoá, xó
hội
Cà Mau là tỉnh cực Nam của nước Việt Nam, được tách ra từ tỉnh Minh Hải từ ngày 01
tháng 01 năm 1997. Hỡnh dạng tỉnh Cà Mau giống chữ V, cú 3 mặt tiếp giáp với biển. Phía
Bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Đông và Đông Nam giáp
với biển đông, phía Tây giáp với Vịnh Thái Lan. Tỉnh Cà Mau nằm trong vùng kinh tế động
lực của đồng bằng sông Cửu Long. Trong mối quan hệ của vùng đồng bằng sông Cửu Long,
Tỉnh Cà Mau là điểm đến của một số tuyến quốc lộ và đường thủy quan trọng. Trong mối
quan hệ của khu vực, Cà Mau nằm trong hành lang phát triển phía nam của tiểu vùng Mê
kông mở rộng.
Diện tích phần đất liền 5.329,5 km
2
(bằng 13,13% diện tích đồng bằng sông Cửu
Long) bằng 1,58 % diện tích cả nước). Ngoài phần đất liền, Cà Mau có các đảo Hũn Khoai,

Hũn Chuối và Hũn Đá Bạc, diện tích các đảo xấp xỉ 5 Km
2
. Địa hỡnh toàn tỉnh thuần nhất là
đồng bằng, có nhiều sông, rạch, độ cao bỡnh quõn 0,5 m so với mặt nước biển. Hàng năm ở
vùng Mũi Cà Mau bồi ra biển 50 m; bờ biển phía đông từ của sông Gành Hào đến vùng của
sông Rạch Gốc bị xói lở, có nơi mỗi năm 20m.
Chiều dài bờ biển Cà Mau 254 km. Vùng biển Cà Mau rộng trên 71.000 km

diện tích đất tự nhiên, đất nhiễm mặn khoảng 37%, đất bói bồi khoảng 1,5%, đất than
bùn 1,5%. Do đặc trưng thổ nhưỡng và chế độ thủy văn như trên nên việc sử dụng đất ở Cà
Mau đó hỡnh thành cỏc vựng. Vựng trồng cõy lương thực, thực phẩm, vùng trồng cây lâu
năm, vùng trồng tràm và trồng cây công nghiệp, vùng nuôi trồng thủy sản. Trong đó, diện

tích đất và mặt nước nuôi trồng thủy sản 229.190 ha, đất nông nghiệp 142.428 ha, đất lâm
nghiệp 106.085 ha. Nguồn nước ngọt cung cấp cho nông nghiệp chủ yếu là nước mưa. Nước
ngọt cung cấp cho sinh hoạt và công nghiệp là nước ngầm. Nước mặn ở Cà Mau là tài nguyờn
quý giỏ, rất thớch hợp cho việc phỏt triển lõm, ngư nghiệp, nuôi tôm cá.
Cà Mau có 9 đơn vị hành chính cấp huyện và 97 đơn vị xó, phường, thị trấn. Dân số
1.234.896 người bao gồm ba dân tộc, kinh 96%, Hoa 1,5% , Khmer 2,5% . Tỷ lệ tăng dân số
trung bỡnh hàng năm 1,55%. Mật độ 232 người/ 1 km
2
. Dân số nông thôn 975.641 chiếm
79%. Toàn tỉnh có 211.820 hộ dân (thời điểm năm 2007).
Mặt bằng văn hóa của nhân dân cũn thấp, nguồn nhõn lực cũn nhiều hạn chế, cán bộ
khoa học kỹ thuật của tỉnh theo thống kê cuối năm 2007 cho thấy, trỡnh độ cao đẳng trở lên
có khoảng 4.921 người/1.234.896 triệu dân, trong đó số có 02 tiến sĩ, 95 thạc sỹ. Lao động ở
Cà Mau dồi dào nhưng đa số có học vấn thấp, trỡnh độ, kỹ năng lao động hầu như không
cao, chủ yếu lao động giản đơn. Khu vực đô thị dân cư khá tập trung, số cũn lại rất phõn tỏn
và rải rỏc, nơi tập trung chủ yếu các vùng trung tâm xó, đầu mối giao thông và dọc theo các
trục kênh chính, các dũng sụng, con rạch.
Cà Mau là tỉnh có nhiều tôn giáo và giáo phái. Hai tôn giáo ra đời sớm nhất, có tín đồ
đông nhất là Đạo phật và Thiên chúa. Các Tôn giáo khác ra đời chậm hơn như Cao đài, Tin
lành. Các giáo phái gồm có Cao Đài Minh Chơn đạo, Tiên thiên, Tây Ninh, thiên lâm, tịnh
độ cư sĩ, khất sĩ, ni giới Việt Nam.
Về mặt lịch sử, Cà Mau là vùng đất trẻ được hỡnh thành trờn 300 năm. Dân cư Cà
Mau không hỡnh thành từ cỏc lũy tre làng như các tỉnh phía Bắc, mà dân cư Cà Mau là dân
khắp nơi trong cả nước về cùng chung sống. Đặc điểm nổi bậc của cư dân nông thôn Cà Mau
là họ định cư rải rác trên các bờ sông, kênh rạch, nhà gắn với vườn, vườn gắn với ruộng.

năng lực, quy mô chế biến xuất khẩu hàng hóa thủy sản tăng vọt, Cà Mau góp phần ¼
giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản của cả nước; tăng trưởng GDP của tỉnh đạt
khá, tăng dần qua hàng năm (bỡnh quõn từ năm 1997 - 2007 đạt trên 10%); thu nhập
bỡnh quân đầu người từ khoảng 150 USD/năm 1997 lên trên 785 USD/năm 2005. Kết
cấu hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống phát triển khá nhanh, nhất là hệ thống
giao thông bộ. Đến nay, đó cú đường ô tô đến 7 huyện (năm 1997 là không có), 43 xó

(năm 1997 có 3 xó). Thu hút đầu tư ngoài tỉnh có nhiều triển vọng, khu công nghiệp khí
- điện - đạm đó tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy quá trỡnh phỏt triển của Cà Mau trong
thời gian tới.
Những năm đầu taựi laọp tỉnh, tỡnh hỡnh kinh tế, xó hội ở tỉnh Cà Mau cú bước phát
triển khá, kinh tế tăng khá cao (12,35 %/năm), tỡnh hỡnh chớnh trị - xó hội ổn định, đời sống
nhân dân được nâng lên; việc xây dựng, chỉnh trang đô thị được quan tâm đầu tư, v.v…Tuy
nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, tỉnh Cà Mau vẫn cũn một số lĩnh vực phỏt triển
chậm, thiếu bền vững, chậm triển khai quy hoạch tổng thể cỏc đơn vị hành chính một cách
lâu dài. So với khi mới tái lập tỉnh, số lượng cấp huyện, xó cú tăng nhưng không đồng bộ với
sự phát triển đô thị. Tỉnh Cà Mau có 8 phường chủ yếu ở thành phố Cà Mau và 8 thị trấn ở 7
huyện (huyện Ngọc Hiển được thành lập và đi vào hoạt động 01-01-2004 đến nay, nhưng
chưa có thị trấn trung tâm huyện lỵ).
Từ thực trạng nêu trên tỉnh Cà Mau có những đặc điểm sau:
Một là, trong số các đơn vị hành chính cấp cơ sở (xó, phường, thị trấn) ở tỉnh Cà
Mau, thỡ đơn vị xó chiếm tỷ lệ cao nhất trong toàn tỉnh, được bố trí đều khắp các huyện và
thành phố Cà Mau, chiếm 83,5% (81/97 xó, phường, thị trấn). Tỉnh xác định cơ cấu kinh tế
của địa phương là Ngư - nông - lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và du lịch; coi sản xuất
nông nghiệp là ngành kinh tế trọng yếu, sản xuất thủy sản là thế mạnh và mũi nhọn trong
phát triển nền kinh tế của địa phương. Vỡ vậy, lĩnh vực nụng nghiệp - nụng thụn ở Cà Mau
giữ vai trũ trọng yếu trong phỏt triển nền kinh tế - xó hội cuỷa tỉnh.
Đồng thời, để phát triển kinh tế một cách bền vững và có hiệu quả, tỉnh quy hoạch
vùng kinh tế của tỉnh thành vùng kinh tế nội địa, vùng kinh tế ven biển và vùng kinh tế biển.
Nông thôn ở Cà Mau nằm trong vùng kinh tế nội địa của tỉnh, chủ yếu là nuôi trồng thủy sản,

Bốn là, về sản xuất, kinh doanh nội địa, Cà Mau là vùng đất được thiên nhiên ưu đói;
kinh tế phỏt triển khỏ nhanh, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bỡnh quõn 4,48% thời kỳ
1986 - 1990, đến năm 2007 GDP tăng 12,35 % , tăng so thời kỳ 1986 - 1990 là 275,67%. Từ
đó, lượng dân di cư tự do đến đất Cà Mau sinh sống, lập nghiệp ngày càng đông. Đến nay có
thể nói, dân di cư từ 63 tỉnh, thành trong cả nước về đây sinh sống, lập nghiệp trải trên tất cả

các huyện, thành phố Cà Mau, trong đó có huyện có dân di cư từ 37 tỉnh, thành trong cả
nước như các huyện Năm Căn, Ngọc Hiển.
Vấn đề dân di cư tự do đến Cà Mau, một mặt góp phần tích cực vào quá trỡnh phỏt
triển kinh tế, văn hoá, xó hội trờn địa bàn tỉnh. Nhưng mặt khác, có những ảnh hưởng, tiêu
cực đến quá trỡnh phỏt triển nền kinh tế, an ninh trật tự, cỏc hoạt động khác ở vùng nông
thôn trong tỉnh, do nạn phá rừng, hủy hoại môi trường và các tệ nạn xó hội khỏc.
Năm là, về lĩnh vực văn hóa, xó hội: tỉnh Cà Mau cỏch xa cỏc thành phố lớn trong cả
nước; cách thủ đô Hà Nội 2.085 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 350 km và thành phố Cần
Thơ 180 km. Từ đó, sự giao lưu, học hỏi và chịu sự tác động tích cực của các Trung tâm đô
thị lớn gập nhiều khó khăn - nhất là lĩnh vực văn hóa và các vấn đề về xó hội. Nhưng về văn
hóa bản địa, Cà Mau nằm trong quần thể văn hóa của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long,
đó lưu giữ một nền văn hóa phong phú, đặc sắc, với nhiều di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc,
nghệ thuật…như: di tích đảo Hũn Khoai, chứng tớch tội ỏc Mỹ - Ngụy “Biệt khu Hải Yờn -
Bỡnh Hưng”, di tích đỡnh Tõn Hưng, di tích Sắc tứ Quan âm cổ tự Cà Mau…Tuy nhiờn,
việc bảo tồn, gỡn giữ, hưởng thụ và phát triển neàn văn hóa Cà Mau, nhất là ở cơ sở cũn
nhiều bất cập, lỳng tỳng.
Về lĩnh vực xó hội: Bờn cạnh mặt tớch cực là ổn định xó hội, nhưng an ninh trật tự
đang nổi lên một số vấn đề như: Các băng cướp trên sông có tổ chức, trộm cắp, ma tuý,
mại dõm, an ninh trờn biển và trật tự an toàn giao thụng (nhất là giao thụng đường thủy),
diễn ra phức tạp và diện rộng trên phạm vi toàn tỉnh. An ninh nông thôn và các vụ thưa
kiện trong nội bộ nông dân, tranh chấp đất đai ngày càng tăng, làm cho tỡnh hỡnh diễn
biến phức tạp hơn.
Sáu là, các xó ở tỉnh Cà Mau là đơn vị chính trị, kinh tế, văn hóa, thương mại, dịch
vụ ở cơ sở. Là nơi tập trung nhiều thành phần kinh tế, thương gia trong và ngoài tỉnh về đây

cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đảm bảo vệ sinh mơi trường, ổn định an ninh
chính trị, trật tự an tồn xó hội v.v…Để đảm bảo hồn thành nhiệm vụ nêu trên, Cà Mau phải
tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở nói chung và đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xó núi riờng một cỏch chủ động, đồng bộ, đủ số lượng, có chất lượng, có cơ cấu hợp

lý đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài ở cơ sở và bổ sung lực lượng cán bộ có đầy đủ phẩm
chất, đạo đức, năng lực cho các cấp trong tỉnh.
1.1.2. Vị trớ, vai trũ của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó ở Cà Mau
Chủ tịch Hồ Chí Minh, là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, trong suốt quá trỡnh
lónh đạo đấu tranh cách mạng, người luôn coi trọng đến vai trũ to lớn của cỏn bộ, cụng tỏc
cỏn bộ và xõy dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và trỡnh độ. Xây dựng đội
ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên” đủ sức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào xây dựng chủ nghĩa xó hội.
Người luôn xác định: “Cán bộ luôn là cái gốc của mọi công việc” [48, tr.269 ]. Người cũng
lý giải một cỏch cặn kẽ, dễ hiểu vai trũ “cỏi gốc” của cán bộ thông qua những bài nói, bài
viết và việc làm của Người. Vai trũ đó, theo Người được thể hiện trong các mối quan hệ chủ
yếu: cán bộ với đường lối, chính sách; cán bộ với tổ chức bộ máy; cán bộ với công việc và
cán bộ với quần chúng. Như vậy, theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ không
chỉ là người vạch ra đường lối mà cũn cú vai trũ quyết định trong việc tổ chức thực hiện
đường lối đó. Người nói: “Cán bộ là người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi
hành trong nhân dân, neỏu cỏn bộ dở thỡ chớnh sỏch hay cũng khụng thể thực hiện được”,
“cán bộ là dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thỡ động cơ dù
tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt” [48, tr.54]. Điều đó, khẳng định chất lượng cán bộ là
nhân tố quyeỏt định việc thực hiện cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng vào đời sống
xó hội. Chủ tịch Hồ Chớ Minh cho rằng, cỏn bộ khụng phải là người tuyên truyền, giải thích
và tổ chức cho quần chúng thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, mà phải sâu sát quần chúng, nắm bắt và phản ánh kịp thời tỡnh hỡnh đời sống, tâm tư,
nguyện vọng của nhân dân với Đảng và Nhà nước để đề ra chủ trương, chính sách phù hợp
thực tiễn khách quan, hợp lũng dõn. Người viết: “Cán bộ là những người đem chính sách của
Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rừ và thi hành. Đồng thời đem tỡnh hỡnh

năng lực xây dựng đường lối chính trị đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, đó
là vấn đề cốt tử của lónh đạo, là sinh mệnh của Đảng cầm quyền” [23, tr.127]. Bước vào thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta caứng nhấn mạnh đến vai trũ của
cỏn bộ. Nghị quyết Trung ương ba khóa VIII xác định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành

bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt
trong xây dựng Đảng” [23, tr.166]. Từ quan điểm trên, Đảng ta quan taõm laừnh ủaùo xây dựng
cho được đội ngũ cán bộ một cách đồng bộ, đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng.
Trong đó, đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cốt cán, trước hết là ở cấp chiến lược
và cấp cơ sở.
Trong đó đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó, có những vị trí hết sức quan trọng. Họ thực
sự là người thay mặt Đảng, nhà nước giải quyết công việc thường ngày cho nhân dân và
cũng là những người có quyết định trực tiếp đưa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng
và nhà nước vào địa bàn công tác. Họ là những người được bầu cử, tuyển chọn, bổ nhiệm, đề
bạt hay phân công giữ chức vụ trọng trách trong hệ thống cơ sở; được hưởng lương hoặc
chính sách đói ngộ của Đảng và Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống cơ sở. Đó
chính là những cán bộ chủ chốt ở cơ sở. Cán bộ chủ chốt cấp xó là người: có quyền ra những
quyết định về chủ trương, có trách nhiệm và quyền điều hành một tập thể, một đơn vị, một tổ
chức để thực hiện nhiệm vụ của tập thể và tổ chức ấy, thậm chí có thể chi phối, dẫn dắt toàn
bộ hoạt động của một tổ chức nhất định. Trên cơ sở ấy hiểu rằng: đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp xó là những người đứng đầu quan trọng nhất trong hệ thống của tổ chức Đảng, chính
quyền, Mặt trận tổ quốc và đoàn thể chính trị - xó hội ở xó là bộ phận quan trọng quyết định
phương hướng phát triển ở cơ sở, chịu trách nhiệm chính trong việc quán triệt các chủ
trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước và tổ chức thực hiện các
nhiệm vụ phát triển kinh tế trên địa bàn họ phụ trách. Từ chức năng và nhiệm vụ trên, cán bộ
chủ chốt cấp xó gồm các chức danh sau:
- Bí thư, phó bí thư Đảng ủy xó
- Chủ tịch, phó chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân xó
- Chủ tịch, phó chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân xó
- Chủ tịch Mặt trận tổ quốc Việt Nam xó

mối quan hệ chặc chẽ với nhân dân. Họ là người thường xuyên, trực tiếp triển khai,
hướng dẫn và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
và pháp luật Nhà nước. Trong quá trỡnh đó, họ đó tạo ra “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước
với nhõn dõn và ý ẹảng lũng dõn tạo thành một khối thống nhất, làm cho Đảng và Nhà

nước ăn sâu bám rễ trong quần chúng, tạo nên mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân
dân, trực tiếp củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Mặc
khác, qua phong traứo cách mạng của quần chúng, giúp cho cán bộ cơ sở rút kinh
nghiệm, tổng kết thực tiễn góp phần vào xây dựng và hoàn thiện đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Như vậy, đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có đi vào đời sống xó hội và trở thành hiện thực
trên địa bàn tỉnh Cà Mau hay không là tùy thuộc vào sự vận động, tuyên truyền nhân dân
thực hiện của đội ngũ cán bộ cơ sở trong tỉnh, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt. Vỡ vậy, xõy
dựng đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó ở tỉnh Cà Mau là một mắc xích góp phần thúc đẩy quá
trỡnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn cuỷa tỉnh Cà Mau.
- Đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó noựi rieõng cú vai trũ quan trọng trong việc xõy
dựng, củng cố tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị ở cơ sở. Thực tiễn chứng minh, có
lúc, có nơi hệ thống chính trị ở cơ sở mạnh, yếu và phong trào cách mạng của quần chúng
có phát triển hay không đều gắn với vai trũ của đội ngũ cán bộ ở cơ sở. Về tổ chức bộ
máy, họ là trụ cột, là trung tâm đoàn kết nội bộ, là lực lượng huy tụ lực lượng tổ chức,
sắp xếp, kiện toàn các tổ chức trong hệ thống chính trị ụỷ cụ sụỷ. Mặc khác, cán bộ cơ sở
ở Cà Mau có vai trũ quyeỏt định đến năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở ủảng;
năng lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền và mọi hoạt động của đoàn thể quần
chúng của cơ sở. Xây dựng đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó ở tỉnh Cà Mau có đầy đủ
phẩm chất, năng lực ngang tầm với nhiệm vụ mới là nhằm xây dựng, củng cố, tăng
cường vai trũ lónh đạo của Đảng; điều hành, hoạt động của Nhà nước, đoàn thể quần
chúng ở cơ sở và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ xó hội của quần chỳng nhõn dõn, gúp
phần thỳc đẩy phát triển kinh tế, xó hội của tỉnh Cà Mau.
- Xuất phaựt từ vai trũ của cơ sở và cán bộ ở cơ sở, việc xây dựng đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xó vững mạnh, có đầy đủ phẩm chất, năng lực, nhất là năng lực trong thực

Cà Mau là tỉnh tuyến đầu cực Nam tổ quốc, địa bàn rộng và phức tạp, giao thông
chủ yếu là đường thủy, cơ sở hạ tầng kinh tế yếu kém, bị thiên tai gây hậu quả nặng nề về
người và của vào cuối năm 1997 đến nay tạm thời khắc phục được một phần, đời sống
nhân dân nói chung và đội ngũ cán bộ, đảng viên gặp không ít khó khăn, gây trở ngại

nhất định đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương. Đảng bộ tỉnh Cà Mau
được chia tách từ Đảng bộ tỉnh Minh Hải và đi vào hoạt động từ ngày 01-01-1997, đội
ngũ cán bộ biến động sau khi chia tách tỉnh, song với tinh thần chỉ đạo tích cực của cấp
ủy, công tác tổ chức, cán bộ sớm ổn định và đi vào nền nếp, hoạt động có hiệu quả.
Toàn tỉnh cú 66 xó; 799 ấp, khóm; dân số gần 1,1 triệu người; có 66 đảng bộ cơ
sở, 9.656 đảng viên.Về học vấn của cỏn bộ xó: Tiểu học cơ sở chiếm 4,54%; cấp trung
học cơ sở chiếm 51,53%; cấp Phổ thông trung học chiếm 43,93%; chuyên môn nghiệp
vụ: trung cấp chiếm 10,17%; đại học, cao đẳng chiếm 4,62%; lý luận chính trị sơ cấp
chiếm 26,33%, trung cấp chiếm 25,68%; cử nhân, cao cấp chiếm 1,89%.
Hệ thống tổ chức đảng, nhà nước được sắp xếp kiện toàn, cơ cấu cán bộ bước đầu
có đổi mới, phù hợp với yêu cầu của địa phương; từng bước thực hiện trẻ hóa đội ngũ cán
bộ; trỡnh độ, năng lực, phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ được nâng lên; công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ bằng nhiều hỡnh thức (tập trung, tại chức, học từ xa, tự học
…) ngày càng được quan tâm của các cấp, các ngành. Tinh thần tích cực học tập, rèn
luyện của phần đông đội ngũ cán bộ đảng viên đó tạo những tiền đề và điều kiện thuận
lợi đối với công tác cán bộ và hỡnh thành đội ngũ cán bộ của tỉnh, đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ chính trị trong những năm tới.
Tuy nhiên công tác cán bộ nói chung và công tác quy hoạch cán bộ những năm
đầu tái lập tỉnh cũn thiếu đồng bộ, chấp vá, chưa gắn công tác quy hoạch cán bộ với việc
đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ, chính sách cỏn bộ cũn nhiều bất cập, hiệu
quả cụng tỏc quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ cũn nhiều mặt hạn
chế. Nhận thức về cụng tỏc cỏn bộ núi chung và cụng tỏc quy hoạch cỏn bộ ở một số cấp
ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng, lónh đạo sở, ban ngành tỉnh chưa thật đầy đủ, chưa coi
công tác cán bộ và công tác quy hoạch cán bộ là trách nhiệm của cấp ủy, đảng đoàn, ban
cán sự đảng.

%).
- Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó ở tỉnh Cà Mau cơ cấu không đồng bộ. Tuy tỉnh
rất quan tâm đến quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ, nữ, nhưng tỷ lệ nửừ đạt rất thấp
(nữ 120/1058, chiếm 11,34 %), vieọc bố trí, phân công không đồng đều (chủ yếu là Chủ

tịch Hội Liên hiệp phụ nữ xó); tyỷ leọ nữ tham gia làm công tác ẹảng, quản lý nhà nước
thaỏp (toàn tỉnh có 2 đồng chí là Phó Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân xaừ). Về cơ cấu độ tuổi
được các cấp uỷ đảng quan tâm, qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng và bầu cử Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân, caực ủoaứn theồ quaàn chuựng đều có định hướng về cơ cấu độ
tuổi mang tính kế thừa liên tục. Tuy nhiên, lực lượng cán bộ trẻ đến nay vẫn cũn thấp, dưới
30 tuổi chỉ chiếm 8,03 % (chủ yếu là Bí thư Đoàn thanh niên).
- Trỡnh độ của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó ở Cà Mau được nâng lên một bước
và được trưởng thành trong thực tiễn qua các phong trào cách mạng của quần chúng.
Nhưng về trỡnh độ học vấn chưa được đào tạo, bồi dưỡng một cách toàn diện, chủ yếu
tập trung đào tạo chính trị (cán bộ có trỡnh độ từ trung cấp đến cao cấp 593/1058 bằng
56,04 %); về chuyên môn nghiệp vuù chưa qua đào tạo, bồi dưỡng chiếm tỷ lệ khá cao
65,60 %; tỷ lệ được đào tạo quản lý hành chớnh và tin học, ngoại ngữ rất thấp (trỡnh độ
quản lý hành chính đạt 15,51 % và tin học, ngoại ngữ đạt 19,09 %). Từ đó, ảnh hưởng rất
lớn đến kỹ năng điều hành, quản lý thực hiện nhiệm vụ chớnh trị ở cơ sở. Đặc biệt đến năm
2000 cũn 471 cán bộ chủ chốt cú trỡnh độ văn hóa phổ thông từ tiểu học cơ sở đến trung học
cơ sở (chiếm 44,52 % so tổng số toaứn tỉnh Cà Mau). Điều đó làm cho công tác đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ này gặp nhiều khó khăn.
1.2. CHỦ TRƯƠNG, BIỆN PHÁP VÀ QUÁ TRèNH XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ CỦA ĐẢNG BỘ CÀ MAU TRONG NHỮNG NĂM
ĐẦU TÁI LẬP (1997 - 2001)
1.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Cà Mau về công tác xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp xó những năm đầu tái lập tỉnh
Đổi mới công tác cán bộ là một đũi hỏi khỏch quan
Kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của Mác và Ăngghen về Đảng của giai
cấp công nhân, V.I.Lênin đó đề ra những quan điểm quan trọng về cán bộ trong quá trỡnh

tịch Hồ Chí Minh, được thể hiện trong bốn mối quan hệ chủ yếu: cán bộ với đường lối
chính sách, cán bộ với tổ chức bộ máy, cán bộ với công việc và cán bộ với quần chúng.
Trong quan niệm của Người, cán bộ không chỉ là người vạch ra đường lối mà cũn cú vai
trũ quyết định trong việc tổ chức thực hiện đường lối. Người nói: "Cán bộ là người đem

chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thỡ
chớnh sỏch hay cũng khụng thể thực hiện được"; "Cán bộ là dây chuyền của bộ máy. Nếu
dây chuyền không tốt, không chạy thỡ động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt"
[48, tr.54].
Chủ tịch Hồ Chớ Minh cũn yờu cầu cỏn bộ phải sõu sỏt quần chỳng, nắm bắt kịp
thời và phản ỏnh tỡnh hỡnh đời sống, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân với Đảng và
Nhà nước để quyết định đường lối, chủ trương, chính sách hợp lũng dõn. Đối với cơ sở,
điều này càng đặc biệt quan trọng. Người chỉ rừ: "Sự lónh đạo trong mọi công tác thiết
thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng mà ra và trở lại nơi quần chúng" [48, tr.290 ].
Và Người kết luận: "Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém" [48,
tr.273]. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ phải là người lónh đạo, dẫn dắt quần
chúng nhân dân thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng, là người tận tụy phục vụ nhân
dân, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Trong Di chúc, Người căn
dặn toàn Đảng ta rằng: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách
mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gỡn Đảng ta trong sạch,
phải xứng đáng là người lónh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" [47,
tr.131] .
Thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ,
trong suốt hơn 70 năm lónh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn chú trọng và đặc biệt
quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với đũi hỏi của từng thời kỳ cỏch mạng, đó
chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng ta xác định phải
"có một đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực xây dựng đường lối chính trị đúng đắn và
tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, đó là vấn đề cốt tử của lónh đạo, là sinh mệnh của
Đảng cầm quyền" [23, tr.27]. Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta nhấn mạnh vai trũ của cỏn bộ trong chiến lược cán bộ thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status