LUẬN VĂN: Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ nữ từ 1986 đến 2001 potx - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh
đạo xây dựng đội ngũ cán bộ nữ từ
1986 đến 2001

Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nói đến vai trò của cán bộ, V.I.Lênin đã từng nói: Hãy cho tôi một đội ngũ
những người Bôn sê vích, tôi sẽ làm đảo lộn nước Nga. Đảng NDCM Lào luôn luôn
khẳng định: cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận
mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng.
Việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ là nhiệm vụ quan trọng trong công tác cán bộ
của Đảng và Chính phủ nước CHDCND Lào trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phụ nữ là một lực lượng xã hội rộng lớn, đóng vai trò quan
trọng trong mọi lĩnh vực xã hội, trong thực tế không có một công việc quan trọng nào của
đất nước lại không có sự tham gia của phụ nữ. Trong bối cảnh có nhiều thời cơ, thuận lợi

trong điều kiện mới, cho tới nay việc nghiên cứu vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ của
Đảng nói chung và đội ngũ cán bộ nữ đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều hình
thức khác nhau. ở Việt Nam, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, tổng kết về
công tác cán bộ dưới nhiều hình thức in sách, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, đăng tạp
chí, chẳng hạn như: Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Nguyễn Phú Trọng
và Trần Xuân Sầm đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Bùi Thị Hồng
Tiến: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt
trong hệ thống chính trị cấp cơ sở 1975-1993, luận án tiến sĩ Lịch sử, Hà Nội 1994
Ngoài ra trong những năm qua đã có một số luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng
của học viên Lào viết về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ: Đệt Ta Kon Phi La Phăn Đệt,
Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ban, ngành ở thành phố Viêng Chăn
trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Hà Nội, 2004; Khăm Phăn Phôm Ma Thặt, Công
tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt thuộc diện Trung ương quản lý
ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới, Hà Nội, 2004.
Về vai trò của cán bộ nữ và công tác cán bộ nữ cũng được nhiều người quan tâm
nghiên cứu như: Ngô Thị Ngọc Anh, Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1975-1995 trong
việc thực hiện chính sách cán bộ nữ, Luận án tiến sĩ Lịch sử, Hà Nội, 1995; Ních Khăm,
Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt Hội Liên hiệp phụ nữ ở Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào, Hà Nội, 2003. Ngoài ra, cũng có nhiều luận văn thạc sĩ như: Nguyễn Thị

Mão, Xây dựng cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ trong công cuộc đổi mới hiện nay, Hà Nội,
1996; Nguyễn Thị Kim Dung: Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo quá trình xây dựng
đội ngũ cán bộ nữ trong công cuộc đổi mới (1986-1996), Hà Nội, 2000 Ngoài ra, cũng có
nhiều người đề cập trong nhiều bài đăng trên các Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Xây dựng Đảng,
Tạp chí Khoa học về phụ nữ, Tạp chí Thông tin lý luận
Từ khi bắt đầu sự nghiệp đổi mới ở Lào đến nay hầu như mọi Nghị quyết Đại hội
Đảng, các Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương đều đề cập đến công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ nữ nói riêng. Đặc biệt là Nghị quyết 7 (khóa V)
1994 của BCHTW về phát triển nguồn lực, Nghị quyết Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất

- Phân tích thực trạng của đội ngũ cán bộ nữ trước đổi mới và đặc biệt là trong
thời kỳ đổi mới.
- Rút ra những kinh nghiệm bước đầu từ thực tiễn công tác xây dựng đội ngũ cán
bộ nữ.
- Phân tích những vấn đề đặt ra, nhiệm vụ và yêu cầu mới đối với đội ngũ cán bộ
nữ ở CHDCND Lào trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Từ mục đích và nhiệm vụ đặt ra trên đây, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề
tài là đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đối với công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ nữ từ năm 1986 đến năm 2001, tức từ thời điểm mở đầu đổi mới đến
Đại hội VII của Đảng.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
- Căn cứ vào cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời cũng dựa trên quan điểm,
đường lối, chính sách của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về công tác xây dựng đội ngũ
cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ nữ nói riêng.
- Luận văn tham khảo kết quả nghiên cứu của các đề tài nghiên cứu khoa học của
tập thể và cá nhân các nhà khoa học trong những năm qua.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc, đồng thời có
kết hợp phương pháp đối chiếu, so sánh, thống kê tổng hợp nhằm làm sáng tỏ các vấn đề
đặt ra trong luận văn.
6. Đóng góp mới về khoa học của đề tài

- Trình bày tương đối có hệ thống quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng
Nhân dân Cách mạng Lào về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán
bộ nữ nói riêng.
- Góp phần vào việc tổng kết sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng
đội ngũ cán bộ nữ từ năm 1986 đến năm 2001.

My Ka Lạt (1633-1690). Sau khi triều đại Su Li Nha Vông Sa bị suy yếu và tan rã (1690),
Vương quốc Lạn Xạng rơi vào tình trạng loạn lạc, chia cắt, mất chủ quyền, bị các thế lực
phong kiến Ava (Myanma) và Xiêm đô hộ cho tới năm 1893. Sau đó, nước Lào bị thực
dân Pháp xâm lược hơn 60 năm (1893-1954) và hơn 20 năm (1954-1975) sống dưới chế
độ thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ.
Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dưới sự lãnh đạo của
Đảng NDCM Lào, nhân dân các bộ tộc Lào nói chung và phụ nữ Lào nói riêng đã đấu
tranh chống lại hai kẻ thù lớn của dân tộc và cuối cùng đã giành được thắng lợi một cách
hòa bình và khai sinh ra nước CHDCND Lào vào ngày 2-12-1975. Từ đây trở đi, cách
mạng Lào đã bước sang giai đoạn mới là giai đoạn bảo vệ và xây dựng đất nước, hoàn
thiện chế độ dân chủ nhân dân, tạo cơ sở vững chắc để từng bước tiến lên CNXH.
Lào là một nước nằm ở phía Tây và Tây Bắc của bán đảo Đông Dương, nằm lọt
trong lục địa Đông Nam á giữa vĩ độ 24 đến 23 độ bắc và kinh độ 100 - 108 độ đông.
Diện tích là 236.800 km
2
. Lào có biên giới chung với các nước: phía Bắc giáp Trung
Quốc (416 km); Tây Bắc giáp Mianma (230 km); phía Tây giáp Vương quốc Thái Lan
1835 km; phía Nam giáp Vương quốc Campuchia (492 km); phía Đông giáp CHXHCN
Việt Nam (1957 km). Viêng Chăn là thủ đô của CHDCND Lào, có cầu Hữu Nghị qua
sông Mê Kông và sự khơi thông đường sắt đi qua các cầu này sẽ nối Lào với hệ thống
đường sắt của Thái Lan ở phía Tây và hành lang Đông Tây trong kế hoạch nối Thái Lan
qua Nam Trung Lào và Việt Nam ra các cảng nước sâu của Việt Nam ở phía Đông, sẽ là
những điều kiện để phát triển quan hệ kinh tế giữa Lào với Thái Lan và Việt Nam cũng
như các nước trong khu vực và quốc tế. Do vị trí địa lý đặc biệt của mình, CHDCND Lào
được coi như một "địa bàn trung chuyển" của Đông Nam á lục địa từ Tây sang Đông, từ
Bắc xuống Nam và ngược lại. Với vị trí này đã thúc đẩy ASEAN đẩy mạnh hợp tác với
CHDCND Lào và là điều kiện thuận lợi để CHDCND Lào đẩy nhanh quá trình hội nhập
với các nước trong khu vực và quốc tế.
Địa hình của nước Lào phần lớn là núi cao và rừng rậm chiếm khoảng 85% diện
tích lãnh thổ, độ cao trung bình là 200m đến 2.820m. Đặc tính núi đã tạo ra đặc điểm địa

nữ là 1.231.230 người, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là 1.852.686 người, chiếm
85,5%, trong đó lao động nông nghiệp nữ là 1.003.620 người, chiếm 54,17%; lao động
trong lĩnh vực thương mại có 55.930 người, trong đó nữ có 22.801 người, trong lĩnh vực
dịch vụ có 85.713 người, nữ 48.814 người [23, tr.23].

Trong những năm gần đây, tuy số người lao động trong các ngành đã bắt đầu có
sự thay đổi lớn, nhưng về mặt chất lượng, trình độ văn hóa, kỹ thuật, tay nghề còn nhiều
hạn chế. Công tác giáo dục, đào tạo chưa thành chiến lược và quan tâm đúng mức từ phía
Nhà nước, năng lực quản lý kinh doanh còn non yếu. Tất cả những cái đó, là một trong
những nguyên nhân cản trở việc mở rộng và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiếp
thu khoa học kỹ thuật hiện đại.
Nhìn lại lịch sử hàng ngàn năm, Lào là một miền đất chịu ảnh hưởng của hai nền
văn minh lớn là ấn Độ và Trung Hoa. Người Lào đã hấp thụ những phong tục và tín
ngưỡng của hai nền văn minh này, từ đó đã xây dựng một nền văn hóa đặc sắc của
riêng mình. Đó là một nền văn hóa mang sắc thái và hòa đồng giữa ba loại nguồn gốc:
Thay Lào, nguồn gốc Inđônêxia và nguồn gốc văn hóa Trung Quốc, trong đó nền văn
hóa từ gốc Thay Lào có ảnh hưởng mạnh nhất: "Cả ba loại văn hóa của dân tộc Thay
Lào, gốc Inđônêxia, gốc Trung Quốc đều có sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau và bổ
sung cho nhau, trong đó sự ảnh hưởng của nền văn hóa của dân tộc Thay Lào là sâu rộng
nhất nó đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của nền văn hóa thống nhất
quốc gia Lào" [59, tr.33].
Nhân dân các bộ tộc Lào có lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm.
Trong suốt thời kỳ đó, cơ sở tâm lý xã hội phổ biến là dựa trên đạo Phật đã phát triển, tồn
tại và được nhân dân Lào tôn kính trong suốt gần 700 năm. Trong suốt thời gian đó, Phật
giáo đã thấm sâu vào tư tưởng tình cảm và ý thức của nhân dân Lào để tạo nên một nền
văn hóa dân tộc Lào thống nhất, vừa thấm đượm tính nhân từ của đạo Phật, vừa mang sắc
thái bình yên của người Lào. Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống của người
Lào, từ nếp sống trong gia đình đến sự ứng xử xã hội và hoạt động kinh tế. Triết lý Đạo
phật khuyên con người nên sống giản dị, không nên tham lam, phải cần cù, biết tự lập,
dựa vào bản thân mình và tạo cho đời sau tốt hơn. Đức tính vốn có đó của người dân Lào

kinh tế. Thành tựu nổi bật là nền kinh tế quốc dân liên tục phát triển lành mạnh trong
những năm 1986-1990, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng trung bình 4,8%/năm và
những năm 1991 - 1995 tăng 6,4%/năm [22, tr.3], năm 1998 tăng 4% [68, tr.73], và năm
2000 kinh tế phát triển 6,2%/năm [47, tr.11]. Cùng với sự tăng trưởng của xã hội thì các
ngành kinh tế cũng đã có những phát triển tích cực. Tổng sản phẩm nông nghiệp năm

1997 tăng 4,9% và năm 1998 tăng 5,1%; tổng sản phẩm công nghiệp, năm 1997 tăng 12,3%
và năm 1998 tăng 8,9%; tổng sản phẩm dịch vụ cũng đã tăng lên năm 1997 tăng 9,8% và năm
1998 tăng 10,6% [51, tr.1], [52, tr.2]. Giá trị sản lượng quy ra thóc năm 1985 là 1.396.000 tấn
năm 1990 là 1.482.000 tấn, năm 1995 là 1.418.000 tấn và đến năm 1998 đạt được 1.675.000
tấn [69, tr.30].
Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp và dịch vụ.
"Tỷ trọng nông, lâm nghiệp trong GDP từ 61,2% năm 1990 giảm xuống 51,3% năm 2000,
công nghiệp và xây dựng từ 14,5% tăng lên 22,6; dịch vụ từ 24,3% tăng 26,1%" [23,
tr.16]. "Năm 2003 - 2004 tổng sản phẩm trong nước (GDP) là 6,5%, trong đó nông
nghiệp 3,5%; công nghiệp 11,4%; dịch vụ 7,4%; GDP/người USD bằng 403" [65, tr.2].
Qua thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và VII của Đảng NDCM Lào, tuy đất nước
vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng với sự cố gắng to lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân
các bộ tộc Lào, nền kinh tế của cả nước đã từng bước vượt qua những thách thức gay gắt
và đạt được những thành tựu lớn, có ý nghĩa quan trọng.
Trong lĩnh vực giáo dục đã có tiến triển khá về số lượng và chất lượng. Trẻ em
được vào trường mẫu giáo từ 8% trong năm 2000 lên 10% năm 2005; vào trường tiểu học
tăng từ 77,3% lên 86%; vào trường phổ thông cơ sở: 54,3% và trường phổ thông trung
học: 32,4%. Khoảng 85% số bản trong cả nước đã xây dựng được trường học. Hệ thống
trường đại học quốc gia được mở rộng thêm ở hai trung tâm: tỉnh Chăm Pa Sắc và tỉnh
Luông Pha Bang, cải cách nội dung giáo trình, phương pháp dạy và học, các trường dân
lập ra đời và hoạt động có hiệu quả.
Y tế cũng đã có bước phát triển: công tác phòng chống dịch bệnh được quan tâm,
đầu tư nâng cấp và trang bị kỹ thuật y tế trong cả nước được 8 trung tâm y tế, chăm sóc
sức khỏe, từng bước phát triển mạng lưới y tế cơ sở theo hướng đa dạng hóa loại hình,

được dùng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Theo các tác giả trên, nghĩa
gốc của từ này là chỉ những người làm việc trong bộ máy chính quyền, có vai trò như là
"bộ khung", là "nòng cốt" trong xã hội hay những người chỉ huy trong quân đội trong một
tổ chức [19, tr.18].
Theo Từ điển tiếng Việt, xuất bản năm 1999, cán bộ có hai nghĩa:

- Là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong các cơ quan nhà nước,
Đảng và đoàn thể.
- Là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt
với những người bình thường không có chức vụ.
Trong nghĩa thứ nhất, cán bộ được xem như là người làm hành chính công trong
các cơ quan nhà nước, bao gồm cả những người có chức vụ hành chính cao nhất đến
những người không có chức vụ hành chính nào, tất cả đều nằm trong bộ máy, có nghĩa vụ,
trách nhiệm trong bộ máy nhà nước và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo
ngạch lương nhất định do Nhà nước quy định. Trong trường hợp này cán bộ được đồng
nhất với công chức.
Theo nghĩa thứ hai, cán bộ được coi như là người có chức vụ và trách nhiệm cao
hơn trong bộ máy tổ chức. Điều này phản ánh nghĩa gốc của từ cán bộ, bởi vì chính
những người có chức vụ, trách nhiệm cao mới có vai trò là "nòng cốt", là "người chỉ huy"
và đây chính là một góc độ trong cách hiểu thông thường.
Nhưng trên thực tế cả hai nghĩa đó luôn quyện vào nhau và từ cán bộ không chỉ
là đối tượng là các công chức nhà nước mà là toàn bộ những người làm việc trong hệ
thống chính trị.
Trước đây, trong chiến tranh, "cán bộ được coi là tất cả những người thoát ly, làm việc
trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, quân đội" [19, tr.18]. Hiện nay, mặc dù hoàn
cảnh thực tế khác đi và trong nhận thức của con người cũng có nhiều đổi thay, nhưng
trong cách hiểu thông thường nhất, từ "cán bộ", trước hết vẫn để phân biệt những người
làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị nằm trong
biên chế, của Nhà nước và hưởng lương từ ngân sách.
Trong Pháp lệnh cán bộ, công chức Việt Nam năm 1998 đã xác định đối tượng là

hoạch, về hệ thống tức là những mắc phải những bệnh mà những "nhà trí
thức" tự phụ một cách lố lăng, hoặc những "người cộng sản" non nớt vẫn
thường mắc phải, số người như thế đã có nhiều hơn con số mà chúng ta đã
biết, nhưng chúng ta chưa chăm sóc đúng mức những mầm mống đó của cái
mới [6, tr.28- 29].
Chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin, với học thuyết cách mạng và khoa học, đứng trên
quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mới tìm ra nguyên
nhân đích thực của sự bất bình đẳng nam nữ, thấy được lực lượng và điều kiện cụ thể cùng

với những biện pháp hiệu quả để giải phóng phụ nữ. Mỗi bước chuyển của lịch sử xây dựng,
mỗi nấc thang tiến bộ của nhân loại đều in đậm công lao của phụ nữ, cuộc đấu tranh cho sự
bình đẳng của xã hội, vì sự phát triển của nhân loại. C.Mác lấy mức độ giải phóng phụ nữ để
làm một trong những tiêu chuẩn để đánh giá trình độ văn minh của nhân loại, như Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã dẫn trong bài Phụ nữ quốc tế: "xem tư tưởng và việc làm của đàn bà, con
gái thì biết xã hội tiến bộ như thế nào" [13, tr.288].
Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học cũng đã chỉ ra điều kiện, biện
pháp để giải phóng phụ nữ. Xuất phát từ tình trạng bất bình đẳng quyền lợi về kinh tế,
Ăngghen đã khẳng định: "Sự nghiệp giải phóng phụ nữ, quyền bình đẳng giữa nam và nữ
đều không thể có được và mãi mãi không thể có được, chừng nào mà phụ nữ vẫn bị gạt ra
ngoài lao động sản xuất xã hội và còn phải bị bó hẹp trong công việc riêng tư của gia
đình" [8, tr.506].
Lênin, người học trò xuất sắc của Mác - Ăngghen, đã kế tục và phát triển những
quan điểm cách mạng của Mác - Ăngghen về vai trò của phụ nữ trong điều kiện giai cấp
vô sản đã có chính quyền. Người đã viết nhiều, nói nhiều về phụ nữ và đã thực hành giải
phóng phụ nữ ngay trên đất nước Nga Xô viết. Lênin đã vạch ra bản chất của chủ nghĩa
tư bản trong giai đoạn tột cùng của nó là đã chứa đựng biết bao hiện tượng nghèo nàn, bị
bóc lột và bị áp bức. Chế độ tư bản giống các chế độ nông nô là ở chỗ đều là kẻ bóc lột,
mặc dầu hình thức bóc lột có khác nhau. Trong tất cả các nước văn minh, ngay cả những
nước tiên tiến nhất, phụ nữ vẫn ở vào địa vị mà người ta gọi đúng là nô lệ gia đình.
Sau Cách mạng Tháng Mười Nga thành công (1917), chính quyền Xô viết được

phụ nữ sẽ học tập nhanh chóng và đuổi kịp nam giới.
Học thuyết Mác - Lênin là học thuyết khoa học và cách mạng đã chỉ ra nguyên
nhân kinh tế của bất bình đẳng nam nữ mà biểu hiện đầu tiên là sự phân biệt đối xử giữa
đàn ông với đàn bà; từ đó lên án, phê phán quan điểm phong kiến và tư sản đối với phụ
nữ. Đồng thời, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định sự nghiệp giải phóng phụ nữ là một
quá trình gắn liền với thắng lợi của CNXH và CNCS. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác - Lênin chỉ ra những điều kiện để giải phóng phụ nữ:
Một là, sự phát triển của nền đại công nghiệp hiện đại cùng với sự nghiệp cách
mạng giải phóng giai cấp công nhân.
Hai là, đưa phụ nữ tham gia lao động sản xuất, có khả năng độc lập về kinh tế, có
đóng góp về kinh tế chung trong gia đình và xã hội.

Ba là, phụ nữ biết làm việc nước, tham gia các hoạt động xã hội và trực tiếp tham
gia quản lý nhà nước.
1.2.1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và xây dựng đội ngũ cán
bộ nữ
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin về vấn đề phụ nữ và cán bộ nữ. Người đã đánh giá đúng vai trò và khả
năng của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Phụ nữ là những người vợ, người mẹ,
người thầy đầu tiên trong gia đình và nuôi dậy những mầm non của đất nước. Ngoài ra,
phụ nữ còn có khả năng và trên thực tế đã trực tiếp đóng góp nhiều công sức xây dựng và
bảo vệ đất nước.
Địa vị kinh tế, chính trị, xã hội quy định quyền bình đẳng của phụ nữ. Vì vậy,
điều căn bản có ý nghĩa quyết định cho sự bình đẳng của phụ nữ là phải giải phóng sức
lao động của phụ nữ, tạo điều kiện để chị em tham gia lao động sản xuất, quản lý kinh tế,
tham gia công tác xã hội cùng với nam giới. Người nghiêm khắc phê bình thái độ thành
kiến, hẹp hòi của cán bộ lãnh đạo các cấp trong việc đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng
cán bộ nữ. Tại Hội nghị cán bộ cao cấp Trung ương năm 1966, Người căn dặn: "Đặc biệt
phải chú ý cất nhắc cán bộ phụ nữ vào các cơ quan lãnh đạo, nhất là các ngành hoạt động
thích hợp với phụ nữ" [12, tr.21]. Người cho rằng phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý

bộ nữ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng vào khả năng to lớn của phụ nữ, mạnh dạn cất
nhắc và đề bạt cán bộ nữ, bởi vì Người nhận thấy cán bộ nữ có nhiều ưu điểm là "ít mắc
bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí, không hay chè chén như một số cán bộ nam" [11,
tr.165], đồng thời Người cũng chỉ ra những khuyết điểm của chị em cần khắc phục đó là
hay có thái độ tự ti, ỷ lại, ngại đấu tranh phê và tự phê bình. Người khuyên chị em phải tự
lực tự cường vươn lên, bản thân chị em phải cố gắng tranh thủ thời gian để học tập chính
trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật, cần kiệm xây dựng gia đình và làm tốt các công việc
được giao. Chỉ có như vậy Đảng và Chính phủ mới sẵn sàng cất nhắc và giao cho những
nhiệm vụ quan trọng.
Đây là quan điểm đúng trong việc sử dụng bố trí cán bộ nữ của Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Người coi trọng việc phát huy ưu điểm của cán bộ nữ, những ưu điểm đó xuất phát
từ đặc điểm tâm lý, bản chất tốt đẹp của phụ nữ là cẩn thận, chu đáo, tiết kiệm trong tiêu

dùng và có quan điểm quần chúng, gần gũi và hòa mình với phong trào quần chúng Bố
trí cán bộ nữ vào những vị trí, chức vụ phù hợp với khả năng thì chị em phụ nữ có điều
kiện để phát huy và phát triển hết năng lực của mình.
Người luôn luôn gắn liền đội ngũ cán bộ nữ với phong trào phụ nữ. Người sớm
xác định giải phóng phụ nữ, giành quyền bình đẳng cho phụ nữ là một mục tiêu của cách
mạng. Trong sự nghiệp cách mạng xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ yêu cầu của
nhiệm vụ cách mạng là phải động viên thu hút được toàn bộ lực lượng và tất cả các tầng
lớp nhân dân trong xã hội cùng tham gia góp sức thì cách mạng mới thắng lợi được. Bởi
vì, cách mạng XHCN là cuộc cách mạng hoàn toàn mới, khác hẳn về chất so với các cuộc
cách mạng trước nó. Mục đích là xóa bỏ hoàn toàn và triệt để mọi áp bức bóc lột, do đó
càng phải thu hút lực lượng phụ nữ. Đây là tư tưởng vừa thể hiện sự kế thừa, vừa phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng
XHCN. Đồng thời, còn thể hiện quan điểm nhân đạo và quan điểm kinh tế - xã hội đối
với sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ xuất phát từ tinh thần nhân đạo
cộng sản chủ nghĩa mà còn xuất phát từ một niềm tin vững chắc vào tinh thần yêu nước

đến năm 2001. Đảng đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó bài học về
cán bộ và công tác cán bộ của Đảng là bài học rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đến
sự thành công hay thất bại của việc hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Lào trong quá trình của cách mạng, đồng thời
nó luôn luôn mang tính thời sự nóng hổi về cả phương diện lý luận và thực tiễn. Trong đó,
công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nữ là một nội dung không thể tách rời trong công tác
cán bộ của Đảng và yêu cầu của sự nghiệp giải phóng phụ nữ, cũng như phát triển phong
trào phụ nữ. Đại hội IV của Đảng NDCM Lào là Đại hội mở đầu công cuộc đổi mới đất
nước đã khẳng định:
Cùng với sự chuyển biến của cách mạng từ một xã hội thuộc địa, nửa
phong kiến sang xây dựng một chế độ xã hội mới, phụ nữ nước ta đã được giải
phóng khỏi ách áp bức, bóc lột. Nhưng vì tàn dư của xã hội cũ, như phong tục,
tập quán lạc hậu còn rất nặng nề trong đời sống xã hội ta, nên việc giải phóng
phụ nữ một cách triệt để, thực hiện nam nữ bình đẳng còn là vấn đề cần được
tiếp tục giải quyết, trong đó Hội Phụ nữ đóng vai trò quan trọng, có nhiệm vụ

giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ, vận động, tổ chức, tập hợp các tầng
lớp phụ nữ phát huy những truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Lào, khắc phục tư
tưởng tự ty, ỷ lại, tính thụ động trong phấn đấu vươn lên của phụ nữ, làm cho
họ tích cực tham gia vào các phong trào thi đua từ việc xây dựng gia đình văn
hóa mới đến việc tham gia quản lý kinh tế - xã hội [2, tr.142].
Những quan điểm chủ đạo mang tính bao trùm đã thể hiện tính cấp bách và là
vấn đề sống còn của công tác cán bộ trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Tính cấp bách
của cán bộ và công tác cán bộ không chỉ xuất phát từ bản chất lý luận mà còn xuất phát
từ đòi hỏi thực tiễn lịch sử của cách mạng Lào hiện nay, từ ngay bản thân công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ nữ thời gian qua với những đặc điểm vốn có của nó.
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
công tác cán bộ nữ, ngay từ khi ra đời đến nay, Đảng NDCM Lào luôn coi công tác cán
bộ nói chung và công tác cán bộ nữ nói riêng là một trong những vấn đề có tầm quan
trọng chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của mình. Đảng đã từng bước xây

tương lai, đảm bảo đưa đất nước tiến bước sang thời kỳ mới. Đảng NDCM Lào, qua học
tập và đúc kết kinh nghiệm lãnh đạo từ nhiều năm nay Đảng coi công tác cán bộ nói
chung và công tác cán bộ nữ nói riêng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Từ sau Đại hội
IV và V của Đảng NDCM Lào đã có sự thay đổi về công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ,
nhất là từ sau Nghị quyết 5 (khóa IV) và Nghị quyết 7 (khóa V).
Trong Hội nghị Tổ chức cán bộ toàn quốc lần thứ 7 (17/12/1991), Chủ tịch Cay
sỏn Phôm Vi Hản đã nói:
Cán bộ có vai trò quyết định sự thành bại của đường lối. Để đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp đổi mới toàn diện và sâu sắc của cách mạng nó đòi hỏi phải
xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ chính trị, vừa vững chắc và
đồng bộ, có tính kế tục và đảm bảo về mặt số lượng cũng như chất lượng. Phải
nhanh chóng lập quy hoạch đào tạo cán bộ từ yêu cầu thực tiễn của các lĩnh
vực, bắt đầu từ trình độ nhận thức khả năng của từng loại cán bộ. Chú trọng
bồi dưỡng đào tạo cán bộ cơ sở vùng sâu, vùng xa, cán bộ dân tộc thiểu số và
cán bộ nữ [33, tr.112,116,117,118].
Trong giai đoạn hiện nay của công cuộc đổi mới toàn diện, một vấn đề đặt ra là
phải thực hiện hàng loạt biện pháp, giải pháp lớn, gắn với việc đổi mới một bước về tổ
chức, gắn quá trình đổi mới về kinh tế với đổi mới về tổ chức và phân công lao động,
chỉnh đốn và đổi mới công tác tổ chức cán bộ cần phải có đội ngũ cán bộ vững vàng về

chính trị, có phẩm chất đạo đức tốt, chuyên môn giỏi, có đủ năng lực trí tuệ và thực tiễn,
biết khai thác tiềm năng thế mạnh của đất nước cũng như những phẩm chất năng lực và
truyền thống tốt đẹp của phụ nữ, biết khơi dậy và phát triển nguồn lực nội sinh, quán triệt
các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vận dụng vào
điều kiện cụ thể của đất nước một cách chủ động sáng tạo, đề ra chủ trương sát hợp, tổ
chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội, công tác xây dựng Đảng, xây dựng
đoàn thể quần chúng nhân dân, đưa các chủ trương, chính sách, các nghị quyết của Đảng
và Nhà nước vào hiện thực cuộc sống. Đây là một công việc cần phải quan tâm hàng đầu,
để xây dựng được đội ngũ cán bộ có đầy đủ những tiêu chuẩn đã nêu trên.
Thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng NDCM Lào luôn luôn nhấn mạnh:

của chúng ta phải đảm bảo cho việc củng cố tổ chức của Đảng, của Nhà nước
và các tổ chức quần chúng [54, tr.16-17].
Đảng NDCM Lào luôn khẳng định rằng cán bộ có vai trò quyết định sự thành bại
của đường lối. Do đó, ngay từ đầu Đảng coi trọng công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ:
Trong những năm trước mắt chúng ta phải tập trung nâng cao chất lượng
và khả năng của cán bộ theo kịp đòi hỏi của nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn
mới, vừa đủ về số lượng đáp ứng yêu cầu của cấp cơ sở. Vì vậy, chúng ta phải
nhanh chóng lập quy hoạch đào tạo cán bộ dài hạn và ngắn hạn. Quan điểm của
Đảng ta về bồi dưỡng và đào tạo cán bộ là kết hợp nhuần nhuyễn giữa bồi dưỡng
nâng cao trình độ với việc đào tạo; giữa giáo dục quan điểm lập trường giai cấp
và đạo đức cách mạng với việc trang bị kiến thức mới về mặt chuyên môn và
kiến thức chung; kết hợp giữa người cũ và người mới; với nhiều độ tuổi khác
nhau, đảm bảo tính kế thừa liên tục; tiến hành bồi dưỡng và đào tạo các loại cán
bộ một cách đồng bộ như cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý nhà nước, quản lý kinh
tế - xã hội, cán bộ làm công tác ngoại giao, nhà chuyên gia về các mặt và cán bộ
kinh doanh, coi trọng một cách thích hợp cán bộ từ cơ sở, cán bộ dân tộc thiểu số
và cán bộ nữ gắn liền với yêu cầu của từng chức danh [46, tr.61-62].
Đảng NDCM Lào nhấn mạnh: Hội Liên hiệp phụ nữ "có nhiệm vụ giáo dục nâng
cao trình độ và tăng cường khả năng phát triển về mọi mặt cho phụ nữ, để phát huy vai
trò của phụ nữ trong xã hội và chủ động thực hiện quyền bình đẳng nam nữ; đồng thời
cũng ra sức phát huy vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em"
[46, tr.54].

Trong việc đào tạo - bồi dưỡng cán bộ phải coi trọng đào tạo, bồi dưỡng về chính
trị - tư tưởng, bồi dưỡng lý luận Mác - Lênin, lý tưởng cách mạng, tinh thần yêu nước,
tinh thần tự lực cánh sinh, truyền thống đấu tranh anh dũng của nhân dân các bộ tộc Lào
trong các thời kỳ, các giai đoạn lịch sử gắn liền với truyền thống đấu tranh thắng lợi và
sự chỉ đạo lãnh đạo toàn dân của Đảng là khâu quan trọng nhất. Việc giáo dục đó phải
làm liên tục, có hệ thống làm thường xuyên và phải gắn liền với việc giải quyết vấn đề
thực tiễn đặt ra trong công tác cán bộ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status